Sử dụng các công cụ phái sinh trong công tác bảo vệ tỷ giá tại thị trường ngoại hối việt nam. thực trạng và giải pháp

  • Số trang: 37 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 30 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI KHOA SAU ĐẠI HỌC TIỂU LUẬN Môn học: Quản trị rủi ro Đề tài: "Sử dụng các công cụ phái sinh trong công tác bảo vệ tỷ giá tại thị trường ngoại hối Việt Nam. Thực trạng và giải pháp" Giáo viên: TS. MAI THU HIỀN Lớp TCNH – 19A Nhóm thực hiện: - Nguyễn Như Trinh - Đậu Huy Ngọc - Ngô Hoài Nam - Đào Thị Thu Thủy - Trần Thị Thu Nga -1- MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU ....................................................................................................................................4 PHẦN 1: THỊ TRƯỜNG PHÁI SINH VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP BẢO VỆ TỶ GIÁ, NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG ........................................................................................................5 I. Hợp đồng kỳ hạn. ........................................................................................................................5 1. Khái niệm.................................................................................................................................5 2. Bảo hiểm rủi ro tỷ giá bằng hợp đồng kỳ hạn.....................................................................6 II. Hợp đồng quyền chọn ...............................................................................................................8 1. Khái niệm.................................................................................................................................8 2. Sử dụng giao dịch quyền chọn để quản lý rủi ro ngoại hối...............................................9 III. Hợp đồng tương lai. ...............................................................................................................11 1. Hợp đồng tương lai trên thị trường ngoại hối ...................................................................11 2. Bảo hiểm rủi ro bằng hợp đồng tương lai. .........................................................................12 IV. Hợp đồng hoán đổi.................................................................................................................13 1. Khái niệm...............................................................................................................................13 2. Bảo hiểm rủi ro tỷ giá bằng hợp đồng hoán đổi................................................................13 PHẦN 2: THỰC TIỄN TRÊN THẾ GIỚI ....................................................................................17 I. Tác động của tỷ giá đến các doanh nghiệp ............................................................................17 II. Phòng ngừa rủi ro tỷ giá và đầu cơ từ những hợp đồng phái sinh .....................................20 PHẦN 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THỊ TRƯỜNG PHÁI SINH Ở VIỆT NAM .....25 I. Tổng quan về thực trạng thị trường công cụ tài chính phái sinh ở Việt Nam. .................25 1. Thực Trạng ............................................................................................................................25 2 Khung pháp lý chế độ kế toán Việt Nam liên quan đến công cụ tài chính phái sinh....29 II. Nguyên nhân và giải pháp. .....................................................................................................30 -2- 1 Nguyên nhân...........................................................................................................................30 2 Giải pháp. ................................................................................................................................33 3 Xu hướng phát triển tương lai. ............................................................................................35 KẾT LUẬN .......................................................................................................................................37 -3- LỜI NÓI ĐẦU Ngày nay, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại (NHTM) trở nên phong phú và đa dạng hơn bao giờ hết. Bên cạnh các nghiệp vụ ngân hàng mang tính truyền thống thì các ngân hàng không ngừng phát triển các nghiệp vụ tài chính mới hiện đại, mà trong đó phải kể đến các giao dịch kinh doanh ngoại tệ. Đây là một hoạt động kinh doanh có thể đem lại lợi nhuận rất cao cho ngân hàng, nhưng ngược lại chúng cũng tiềm tàng rất nhiều rủi ro mà điển hình là rủi ro tỉ giá. Để có thể hạn chế được rủi ro này, ngân hàng sẽ phải tiến hành các biện pháp phòng ngừa. Một trong những công cụ để phòng ngừa rủi ro tỉ giá chính là hợp đồng phái sinh tiền tệ (Currency Derivaties). Các hợp đồng phái sinh tiền tệ bao gồm: hợp đồng ngoại hối kì hạn (Forward), hợp đồng ngoại hối tương lai (Future), hợp đồng ngoại hối quyền chọn (Option) và hợp đồng ngoại hối hoán đổi (Swap). Thị trường phái sinh tiền tệ trên thế giới đã được thực hiện từ những năm 1970 của thế kỉ trước. Và theo các chuyên gia, các công cụ phái sinh không những cho phép các nhà đầu tư phòng ngừa rủi ro, mà nó còn là một trong các nghiệp vụ có khả năng sinh lời cao nhất. Vậy tại sao những công cụ này lại chưa được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam? Và nếu sử dụng thì làm thế nào chúng ta có thể sử dụng chúng một cách hiệu quả nhất? Đó sẽ là những vấn đề chúng tôi sẽ cố gắng đưa ra câu trả lời thích hợp nhất trong bài tiểu luận của mình. Vì vậy chúng em chọn đề tài "Sử dụng các công cụ phái sinh trong công tác bảo vệ tỷ giá tại thị trường ngoại hối Việt Nam. Thực trạng và giải pháp" Tiểu luận của chúng em gồm 4 phần chính: Phần 1: Thị trường phái sinh và các phương pháp bảo vệ tỷ giá, nguyên tắc hoạt động Phần 2: Thực tiễn trên thế giới Phần 3: Bài học cho Việt Nam Phần 4: Kết luận Do thời gian có hạn nên bài tiểu luận của chúng em sẽ không thể tránh được thiếu sót. Rất mong được cô góp ý để nhóm tiểu luận chúng em sẽ có thể hoàn thiện bài tiểu luận của mình một cách tốt nhất. Chúng em xin chân thành cảm ơn cô ! -4- PHẦN 1: THỊ TRƯỜNG PHÁI SINH VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP BẢO VỆ TỶ GIÁ, NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG I. Hợp đồng kỳ hạn. 1. Khái niệm a) Các khái niệm chung Giao dịch ngoại hối kỳ hạn(Forward Transaction): những giao dịch ngoại hối có ngày kỳ hạn xa hơn ngày giá trị giao ngay. Tỷ giá kỳ hạn(Forward Rate): Là tỷ giá được thỏa thuận hôm nay làm cơ sở cho giao dịch tiền tệ tại một ngày xác định xa hơn ngày giá trị giao ngay. Theo quy luật ngang giá lãi suất IRP tỷ giá kỳ hạn được xác định theo công thức: F= Trong đó: S: tỷ giá giao ngay F: tỷ giá kỳ hạn Rt: lãi s uất/năm của đồng tiền định giá Rc: lãi s uất/năm của đòng tiền yết giá T: thời hạn hơp đồng tính theo năm. Sb.