Sử dụng phương tiện trực quan trong việc dạy ngữ văn 11 (bộ cơ bản)

  • Số trang: 77 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 57 |
  • Lượt tải: 1
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA SƯ PHẠM BỘ MÔN SƯ PHẠM NGỮ VĂN ****** QUÁCH MỘNG TUYỀN SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN TRỰC QUAN TRONG VIỆC DẠY NGỮ VĂN 11 (BỘ CƠ BẢN) Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Sư phạm Ngữ Văn Giáo viên hướng dẫn: TRẦN NGUYÊN HƯƠNG THẢO Cần Thơ, tháng 5 năm 2011 ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT A. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 2. Lịch sử vấn đề 3. Mục đích nghiên cứu 4. Phạm vi của đề tài 5. Phương pháp nghiên cứu B. PHẦN NỘI DUNG CHÍNH Chương 1: Một số vấn đề sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học Ngữ Văn ở trường Trung học phổ thông 1.1. Khái niệm phương tiện trực quan 1.2. Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học Ngữ văn 1.2.1. Ý nghĩa của việc sử dụng phương tiện trực quan 1.2.2. Các loại phương tiện trực quan: 1.2.2.1. Tranh ảnh, vật thật 1.2.2.2. Biểu bảng, sơ đồ 1.2.2.3. Kịch 1.2.2.4. Các thiết bị hỗ trợ: băng, đĩa, máy chiếu, phim ảnh 1.2.3 Phương pháp sử dụng 1.2.3.1. Nguyên tắc 1.2.3.2. Yêu cầu cơ bản 1.2.3.3. Phương pháp 1.2.3.4. Vai trò Chương 2: Sử dụng phương tiện trực quan để giảng dạy một số bài trong Sách giáo khoa Ngữ Văn 11 (Bộ cơ bản) 1.Sử dụng phương tiện trực quan để giảng dạy một số bài học Đọc - hiểu 1.1. Bài: Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân 1.2. Bài: Câu cá mùa thu - Nguyễn Khuyến 1.3. Bài: Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ) - Vũ Trọng Phụng 1.4. Bài: Tình yêu và thù hận (trích Rô-mê-ô và Giu-li-ét) - U. Sếch-xpia 1.5. Bài: Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử 1.6. Bài: Tôi yêu em – Puskin 1.7. Bài: Về luân lí xã hội nước ta - Phan Châu Trinh 1.8. Bài: Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác - Ăng-ghen 2. Sử dụng phương tiện trực quan để giảng dạy một số bài học Tiếng Việt 2.1. Bài: Ngữ cảnh 2.2. Bài: Phong cách ngôn ngữ báo chí 2.3. Bài: Đặc điểm loại hình tiếng Việt 2.4. Bài: Phong cách ngôn ngữ chính luận 2.5. Bài: Phong cách ngôn ngữ chính luận (tiếp theo) 3. Sử dụng phương tiện trực quan để giảng dạy một số bài học Làm văn 3.1. Bài: Bản tin 3.2. Bài: Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn 3.3. Bài: Tóm tắt văn bản nghị luận 3.4. Bài: Thao tác lập luận bình luận C. PHẦN KẾT LUẬN A. PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người luôn mong muốn tiếp nhận tri thức một cách nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả. Đã từ lâu, giáo dục được xem là chiến lược hàng đầu của mỗi quốc gia và đầu tư cho giáo dục là đầu tư có lãi nhất. Nhưng để làm được điều đó đòi hỏi ngành giáo dục và người giáo viên phải thường xuyên cập nhật thông tin để tìm ra nội dung và phương pháp giảng dạy cho phù hợp với thời đại. Trước xu hướng học sinh chán nản khi học các môn xã hội nhất là môn Ngữ văn, các em cho rằng giờ học Ngữ văn không vui, không hấp dẫn, vào lớp chỉ được nghe giảng, rồi đọc chép, hay có ý kiến lại cho rằng học Văn cơ hội tìm việc làm cũng như nghề nghiệp rất ít… Trong khi Văn học là nguồn tri thức vô giá về vốn sống, về con người, về cuộc đời; văn học còn là nền tảng cho sự phát triển trí tuệ và tâm hồn con người. Làm sao để khơi gợi sự thích thú cho học sinh? Làm sao để mỗi tác phẩm văn học đến gần và làm rung động được tâm hồn, cũng như tâm tư tình cảm sâu lắng trong học sinh? Chính vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học Ngữ Văn lớp 11 với mong muốn giúp học sinh dễ nắm bắt được kiến thức và tạo được hứng thú trong những giờ học Văn ở trường phổ thông hiện nay. 2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ Hiện nay, các phương pháp dạy học được sử dụng rất phổ biến như: phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm thoại, phương pháp thảo luận,… và phương pháp trực quan là một trong những phương pháp nhằm phát huy tính tích cực, sự hứng thú trong học tập của học sinh. Thực tế, phương pháp trực quan có rất nhiều tài liệu và công trình nghiên cứu như: - Trong quyển “Vấn đề trực quan trong dạy học”, Phan Trọng Ngọ (Chủ biên) có đề cập đến cơ sở triết học hình thành tính trực quan trong dạy học: từ trực quan trong triết học cổ đại đến trực quan trong triết học siêu hình thế kỉ XVII - XVIII, từ triết học biện chứng duy tâm Đức thế kỉ XIX rồi đến tính trực quan trong triết học duy vật. Các vấn đề được trình bày một cách hệ thống và theo quan điểm lịch sử cho nên đây là nền tảng vững chắc để thực hiện trực quan trong dạy học. - Trong quyển “Giáo dục học” của T.A .Ilina (Hoàng Hạnh dịch), NXB GD 1978, gồm 3 tập. Tập I: Những nguyên lý chung của giáo dục học Tập II: Lý luận dạy học Tập III: Những cơ sở của công tác giáo dục. Trong đó tập II chú trọng nhiều về bản chất của quá trình dạy học, các nguyên tắc dạy học. Ở nguyên tắc dạy học tác giả đã khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học và xem đó là một trong những nguyên tắc cơ bản của Lý luận dạy học. Đồng thời, nguyên tắc trực quan này góp phần đi vào thực tiễn giáo dục trong nhà trường Xô Viết trước đây. - Trong quyển “Giáo dục học” của Phạm Viết Vượng, NXB ĐHQG Hà Nội, tác giả đã xem dạy học trực quan thuộc nhóm các phương pháp dạy học hiện hành. Việc sử dụng trực quan trong dạy học được xem xét và đánh giá dưới góc độ một phương pháp dạy học cụ thể và có tính độc lập với các phương pháp khác “nhóm các phương pháp dạy học trực quan là nhóm các phương pháp huy động giác quan của học sinh tham gia vào quá trình nhận thức, làm cho việc tiếp thu kiến thức trở nên dễ dàng và sự ghi nhận kiến thức trở nên bền vững và chính xác hơn”. [12,tr.99] Nhóm phương pháp trực quan bao gồm: phương pháp minh họa, phương pháp biểu diễn và nhóm phương pháp thực hành. Ngoài ra, tác giả còn nhấn mạnh để đạt hiệu quả cao trong dạy học nên kết hợp các phương pháp dạy học khác nhau. - Trong quyển “Những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại” của Thái Duy Tuyên, NXB GD - 1999, tác giả có đề cập đến các phương pháp dạy học đã và đang được sử dụng trong nhà trường hiện nay. Qua đó, tác giả khẳng định “các tài liệu trực quan chẳng những cung cấp cho học sinh những kiến thức bền vững chính xác mà còn giúp học sinh kiểm tra lại tính đúng đắn của lý thuyết” [11,tr.239]. - Trong giáo trình “Giáo dục học” (Khoa sư phạm- Đại học Cần Thơ) về nội dung có giới thiệu khái niệm phương pháp dạy học trực quan, nêu lên phương pháp trực quan bao gồm phương pháp quan sát và phương pháp trình bày trực quan. Trong phần phương pháp trình bày trực quan thì có đề cập đến những phương tiện trực quan như: vật thật, vật tượng trưng, vật tạo hình, thí nghiệm, các phương tiện kĩ thuật. Thêm vào đó, giáo trình còn nêu một số ưu và nhược điểm chung của những phương tiện này. - Trong quyển “Những cơ sở lý luận dạy học”, giáo sư B.P. Êxipôp có nói đến sự đa dạng của các phương pháp, sự lựa chọn các phương pháp của giáo viên. Khi đề cập đến phương pháp trực quan, tác giả có đề cập đến một số hình thức trực quan như: nghe, nhìn bằng tranh ảnh, phim, các thí nghiệm… và vai trò cùng cách tổ chức học với các hình thức trực quan đó. Tuy nhiên, ông chưa đi vào phân tích việc vận dụng phương pháp ở một môn học cụ thể nào mà chỉ nói chung trong quá trình dạy học. - Trong quyển “Phương tiện kĩ thuật và đồ dùng dạy học”, Nguyễn Cương đã nêu lên ý nghĩa và vai trò của phương tiện khoa học kĩ thuật trong dạy học. Đặc biệt tác giả chú ý đến thiết bị máy chiếu, máy ghi âm... hướng dẫn kỹ về cấu tạo, cách sử dụng máy cũng như những ưu và nhược điểm khi sử dụng những phương tiện này. - Trong quyển “Phương tiện dạy học” của Tô Xuân Giáp, NXB GD - 1998, nội dung nghiên cứu khá rộng về các phương tiện dạy học. Từ đó, ta có thể chọn lọc phù hợp với tính trực quan trong dạy học Văn. - Trong giáo trình “Lý luận dạy học Ngữ văn” của các tác giả Nguyễn Minh Chính, Nguyễn Thị Hồng Nam (Khoa sư phạm - Đại học Cần thơ) nội dung có nói đến những vấn đề Lý luận dạy học và các phương pháp dạy học Ngữ văn. Các tác giả đi sâu vào Lý luận dạy học đặc trưng của bộ môn Ngữ văn trên nền tảng Lý luận dạy học chung. Bên cạnh đó, các tác giả đã làm rõ vai trò của việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học Ngữ văn bằng những dẫn chứng khoa học, cụ thể. - Ở tạp chí giáo dục số 54 (3/ 2003) với bài “Phân loại và sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học” của tác giả Lê Tràng Định, nội dung đề cập đến nhiều xu hướng phân loại phương tiện trực quan khác nhau. Trong đó, tác giả đề xuất một cách phân loại dựa vào tiêu chí chức năng của phương tiện trực quan trong một hoạt động dạy học cụ thể “phương tiện trực quan cần được xem xét phân loại với hoạt động học tập cụ thể của học sinh. Căn cứ vào mục đích và chức năng của phương tiện trực quan trong dạy học ta có các phương tiện trực quan khác nhau, sử dụng khác nhau, dù trong cuộc sống chúng là một”. Đây là một quan điểm mới trong cách sử dụng và phân loại phương tiện trực quan. Nhìn chung, những công trình nghiên cứu mới đề cập đến những vấn đề lý thuyết chưa đi vào từng bài