(1  Rtb * t ) (1  Rca * t ) Tỷ giá kỳ hạn mua Fbvào:  Tỷ giá kỳ hạn bánFara: = Sb  Sb.( Rtb  Rca )t (1  Rca * t ) Sa.( Rta  Rcb ).t Sa.(1  Rta * t ) = Sa  (1  Rcb * t ) (1  Rcb * t ) Điểm kỳ hạn(Forward Point): Là độ lệch giữa tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay. P=F-S → F=S+P P= S -5- F=S+S Trong đó P- điểm kỳ hạn, S- Tỷ giá giao ngay, F- Tỷ giá kỳ hạn P>0 (Rt>Rc): điểm kỳ hạn gia tăng - Forward premium P<0 (Rt E thì doanh nghiệp sẽ thực hiện quyền chọn mua. Khi ấy giá trị của khoản phải trả quy ra nội tệ là V = K.E = hằng số, bất chấp tỷ giá giao ngay trên thị trường là bao nhiêu. Cần lưu ý rằng doanh nghiệp trước đó đã bỏ ra một khoản chi phí bằng K.P để mua quyền chọn nên tổng chi phí quy ra nội tệ của khoản phải trả được cố định ở mức K(E + P). Nhờ vậy, rủi ro ngoại hối được kiểm soát. • Nếu Sb < E thì doanh nghiệp không thực hiện quyền chọn mua, mà mua ngoại tệ trên thị trường giao ngay để thanh toán khoản phải trả. Khi ấy giá trị khoản phải trả quy ra nội tệ là V(Sb) = K.Sb. Cần lưu ý rằng doanh nghiệp trước đó đã bỏ ra một khoản chi phí bằng K.P để mua quyền chọn nên tổng chi phí quy ra nội tệ của khoản phải trả bằng K(Sb + P). Chi phí này chưa được cố định nhưng bị chận trên tối đa ở mức K(E+P), nghĩa là K(Sb + P) < K(E + P), do Sb < E. Do đó, rủi ro ngoại hối cũng được kiểm soát. Tương tự, doanh nghiệp cũng có thể sử dụng quyền chọn bán để phòng ngừa rủi ro ngoại hối đối với khoản phải thu. b) Phòng ngừa rui ro ngoại hối đối với k hoản phải thu Để phòng ngừa rủi ro ngoại hối đối với khoản phải thu, doanh nghiệp có thể thương lượng với ngân hàng mua quyền chọn bán. Khi ấy ngân hàng, bên bán quyền, sẽ xem xét chào cho doanh nghiệp, bên mua quyền, một quyền chọn bán có nội dung bao gồm : - Trị giá quyền chọn (K), bằng hoặc tương đương trị giá khoản phải thu - Tỷ giá thực hiện (E) - Phí mua quyền bằng K.P trong đó P là phí mua quyền chọn tính trên mỗi đồng ngoại tệ - Kiểu quyền chọn (kiểu Âu hoặc Mỹ) - Thời hạn hiệu lực của quyền chọn (T), bằng hoặc tương đương thời hạn của khoản phải thu. Tất cả những nội dung này của quyền chọn đã được hai bên thỏa thuận trước. Ở thời điểm thỏa thuận, tỷ giá giao ngay trên thị trường đã biết nhưng ở thời điểm khoản phải đến hạn tỷ giá giao ngay trên thị trường chưa biết. Nếu không sử dụng quyền chọn để ngừa rủi ro thì trị giá quy ra nội tệ của khoản phải thu bằng V(Sm) = KSm = f(Sm) phụ thuộc vào tỷ giá giao ngay lúc khoản phải thu đến hạn, trong đó K là trị giá khoản phải thu và Sm là tỷ giá mua giao ngay ở thời điểm khoản phải thu đến hạn. Nếu sử dụng quyền chọn mua để phòng ngừa rủi ro ngoại hối thì trị giá khoản phải thu khi đến hạn là bao nhiêu còn tùy thuộc vào quan hệ giữa tỷ giá giao ngay và tỷ giá thực hiện khi khoản phải thu đến hạn. Mặc