cụ thể để giảng dạy môn Ngữ văn. Cho nên, người viết sẽ cố gắng vận dụng kiến thức để xây dựng phương tiện trực quan đạt hiệu quả trong dạy học Ngữ văn. 3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU - Mục đích: Hiểu biết phương pháp trực quan, từ đó vận dụng thiết kế phương tiện trực quan trong dạy học Ngữ Văn lớp 11. - Yêu cầu: Nắm lý thuyết về phương pháp trực quan, khái niệm, hình thức, cách sử dụng, ý nghĩa, vai trò,… để vận dụng thiết kế bài dạy cho phù hợp. 4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Nghiên cứu phương pháp trực quan, phương tiện trực quan để vận dụng vào thiết kế bài dạy trong Sách giáo khoa Ngữ Văn 11, Bộ cơ bản. 5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Để thực hiện đề tài, người viết đã sử dụng các phương pháp sau: - Phân tích nội dung các bài học. - Thu thập, tìm tài liệu, phân tích, so sánh giữa các tài liệu tìm được. - Nghiên cứu sách giáo khoa kết hợp với tài liệu để tìm ra những vấn đề phù hợp với yêu cầu đặt ra. - Thiết kế một số phương tiện trực quan cho bài dạy. B. PHẦN NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1. KHÁI NIỆM PHƯƠNG TIỆN TRỰC QUAN Trong mọi hoạt động nhận thức của con người thì quá trình lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Ở đây, sự trực quan được hiểu một cách rộng rãi là sự tiếp xúc của con người với các sự vật và hiện tượng ở thế giới bên ngoài nhờ vào các giác quan như thị giác, thính giác, khứu giác lẫn vị giác. Trong dạy học cũng vậy, sự nhận thức học tập của học sinh cũng đòi hỏi tính trực quan sinh động. Thực tế cho thấy, những năm gần đây các nhà giáo dục không ngừng sử dụng phương tiện trực quan tạo hứng thú cho học sinh khi đến trường, đến lớp. Phương tiện trực quan được biết đến như một tập hợp những đối tượng vật chất, thiết bị kỹ thuật được giáo viên sử dụng để hướng dẫn học sinh quan sát sự vật, hiện tượng hay hình ảnh của chúng để trên cơ sở đó mà hình thành khái niệm. Ngày nay, phương tiện trực quan trong quá trình dạy học rất đa dạng và hiện đại đã tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên ứng dụng nó vào giờ lên lớp của mình. Bên cạnh đó, phương tiện trực quan cũng đòi hỏi giáo viên sử dụng phải đúng lúc, kịp thời để đạt hiệu quả cao nhất. 1.2. SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN Ngữ văn là một trong những môn học chủ yếu sử dụng ngôn từ làm chất liệu xây dựng hình tượng nghệ thuật nên việc sử dụng phương tiện trực quan có phần gặp khó khăn so với các môn khoa học tự nhiên. Vì vậy, giáo viên khi sử dụng phương tiện trực quan không nên quá lạm dụng mà phải phát huy trí tưởng tượng của người học. Để việc sử dụng phương tiện trực quan có hiệu quả trong dạy học Văn, giáo viên có thể minh họa một số hình ảnh lạ. Ví dụ khi dạy bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu, giáo viên cho các em xem con cúi hoặc trong bài Đây mùa thu tới của Xuân Diệu có thể cho các em xem hình ảnh cây liễu. Hay bài Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi thì cho các em xem hình ảnh hoa thạch lựu, cây hòe,… có nhiều thứ xa lạ với học sinh nên các em rất tò mò thích thú khi được khám phá. Điều đó, kích thích ở học sinh sự quan sát, lắng nghe và nhớ lâu. Ngoài ra, khi sử dụng những biểu bảng, sơ đồ điền khuyết đã tác động đến năng lực tư duy, sự nhanh nhẹn và tinh thần học tập ở các em. Khi sử dụng phương tiện trực quan điều lưu ý là không phải chỉ để minh họa vô ích mà nó phải liên quan đến kiến thức trọng tâm của bài dạy tránh để đi xa bài, lan man tốn thời gian cho tiết dạy. Nhìn chung, khi dùng phương tiện trực quan giáo viên cần cân nhắc kĩ, đảm bảo phù hợp với nội dung bài học, đúng lúc, kịp thời và phát huy được năng lực học tập ở học sinh. 1.2.1. Ý nghĩa của việc sử dụng phương tiện trực quan Trong dạy học Văn, phương tiện trực quan góp phần quan trọng tạo biểu tượng giúp học sinh cụ thể hóa các sự vật, hiện tượng, các đối tượng xa lạ . Phương tiện trực quan không dừng lại ở lĩnh vực nhận thức cảm tính, quan sát mà còn hướng tới lĩnh vực tư duy nhằm phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh. Phương tiện trực quan là chỗ dựa để học sinh hiểu biết sâu sắc các vấn đề xã hội, con người, giá trị của các tác phẩm văn chương. Giáo viên sử dụng phương tiện trực quan giúp học sinh nhớ kĩ, hiểu sâu hơn. Hình ảnh được lưu lại lâu dài trong trí nhớ, tạo không khí lớp học thêm sinh động. Phương tiện trực quan rèn luyện khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy ngôn ngữ của học sinh. Phương tiện trực quan còn hình thành và bồi dưỡng cảm xúc thẩm mỹ trong học sinh. 1.2.2. Phân loại