dù -10- thời điểm đến hạn chưa xảy ra nhưng ở thời điểm thỏa thuận, doanh nghiệp biết trước khi đến hạn có một trong hai khả năng xảy ra : • Nếu Sm < E thì doanh nghiệp sẽ thực hiện quyền chọn bán. Khi ấy giá trị của khoản phải thu quy ra nội tệ là V = K.E = hằng số, bất chấp tỷ giá giao ngay trên thị trường là bao nhiêu. Cần lưu ý rằng doanh nghiệp trước đó đã bỏ ra một khoản chi phí bằng K.P để mua quyền chọn nên giá trị quy ra nội tệ của khoản phải thu chỉ còn và được cố định ở mức K(E – P). Nhờ vậy, rủi ro ngoại hối được kiểm soát. • Nếu Sm > E thì doanh nghiệp không thực hiện quyền chọn bán, mà bán ngoại tệ trên thị trường giao ngay. Khi ấy giá trị khoản phải thu quy ra nội tệ là V(Sm) = K.Sm. Cần lưu ý rằng doanh nghiệp trước đó đã bỏ ra một khoản chi phí bằng K.P để mua quyền chọn nên giá trị khoản phải thu quy ra nội tệ chỉ còn bằng K(Sm P). Giá trị này chưa được cố định nhưng bị chận dưới tối thiểu ở mức K(E - P), nghĩa là K(Sm - P) > K(E - P), do Sm > E. Do đó, rủi ro ngoại hối cũng được kiểm soát. Tóm lại, thông qua hợp đồng quyền chọn, doanh nghiệp có thể kiểm soát được rủi ro ngoại hối bằng cách giới hạn tối đa chi phí nội tệ đối với khoản phải trả ở mức bằng trị giá khoản phải trả nhân với tỷ giá thực hiện và công thêm chi phí mua quyền chọn mua và giới hạn tối thiểu giá trị nội tệ của khoản phải thu ở mức bằng trị giá khoản phải thu nhân với tỷ giá thực hiện và trừ đi chi phí mua quyền chọn bán. III. Hợp đồng tương lai. 1. Hợp đồng tương lai trên thị trường ngoại hối Thị trường ngoại tệ tương lai (currency future markets) là thị trường giao dịch các hợp đồng mua bán ngoại tệ tương lai, sau đây gọi tắt là hợp đồng tương lai. Hợp đồng tương lai là một thỏa thuận mua bán một số lượng ngoại tệ đã biết theo tỷ giá cố định tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực và việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện vào một ngày trong tương lai được xác định bởi Sở giao dịch (IMM). Giao dịch tương lai, về thực chất, chính là giao dịch kỳ hạn nhưng được chuẩn hoá (standardized) về loại ngoại tệ giao dịch, doanh số giao dịch, và ngày giao dịch. -11- 2. Bảo hiểm rủi ro bằng hợp đồng tương lai. Có một thực tế chúng ta đều biết rằng hợp đồng tương lai là một công cụ thực hiện đầu cơ bởi vì hợp đồng tương lai chỉ cung cấp giới hạn cho một vài ngoại tệ và một vài ngày thanh toán trong năm nên khả năng phòng ngừa rủi ro của nó hơi hạn chế. Tuy nhiên, hợp đồng tương lai vẫn có thể sử dụng như là một công cụ phòng ngừa rủi ro ngoại hối. Nguyên lý chung là khi có một khoản phải trả bằng ngoại tệ và lo sợ rằng ngoại tệ đó sẽ lên giá khi khoản phải trả đến hạn thì nên mua một hợp đồng tương lai ngoại tệ đó. Bằng cách này có thể tạo ra hai trạng thái ngoại tệ trái ngược nhau: trạng thái âm khi nợ một khoản phải trả và trạng thái dương khi mua hợp đồng tương lai với cùng loại ngoại tệ đó. Hai trạng thái ngoại tệ trái chiều nhau ấy sẽ tự hóa giải rủi ro. Trường hợp có một khoản phải thu, thay vì khoản phải trả, thì làm ngược lại. Quản lý rủi ro ngoại hối đối với k hoản phải trả: Hợp đồng giao sau tuy không dễ thoả thuận giao dịch như hợp đồng kỳ hạn nhưng cũng có thể sử dụng để quản lý rủi ro ngoại hối đối với một số ngoại