phương tiện trực quan trong dạy học Ngữ văn Hiện nay, các phương tiện trực quan trong dạy học rất phong phú và đa dạng. Vì vậy, sự phân chia sẽ tạo thuận lợi cho việc sử dụng có hiệu quả hơn. Trước đây, việc phân loại phương tiện trực quan có nhiều quan niệm khác nhau trong đó các tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt có đề cập đến phương tiện trực quan gồm : các vật thật, các vật tượng trưng, các vật tạo hình, thí nghiệm,…(Giáo dục học, NXBGD - 1987) Ngày nay, với công nghệ tiên tiến thì việc phân loại các thiết bị kỹ thuật hiện đại dùng làm phương tiện trực quan cũng có rất nhiều quan điểm. Nhìn chung, các tác giả gọi tên chúng như tên gọi của chúng trong kỹ thuật và trong đời sống: phương tiện nghe, nhìn, nghe – nhìn,… Tính chất phong phú, đa dạng của các phương tiện trực quan đã phần nào dẫn đến sự phức tạp, khó khăn khi phân loại. Tuy vậy, chúng ta có thể dựa vào đặc trưng riêng của từng môn học, dựa vào từng yêu cầu cụ thể trong việc sử dụng phương tiện trực quan mà đưa ra cách phân loại phù hợp. Ở đây, chúng ta phân loại dựa trên đặc trưng môn Ngữ văn, môn học chủ yếu tác động vào học sinh bằng các yếu tố ngôn từ. Dựa vào đặc trưng này, ta có thể phân loại phương tiện trực quan như sau: - Tranh ảnh, vật thật - Biểu bảng, mô hình - Kịch - Các thiết bị hỗ trợ: băng, đĩa, máy chiếu, phim ảnh… 1.2.2.1. Tranh ảnh, vật thật Văn chương là nghệ thuật ngôn từ, toàn bộ thế giới nghệ thuật không hiện lên một cách trực tiếp như trong phim ảnh mà hiện lên gián tiếp qua ngôn từ nên để hiểu tác phẩm người đọc phải có khả năng liên tưởng, tưởng tượng. Để giúp học sinh vượt qua những khó khăn khi tiếp nhận văn học, giáo viên nên sử dụng tranh ảnh, hiện vật trong giờ giảng văn. Chẳng hạn như để có thể cảm nhận được vẻ đẹp tang tóc của mùa thu trong câu thơ: “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng” (Đây mùa thu tới – Xuân Diệu) Giáo viên có thể cho học sinh xem bức ảnh rặng liễu, từ đó người tiếp nhận sẽ hình dung được vẻ mềm mại thướt tha của cây liễu mà hướng đến nội dung của bài thơ một cách rõ ràng hơn không còn mơ hồ không biết cây liễu là loại cây như thế nào? Tại sao được tác giả miêu tả như vậy? Những thắc mắc sẽ được giải thích nhanh chóng. Hay khi dạy bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử giáo viên có thể cho học sinh xem bức ảnh thôn Vĩ. Học sinh sẽ cảm nhận được phong cảnh thôn Vĩ cụ thể hơn. Lưu ý khi lựa chọn phải chọn tranh phải đúng thực tế, tránh tình trạng tự ý đưa một nơi nào đó vào bài dạy. Đến với bài Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi giáo viên có thể cho học sinh xem hình ảnh cây hòe, hoa thạch lựu để minh họa cho 2 câu thơ: “Hòe lục đùn đùn tán rợp giương Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ”. Người dạy có thể cho học sinh xem vật thật là “con cúi” trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu. Tùy nội dung bài dạy mà giáo viên có thể sử dụng loại tranh vẽ, hình ảnh cho phù hợp. Nếu có điều kiện với những tác phẩm có nhiều chương, nhiều tập nhất là tác phẩm nước ngoài giáo viên có thể mượn thư viện đem đến lớp học để giới thiệu cho học sinh biết mà tìm hiểu thêm. Để cho tiết học hấp dẫn trong quá trình chuẩn bị những tranh ảnh, vật thật giáo viên phải sưu tầm (yêu cầu học sinh sưu tầm) từ sách báo, những tờ lịch, trên Internet,… Giáo viên cũng có thể tự làm lấy những đồ dùng dạy học để phục vụ cho công việc giảng dạy. 1.2.2.2. Biểu bảng, mô hình Trong các môn khoa học xã hội đặc biệt là môn Ngữ văn, các loại sơ đồ, biểu bảng là hình thức cơ bản và khá phổ biến đồng thời còn là những hình thức trực quan phù hợp năng lực học tập, phát triển tư duy cho học sinh, góp phần khơi gợi và củng cố kiến thức một cách hệ thống, ngắn gọn. Khi sử dụng những biểu bảng, sơ đồ giáo viên có thể cho các em điền khuyết. Đối với những vấn đề khó phân biệt, khó tổng kết đòi hỏi giáo viên chuẩn bị sẵn để học sinh biết và ghi chép làm tài liệu học tập. - Biểu bảng, mô hình có thể phân ra một số loại như:  Bảng tổng kết Bảng tổng kết dùng để tóm tắt những kiến thức chính trong một chương, một phần. Kiến thức trình bày trong bảng tóm tắt phải thật cô đọng, ngôn ngữ ngắn gọn để khi cần học sinh có thể phát triển chúng thành một ý trọn vẹn. Do những đặc điểm trên, bảng tổng kết có thể sử dụng ở đầu tiết học để giúp học sinh có cái nhìn khái quát toàn diện về bài học hoặc có thể sử dụng sau tiết học để ôn tập hệ thống hóa kiến thức đã học. Ví dụ: Bảng tổng kết thời kì văn học “Văn họcViệt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945”. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN Các giai đoạn ………….. ………….. ………….. ………….. Nhịp độ phát triển …………… …………… …………… …………… Các xu hướng …………… …………… …………… …………… THÀNH TỰU VĂN HỌC Nội dung ……………… ……………… ……………… ……………… Hình thức nghệ thuật ……………. …………….. …………….. ……………..  Bảng so sánh Bảng so sánh dùng để phân loại, so sánh những điểm giống, khác nhau của vấn đề Ví dụ: Trong bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật giáo viên có thể cho học sinh so sánh với Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt mà các em đã được học ở các tiết trước PHONG CÁCH NGÔN NGỮ SINH HOẠT PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT Với bảng so sánh trên giáo viên có thể sử dụng để củng cố kiến thức sau khi học xong bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật  Sơ đồ Sơ đồ được sử dụng để giúp học sinh có cái nhìn tổng quát về một vấn đề và nắm được cấu trúc bên trong của một vấn đề qua mối liên hệ biện chứng (thể hiện bằng mũi tên) giữa các yếu tố bên trong vấn đề đó (thể hiện bằng các ô vuông, tròn). Ví dụ: Sơ đồ khái quát tính cách nhân vật Chí Phèo: ……………. Liều lĩnh CHÍ PHÈO …………..... Lương thiện ……………. Ví dụ: Sơ đồ tóm tắt cốt truyện Nhân vật chính là ai? Câu chuyện xảy ra ở đâu? Nhân vật chính gặp phải vấn đề gì? Điều gì xảy ra khi bắt đầu câu chuyện? Nhân vật chính đã phản ứng như thế nào? Nhân vật chính đã giải quyết vấn đề ntn? Vấn đề được giải quyết như thế nào?  Biểu đồ Biểu đồ có thể phân làm 2 loại: + Biểu đồ mạng: Biểu đồ mạng giúp cho học sinh nhận biết mối quan hệ giữa các ý chính, ý phụ trong một vấn đề. + Biểu đồ mắt xích: Biểu đồ mắc xích dùng hướng dẫn học sinh hệ thống lại các bước trong một bài văn, các giai đoạn trong một bài văn, các quá trình trong cuộc đời nhà văn. Khi sử dụng sơ đồ, biểu bảng giúp cho học sinh hiểu bài sâu hơn, nhận thấy rõ mối quan hệ giữa các kiến thức, nhớ lâu kiển thức và rèn luyện năng lực khái quát vấn đề. Người dạy có thể sử dụng sơ đồ khuyết nhiều hoặc ít tùy vào đối tượng học sinh, lớp khá giỏi thì sẽ khuyết nhiều. Ngoài ra có thể cho sơ đồ sai yêu cầu học sinh chỉnh sửa, sắp xếp lại.  Mô hình Mô hình câu là hệ thống các kí hiệu mà cấu trúc của nó phản ánh cấu trúc các kiểu ngữ và câu, phản ánh sự phát triển của hệ thống câu. Mô hình thường được sử dụng trong dạy học ngữ pháp để giúp học sinh tiếp thu tri thức ngữ pháp được dễ dàng. Các yêu cầu đối với mô hình ngữ pháp: - Tính khái quát: Nhìn vào mô hình ngữ pháp ta có thể hình dung các đơn vị cú pháp, các kiểu câu. - Tính thay thế tối đa: Các kí hiệu có thể diễn đạt một cách tối đa các đơn vị ngữ pháp trong cấu trúc gốc (trừ các hư từ). - Tính không trùng lặp: Các kí hiệu được phân biệt một cách rõ ràng, không trùng lặp nhau. - Tính nhất quán: Các kí hiệu phải nhất quán trong cùng hệ thống sử dụng. - Tính nối tiếp: Các kí hiệu phải có khả năng nối tiếp nhau theo hình tuyến để thể hiện sự phát triển của câu. Sau đây là một số kiểu mô hình câu: Cụm chính- phụ: Chính Phụ Cụm chủ - vị: Chủ Vị Câu ghép đẳng lập: ( và hoặc dấu phẩy) C V C Câu ghép qua lại: Tuy… V nhưng… C Vì… V C V nên… Các mô hình giáo viên có thể tự làm bằng bìa cứng, tờ giấy lịch,… tiện lợi không phải tốn kém hoặc có thể cho học sinh chuẩn bị ở nhà.  Bảng phân loại Bảng phân loại dùng để phân chia những vấn đề, những sự vật, những hiện tượng,… có cùng đặc điểm nhất định vào cùng một cột. - Các loại bảng Khi biểu diễn các phương tiện chúng ta cần có bề mặt để trình bày. Các bề mặt này bao gồm các loại bảng: bảng phấn, bảng nỉ, bảng từ tính, bảng lật… ta có thể ứng dụng chúng trong quá trình dạy học bằng phương tiện trực quan. + Bảng phấn Bảng phấn là một loại phương tiện dạy học khá phổ biến trong nhà trường. Đối với bảng phấn nếu biết cách sử dụng hợp lí sẽ là phương tiện trực quan hiệu quả. Các yêu cầu đối với bảng phấn: - Chữ viết rõ ràng, ngay ngắn, tránh viết tắt. Cỡ chữ: tựa bài và các đề mục lớn hơn phần nội dung bài học. Kiểu chữ: tựa bài học nên viết chữ in hoa. Các phần nội dung viết kiểu chữ thường.  Màu sắc: không dùng quá nhiều phấn màu gây sự phân tán. Bảng nên chia làm hai phần: bảng sống và bảng chết. Phần bảng chết ghi trọng tâm bài học, phần này lưu lại suốt quá trình học. Phần bảng sống ghi lại lời giảng của giáo viên, phát biểu của học sinh, các hình vẽ, mô hình minh họa, phần này có thể xóa trong quá trình dạy. Với loại bảng phấn này, khi trình bày các tranh ảnh, hình ảnh tránh dùng băng keo hai mặt loại mỏng vì sau khi dán vào sẽ để lại lớp keo gây xấu bảng và khi viết chữ sẽ mờ, nhìn không rõ. Khi sử dụng đòi hỏi ý thức giữ gìn đồ dùng và sự sáng tạo ở người giáo viên. + Bảng Plastic Đây là loại bảng sử dụng một tấm plastic làm mặt viết bảng. Màu của tấm plastic là màu của bảng. Viết bảng plastic bằng bút dạ có thể xóa được. Lợi ích của bảng plastic tránh ảnh hưởng của bụi phấn và lực tỳ của tay. Do dùng bút dạ để xoá nên chữ viết và hình vẽ trên bảng có màu sắc tươi và rõ nét. Loại bảng plastic màu trắng gọi là bảng đa năng vì có thể dùng làm màn ảnh máy chiếu. + Bảng nỉ Bảng nỉ được làm bằng tấm ván ép hay giấy ép có bọc một lớp vải. Lớp vải này thường là nỉ dạ hay tấm gai ép. Các hình cắt và chữ cũng được làm bằng nỉ hay tấm gai móc để dán lên bảng khi trình bày. Ngoài ra, người ta còn dùng giấy nhám thay nỉ để cắt hình thay chữ. Dùng tấm gai móc để thực hiện rất chắc, thậm chí có thể dán một vật tương đối nặng nhưng giá thành khá đắt. Bảng nỉ thường dùng để minh họa một câu chuyện hay các tài liệu đọc khác. Giáo viên có thể cắt các cảnh bằng nỉ dán lên theo trình tự cốt truyện, khi giảng xong giáo viên có thể gọi học sinh lên kể lại và trình bày các cảnh lên bảng. Sau khi dùng các hình cắt và chữ có thể cất giữ trong các tấm giấy kẹp phẳng tránh cho hình cắt không bị quăn mép và bụi bẩn. Các hình vẽ bằng giấy nhám phải được bọc từng tờ bằng một kẹp giấy riêng để tránh cho mặt nhám cọ xát lên hình vẽ và chữ của các tấm đặt sát dưới. + Bảng từ Bảng từ có mục đích sử dụng như bảng nỉ nhưng sử dụng từ tính để dán hình vẽ và chữ lên bảng. Bảng được lót bằng một tấm tôn thép có hút từ và được phủ sơn màu hay một tấm thép lót plastic màu, tùy theo yêu cầu sử dụng giáo viên có thể viết và vẽ thêm các hình bổ sung, mặt sau của các hình và chữ đều được gắn nam châm vĩnh cữu để hình vẽ hút vào bảng. Việc di chuyển phương tiện trên bảng từ nhanh hơn bảng nỉ. + Bảng lật Bảng lật gồm một tập giấy khổ rộng được kẹp ở phía trên và đặt lên một bảng có giá đỡ có chân đều chỉnh được đặt theo một độ nghiêng cần thiết. Mỗi tờ giấy được trình bày một nội dung giới hạn. Các nội dung này có thể được chuẩn bị trước hay viết song song với lời giảng. Người ta có thể tạo một bộ tranh bảng lật bằng các bộ tranh in sẵn theo một đề tài thống nhất. Công dụng chung của bảng lật là vẽ các hình minh họa hay các chữ, chủ yếu hỗ trợ cho lời giảng, có thể dùng cho cuộc thảo luận nhóm. Các loại bảng nêu trên có thể sử dụng làm phương tiện dạy học, đồng thời nếu biết cách sử dụng hợp lý có thể trở thành một phương tiện trực quan hiệu quả. Ngoài các loại bảng trên, thực tế còn nhiều loại bảng khác, giáo viên có thể tìm hiểu và lựa chọn loại bảng phù hợp với việc giảng dạy. 1.2.2.3. Kịch Thực tế, ngoài văn học dân gian còn có nhiều thể loại khác mà dạng tồn tại đặc trưng của chúng là tính biểu diễn như: kịch, tuồng, ngâm khúc,… khi đưa vào chương trình học hầu hết đều được ghi dưới hình thức văn tự. Do vậy, việc tổ chức tái hiện đúng dạng tồn tại của chúng là công việc nên làm nhất là trong giảng dạy. Khi tổ chức các hình thức diễn kịch sẽ giúp học sinh cảm nhận tốt hơn về bài học, không khí lớp học sẽ sinh động, học sinh say mê văn chương hơn. Để thực hiện tốt trực quan bằng diễn kịch cả giáo viên và học sinh được chọn tham gia phải phối hợp tốt, chuẩn bị kĩ. Nội dung để diễn kịch thường chỉ là một đoạn trong sách giáo khoa nên phải bám sát vào nội dung của sách giáo khoa thể hiện chân thật và ấn tượng về nhân vật, sự kiện. Do điều kiện về thời gian trên lớp khá ngắn nên chỉ trình bày được một số đoạn cao trào của văn bản. Quan trọng là rèn luyện năng khiếu cũng như khả năng sáng tạo thể hiện cảm xúc của học sinh. Học sinh trở nên gần gũi, thân thiện nhau hơn, giáo viên có điều kiện tiếp xúc cùng những học sinh ít nói, thụ động. 1.2.2.4. Các thiết bị hỗ trợ: băng, đĩa, máy chiếu, phim ảnh Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã đem lại những thành tựu đáng kể. Trong đó, các phương tiện trực quan hiện đại được sử dụng vào dạy học một cách rộng rãi hơn. Các phương tiện này bao gồm: băng, đĩa, máy tính, máy chiếu, phim ảnh,… giúp học sinh tiếp nhận tri thức một cách nhanh chóng, dễ dàng và tiện lợi. Việc sử dụng những thiết bị này đòi hỏi giáo viên phải biết cách sử dụng, cũng như bảo quản chúng. Nhà trường phổ thông hiện nay đa số đã hỗ trợ cho giáo viên những thiết bị này. 1.2.3. Phương pháp sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học Ngữ văn 2.3.1. Nguyên tắc sử dụng phương tiện trực quan Phương tiện trực quan sử dụng đúng không chỉ có tác dụng minh họa cho bài giảng mà còn giúp học sinh tiếp nhận kiến thức một cách sâu sắc. Vì vậy, người dạy khi dùng phương tiên trực quan cần: - Phải căn cứ mục tiêu, yêu cầu, nội dung bài học để lựa chọn phương tiện