tệ có giao dịch trên thị trường giao sau. Để có thể phòng ngừa rủi ro ngoại hối đối với một khoản phải trả bằng ngoại tệ, doanh nghiệp có thể thực hiện mua ngoại tệ theo hợp đồng giao sau có trị giá và thời hạn tương đương với khoản phải trả. Khi đáo hạn, có hai khả năng xảy ra: - Nếu ngoại tệ lên giá so với nội tệ thì doanh nghiệp sẽ có lợi do biến động tỷ giá từ hợp đồng giao sau, nhưng bị thiệt từ sự gia tăng chi phí của khoản phải trả. Khi ấy, doanh nghiệp lấy lợi từ hợp đồng giao sau bù đắp cho thiệt của khoản phải trả. Nhờ vậy tổn thất do rủi ro ngoại hối được giảm thiểu hay có thể kiểm soát. - Nếu ngoại tệ giảm giá so với nội tệ thì doanh nghiệp sẽ bị thiệt do mua hợp đồng giao sau, nhưng có lợi từ khoản phải trả do biến động tỷ giá làm giảm chi phí của khoản phải trả. Khi ấy doanh nghiệp lấy lợi từ khoản phải trả bù đắp cho thiệt của hợp đồng giao sau. Nhờ vậy tổn thất do rủi ro ngoại hối được giảm thiểu hay có thể kiểm soát. Tương tự, doanh nghiệp cũng có thể sử dụng hợp đồng giao sau như là công cụ phòng ngừa rủi ro ngoại hối đối với khoản phu thu. Quản lý rủi ro ngoại hối đối với k hoản phải thu: Để có thể bảo hiểm rủi ro ngoại hối đối với một khoản phải thu bằng ngoại tệ, doanh nghiệp có thể thực hiện bán ngoại tệ theo hợp đồng giao sau có trị giá và thời hạn tương đương với khoản phải thu. Khi đáo hạn, có hai khả năng xảy ra: - Nếu ngoại tệ lên giá so với nội tệ thì doanh nghiệp sẽ có lợi do biến động tỷ giá từ -12- khoản phải thu nhưng bị thiệt do bán ngoại tệ theo hợp đồng giao sau. Lấy lợi từ hợp đồng này bù đắp cho thiệt của hợp đồng kia. - Nếu ngoại tệ giảm giá so với nội tệ thì doanh nghiệp sẽ có lợi do bán ngoại tệ theo hợp đồng giao sau nhưng bị thiệt do biến động tỷ giá của khoản phải thu bằng ngoại tệ. Lấy lợi từ hợp đồng này bù đắp cho thiệt của hợp đồng kia. Tuy nhiên, do hợp đồng giao sau giao dịch trên thị trường theo trị giá đã được chuẩn hóa nên thường trị giá khoản phải thu và trị giá hợp đồng giao sau không khớp với nhau theo một tỷ lệ nhất định nên hợp đồng giao sau chỉ có thể giúp cắt giảm hay kiểm soát rủi ro chứ chưa hẳn hoàn toàn loại trừ rủi ro. Chẳng hạn trên thị trường giao sau trị giá hợp đồng giao dịch đối với GBP là 62.500 nếu doanh nghiệp có khoản phải thu trị giá 650.000GBP thì có thể phòng ngừa rủi ro bằng cách mua 10 hợp đồng giao sau hết 625.000 còn lại 25.000GBP không được phòng ngừa. IV. Hợp đồng hoán đổi. 1. Khái niệm. Giao dịch hoán đổi là giao dịch hối đoái bao gồm đồng thời cả hai giao dịch: giao dịch mua và giao dịch bán cùng một số lượng đồng tiền này với đồng tiền khác, trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch khác nhau và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký hợp đồng. Đặc điểm của hợp đồng hoán đổi ngoại tệ: - mua vào và bán ra đồng thời một đồng tiền tại ngày hôm nay - cùng một số lượng mua vào và bán ra tỷ giá khác nhau: tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký hợp đồng. - ngày giá trị mua vào # ngày giá trị bán ra - giao dịch thực hiện trên thị trường OTC và không có qui định chuẩn 2. Bảo hiểm rủi ro tỷ giá bằng hợp đồng hoán đổi. Tình huống 1: Công ty Saigonimex vừa thu ngoại tệ 90.000USD từ một hợp đồng xuất khẩu. Hiện tại công ty cần VND để chi trả tiền mua nguyên liệu và lương cho công nhân. Ngoài ra, công ty biết rằng ba tháng nữa sẽ có một hợp đồng nhập khẩu đến hạn thanh -13- toán. Khi ấy công ty cần một khoản ngoại tệ 80.000USD để thanh toán hợp đồng nhập khẩu. Để thoả mãn nhu cầu VND ở hiện tại và USD trong tương lai, ở thời điểm hiện tại Saigonimex có thể thoả thuận với ngân hàng hai loại giao dịch: - Bán 90.000USD giao ngay để lấy VND chi tiêu ở thời điểm hiện tại. - Mua 80.000USD kỳ hạn để có USD thanh toán hợp đồng nhập khẩu sẽ đến hạn sau ba tháng nữa. Tình huống 2: Công ty Cholonimex đang cần ngoại tệ 90.000USD để chi trả cho một hợp đồng nhập khẩu đến hạn. Ngoài ra, công ty biết rằng ba tháng nữa sẽ có một hợp đồng xuất khẩu đến hạn thanh toán. Khi ấy công ty sẽ có một khoản ngoại tệ thu về 80.000USD cần bán để lấy VND. Để thoả mãn nhu cầu USD ở hiện tại và VND trong tương lai, ở thời điểm hiện tại Cholonimex có thể thoả thuận với ngân hàng hai loại giao dịch: - Mua 90.000USD giao ngay để có USD thanh toán hợp đồng nhập khẩu đến hạn. - Bán 80.000USD kỳ hạn để có VND chi tiêu sau ba tháng nữa. Khách hàng có thể thực hiện từng loại giao dịch riêng lẻ nhằm thoả mãn nhu cầu ngoại tệ và VND. Tuy nhiên, nếu thực hiện riêng lẻ từng loại giao dịch giao ngay và giao dịch kỳ hạn thì ngân hàng và khách hàng phải thỏa thuận đến hai loại hợp đồng, theo đó khách hàng bán giao ngay và mua kỳ hạn hoặc mua giao ngay và bán kỳ hạn với cùng một loại ngoại tệ. Giao dịch riêng lẻ này khiến cho khách hàng phải chịu thiệt hai lần do chênh lệch giữa giá bán và giá mua và những phiến toái trong thoả thuận hợp đồng giao dịch. Thay vì thực hiện giao dịch giao ngay và giao dịch kỳ hạn riêng biệt, ngân hàng kết hợp hai loại giao dịch này lại trong một hợp đồng, gọi là hợp đồng hoán đổi tiền tệ. Trong hợp đồng giao dịch hoán đổi, hai bên ngân hàng và khách hàng thỏa thuận với nhau một số nội dung chính như sau: Thời hạn giao dịch – Thời hạn giao dịch hoán đổi có thể từ 3 ngày đến 6 tháng. Nếu ngày đáo hạn rơi vào ngày Chủ nhật hoặc ngày lễ thì hai bên sẽ thoả thuận chọn một ngày đáo hạn thích hợp và thời hạn hợp đồng sẽ tính trên số ngày thực tế. Điều kiện thực hiện – Giao dịch hoán đổi áp dụng đối với khách hàng có đủ các điều kiện sau: (1) có giấy phép kinh doanh, (2) xuất trình các chứng từ chứng minh nhu cầu sử dụng ngoại tệ, (3) mở tài khoản ngoại tệ và tài khoản VND ở ngân hàng, (4) trả phí giao dịch theo qui định, (5) duy trì một tỷ lệ đặt cọc tối đa không quá 5% trị giá hợp đồng để bảo đảm việc thực hiện hợp đồng, và (6) ký hợp đồng giao dịch hoán đổi với ngân hàng. -14- Ngày thanh toán – Trong giao dịch hoán đổi, ngày thanh toán bao gồm hai loại ngày khác nhau: ngày hiệu lực và ngày đáo hạn. Ngày hiệu lực là ngày thực hiện thanh toán giao dịch giao ngay trong khi ngày đáo hạn là ngày thực hiện thanh toán giao dịch có kỳ hạn. Xách định tỷ giá hoán đổi – Một hợp đồng hoán đổi liên quan đến hai loại tỷ giá: tỷ giá giao ngay và tỷ giá có kỳ hạn. Tỷ giá giao ngay là tỷ giá do ngân hàng niêm yết tại thời điểm giao dịch do hai bên thoả thuận. Tỷ giá có kỳ hạn được tính trên cơ sở tỷ giá giao ngay, chênh lệch lãi suất giữa VND và ngoại tệ, và số ngày thực tế của hợp đồng. Quy