trực quan thích hợp. - Phải phát huy tính tích cực từ đó tạo hứng thú và rèn luyện khả năng thực hành tư duy, sáng tạo ở học sinh. - Phải kết hợp giữa lời nói và việc trình bày phương tiện trực quan sao cho học sinh dễ tiếp thu nhất . Ngoài ra, giáo viên cũng cần chú ý đến việc sử dụng đúng lúc, đúng chỗ và đúng cường độ. Sử dụng phương tiện trực quan đúng lúc Phương tiện trực quan được trình bày lúc cần thiết, lúc học sinh mong muốn nhất, lúc mà nội dung và phương pháp cần đến nó. Người dạy cũng chú ý đến việc đưa phương tiện trực quan theo trình tự bài học, tránh đưa đồng loạt trong một tiết học sẽ biến lớp học thành phòng trưng bày. Sử dụng phương tiện trực quan đúng chỗ Phương tiện trực quan phải được đặt đúng vị trí để học sinh có thể quan sát đồng đều, vị trí đặt sao cho lớp có thể nhìn rõ ràng nhất là dãy bàn cuối lớp hay sát bên tường. Vị trí cho phương tiện trực quan phải đầy đủ ánh sáng, thoáng mát, an toàn. Đối với các thiết bị được lưu giữ tại nơi bảo quản phải sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp tránh mất nhiều thời gian cho việc tìm kiếm. Sau khi dùng xong các phương tiện nên cất giấu tại lớp để không làm phân tán tư tưởng của học sinh. Sử dụng phương tiện trực quan đúng cường độ Từng loại phương tiện trực quan có mức độ sử dụng tại lớp khác nhau, nếu kéo dài hoặc lặp lại một phương tiện trực quan thì hiệu quả sẽ giảm sút. Việc thường xuyên áp dụng các phương tiện nghe nhìn trên lớp sẽ dẫn đến sự quá tải thông tin, giảm thị lực. Theo tài liệu do các thầy thuốc khoa mắt hướng dẫn thì sử dụng phương tiện nghe nhìn không quá 3- 4 lần trong một tuần và kéo dài không quá 20 - 25 phút trong một buổi dạy. Việc vận dụng các phương tiên trực quan vào dạy học giáo viên có thể tập trung sự chú ý của học sinh vào các vấn đề. Do đó, sự chuẩn bị cho giờ lên lớp phải chu đáo phân bố thời gian hợp lý tránh tình trạng đi xa vấn đề trọng tâm của bài học. Nếu không biết sử dụng phương tiện trực quan một cách khoa học theo một hệ thống, thậm chí lạm dụng quá nhiều thì hiệu quả của nó không tăng lên mà còn làm học sinh căng thẳng, khó hiểu. 1.2.3.2. Các yêu cầu cơ bản khi sử dụng phương tiện trực quan Tính khoa học sư phạm Phương tiện trực quan phải đảm bảo học sinh tiếp thu các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với chương trình học, giúp học sinh củng cố và kiểm tra kiến thức, làm cho học sinh phát triển khả năng nhận thức và tư duy logic. Bên cạnh đó, người dạy truyền đạt kiến thức một cách thuận lợi hơn. Nội dung và cấu tạo của phương tiện trực quan phải đảm bảo phù hợp với nội dung, phương pháp giảng dạy và mỗi loại có vai trò, cách sử dụng khác nhau nên phải bố trí hợp lí để trình bày trước lớp. Phương tiện phải được sắp xếp thành hệ thống, có tính khái quát cao có thể tóm lược các kiến thức cơ bản, thể hiện được mối quan hệ giữa các phần các yếu tố trong bài học. Tính phù hợp với sự tiếp nhận của học sinh Phương tiện trực quan phải đủ lớn để học sinh có thể quan sát ở mọi vị trí. Các phương tiện dùng cho cá nhân học sinh không chiếm nhiều chỗ trên bàn học Phương tiện dùng phải phù hợp với tâm lí học sinh, có tính giáo dục ý thức nhìn nhận cuộc sống, nhìn nhận cái đẹp tránh những cách nghĩ lệch lạc, sai lầm. Khi giáo viên diễn đạt phải chú ý ngắn gọn, sử dụng các cụm từ, mệnh đề kí hiệu để tiện lợi cho học sinh theo dõi, quan sát. Phương tiện trực quan không quá nặng, quá lớn về kích thước. Màu sắc phải hài hòa, không làm chói mắt, hay làm cho học sinh khó phân biệt các đối tượng. Phương tiện trực quan phải đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật, an toàn cháy nổ và không gây độc hại. Tính thẩm mỹ Phương tiện trực quan phải có tính thẩm mỹ cao, tỷ lệ các đường nét hình khối phải cân xứng, hài hòa. Khi trình bày cỡ chữ phải đủ lớn, phân biệt các thông tin chính - phụ bằng màu sắc, kích cỡ của các kiểu hình, kiểu chữ, mũi tên. Tính khoa học kỹ thuật và kinh tế Phương tiện trực quan phải bền chắc, dễ sử dụng và chi phí thấp đồng thời ứng dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật hiện đại. Trong dạy học giáo viên có thể tự làm những trực quan đơn giản, rẻ tiền nhưng hiệu quả rất cao. 1.2.3.3. Phương pháp sử dụng phương tiện trực quan Sử dụng phương tiện trực quan, người giáo viên đều mong muốn mang lại hiệu quả cao cho bài dạy của mình. Do vậy, việc sử dụng phương tiện trực quan như thế nào là điều mà người dạy luôn quan tâm. Trước hết, phương tiện đó phải phù hợp với nội dung của sách giáo khoa, phải vận dụng kết hợp cùng phương pháp giảng dạy. Bên cạnh đó, phương tiện trực quan khi sử dụng phải căn cứ vào sự phân loại để từ đó dùng cho hợp lý, đạt kết quả. Chẳng hạn với loại sơ đồ, biểu bảng thì giáo viên có thể cho sử dụng vào đầu giờ học để khơi gợi kiến thức hoặc sử dụng vào cuối giờ dạy nhằm mục đích củng cố và tổng kết bài học. Hay khi sử dụng các thiết bị máy chiếu, trình diễn PowerPoint, thiết bị nghe, nhìn,… thì sau khi trình chiếu xong giáo viên nên có các slide, các tài liệu để thuận tiện cho việc ghi chép, tiếp nhận kiến thức. Nếu không học sinh chỉ lo ghi chép bài mà bỏ qua những chi tiết quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng thông tin và mất nhiều thời gian cho việc ghi chép. Đối với các tranh ảnh, vật thật người dạy nên bố trí sắp xếp, chuẩn bị vào thời điểm mà các em cần biết nhất để tạo sự tò mò, hứng thú. Sau khi học sinh xem xong thì giáo viên nên cất đi để tránh sự phân tán chú ý, không tập trung gây ồn ào trong giờ học. Phương tiện trực quan khi dùng phải được kết hợp với lời giảng, giáo viên có thể sử dụng ngôn ngữ ngắn gọn, dễ hiểu và tạo sự tập trung chú ý ở học sinh. Ngoài ra, với các tiết mục diễn kịch thì do thời lượng trên lớp tương đối ngắn nên có thể cho các em chuẩn bị sẵn ở nhà về nội dung, diễn viên. Các phương tiên trực quan khi đưa vào sử dụng giáo viên nên thêm vào đó các hình thức trò chơi nhỏ với đồ dùng trực quan đó để thu hút sự hứng thú trong học tập. Bên cạnh đó, người dạy cũng ưu tiên, khuyến khích cho điểm cộng để các học sinh hăng hái tham gia vào bài tập từ phương tiên trực quan mang lại. Với cách thức này, giáo viên có thể vừa kiểm tra được kiến thức vừa biết được mức độ tiếp thu bài ở học sinh. 1.2.3.4. Vai trò của phương tiện trực quan Phương tiện trực quan là một trong những nhân tố quan trọng trong quá trình dạy học, nó cùng với các nhân tố khác: mục đích, nhiệm vụ, nội dung dạy học, hoạt động của giáo viên và học sinh tạo thành một thể hoàn chỉnh và có quan hệ biện chứng thúc đẩy quá trình dạy học đạt tới mục đích nhất định. Vì vậy, việc vận dụng và tiến hành các phương pháp trực quan không thể tách rời việc sử dụng phương tiện trực quan. Phương tiện trực quan là nguồn tri thức phong phú để lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo. Phương tiện trực quan giúp thu nhận thông tin và sự vật hiện tượng một cách sinh động. Giáo viên còn giúp HS đào sâu những tri thức đã lĩnh hội được và kích thích hứng thú nhận thức, năng lực quan sát, phân tích tổng hợp để rút ra những kết luận cần thiết có độ tin cậy. Ngoài ra phương tiện trực quan giúp cho giáo viên có thêm điều kiện thuận lợi để trình bày bài giảng một cách đơn giản, đầy đủ, sâu sắc, tiết kiệm được thời gian trên lớp còn điều khiển hoạt động nhận thức của HS cũng như kiểm tra đánh giá kết quả học tập được thuận lợi hơn, có hiệu quả hơn. Chương 2 SỬ DỤNG PHƯƠNG TIỆN TRỰC QUAN ĐỂ GIẢNG DẠY MỘT SỐ BÀI HỌC TRONG BỘ SGK NGỮ VĂN LỚP 11, (BỘ CƠ BẢN) 2.1. Sử dụng phương tiện trực quan để giảng dạy một số bài học Đọc- hiểu 2.1.1. Bài: Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân 2.1.1.1. Nội dung chính a. Tình huống truyện: Nguyễn Tuân đã xây dựng nên cuộc gặp gỡ giữa Huấn Cao và viên Quản ngục. Tình huống độc đáo giữa một kẻ phản nghịch chống lại triều đình và một kẻ đại diện cho quyền lực, duy trì trật tự xã hội. Họ gặp nhau trong hoàn cảnh éo le, ngục tối nhưng qua đó ta thấy được những tâm hồn tri âm, tri kỉ. => nổi bật lên vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao và tấm lòng “biệt nhỡn liên tài” của viên quản ngục. b. Hình tượng nhân vật Huấn Cao Huấn Cao được khắc hoạ bằng bút pháp lãng mạn lý tưởng hoá bằng biện pháp đối lập tương phản, đặt trong tình huống đặc biệt => Vẻ đẹp Huấn cao trên 3 phương diện: - Tài hoa, nghệ sĩ Thể hiện gián tiếp qua tiếng đồn và thái độ của viên quản ngục: + Ông nổi tiếng khắp vùng tỉnh Sơn về tài viết chữ nhanh và đẹp + Có được chữ của ông Huấn mà treo trong nhà như có vật báo trên đời + Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm + Nét chữ thể hiện khát vọng tự do và hoài bão tung hoành của cả đời người. Thể hiện trực tiếp qua lời của Huấn Cao “Chữ ta thì đẹp thật, quý thật”.  Thái độ kính trọng, ngưỡng mộ con người văn võ toàn tài của tác giả. - Khí phách hiên ngang, bất khuất Coi thường cái chết, khinh bỉ bạn tiểu nhân đắc chí “lạnh lùng chúc mũi gông nặng… đánh thuỳnh một cái”, làm ngơ trước lời doạ nạt của lính canh. Không vì tiền bạc, quyền thế mà ép mình viết chữ (cả đời mới chỉ viết tặng có ba người bạn thân) Thản nhiên, ung dung nhận rượu thịt của quản ngục coi như đó là một việc bình thường như lúc chưa bị giam cầm. - Nhân cách trong sáng, cao cả
- Xem thêm -