trình thực hiện giao dịch hoán đổi – Tại ngân hàng thương mại quy trình thực hiện giao dịch hoán đổi tiến hành qua các bước sau đây: - Khách hàng có nhu cầu thực hiện giao dịch hoán đổi đến liên hệ với phòng kinh doanh tiền tệ của ngân hàng - Căn cứ vào cung và cầu ngoại tệ, phòng kinh doanh tiền tệ sẽ chào giá và kỳ hạn cụ thể cho khách hàng - Nếu khách hàng đồng ý giá cả thì hai bên sẽ ký hợp đồng hoán đổi. Có hai trường hợp xảy ra hợp đồng hoán đổi như vừa trình bày trong hai tình huống trên đây. Ở tình huống 1 ngân hàng mua giao ngay và bán có kỳ hạn. Ở tình huống 2 ngân hàng bán giao ngay và mua có kỳ hạn. Để thực hiện giao dịch hoán đổi với khách hàng, ở ngày hiệu lực ngân hàng phải thu thập thông tin tỷ giá và lãi suất để xác định tỷ giá và chào cho khách hàng. Giả sử vào ngày hiệu lực có tỷ giá và lãi suất như sau: USD/VND: 15805 – 15810 USD: 4,6 – 5,2 VND: 7,8 – 10,6 Nếu Saigonimex và Cholonimex đồng ý thực hiện giao dịch hoán đổi với ngân hàng với trị giá hợp đồng hoán đổi là 80.000USD, các giao dịch diễn ra như sau: Vào ngày hiệu lực: - Ngân hàng bán giao ngay 80.000USD cho Cholonimex theo tỷ giá giao ngay USD/VND=15810 và nhận được: 80.000 x 15810 = 1.264.800.000VND trong khi Cholonimex nhận 80.000USD. - Ngân hàng mua giao ngay 80.000USD của Saigonimex theo tỷ giá mua USD/VND =15805 và nhận 80.000USD trong khi Saigonimex nhận -15- được: 80.000 x 15805 = 1.264.400.000VND. - Ngân hàng xác định và chào tỷ giá mua kỳ hạn (Fb) cho Cholonimex và tỷ giá bán kỳ hạn (Fa) cho Saigonimex: Sb.(1  Rtb * t ) (1  Rca * t ) = 15906 Fb  Fa  Sa.(1  Rta * t ) (1  Rcb * t ) = 16044 Vào ngày đáo hạn( 3 tháng sau): - Ngân hàng nhận lại 80.000USD và chi cho Cholonimex một số VND bằng 80.000 x 15906= 1.272.480.000 VND - Ngân hàng giao lại 80.000USD cho Saigonimex và nhận lại số VND bằng 80.000 x 16044= 1.283.520.000 VND -16- PHẦN 2: THỰC TIỄN TRÊN THẾ GIỚI I. Tác động của tỷ giá đến các doanh nghiệp Tỷ giá là một trong nguồn gốc rủi ro chính khiến nhiều doanh nghiệp trên thế giới rơi vào lao đao, và cũng là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của rất nhiều công cụ phòng chống rủi ro ngoại hối. Trong quá khứ, tác động của việc tỷ giá biến động nhiều hơn kể từ sau sự sụp đổ của chế độ tỷ giá Bretton Woods vào đầu thập niên 1970 đã kéo nhiều công ty lớn trên thế giới, đặc biệt là nhiều công ty tên tuổi của Mỹ và Nhật vào những “rắc rối” về tỷ giá trong các thập niên 1980 và 1990. Thời kỳ đó, những tên tuổi như Laker Airlines, Caterpillar, Toyota, Honda, v.v. đều than phiền trên mặt báo rằng những biến động bất lợi của tỷ giá đã tạo ra nhiều khó khăn cho hoạt động kinh doanh của họ, và khiến cho doanh thu lẫn lợi nhuận giảm thấp. Xu thế tự do hóa thương mại và đầu tư quốc tế diễn ra mạnh mẽ về chiều rộng lẫn chiều sâu, bao gồm cả nuớc đang phát triển cũng đã và đang tích cực tham gia tến trình hội nhập, la tiền đề để các nuớc tiến hành noiứ lỏng quy chế quản lý ngoại hoío nhằm tạo điều kiện cho chuy chuyển chuyển hàng hóa, dịch vụ và vốn quốc tế đuợc hiểu quả. Điều này tạo nên một thị truờng ngoại hối quốc tế ngày càng rộng lớn với doanh số giao dịch ngày một cao. Tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin đã góp phần làm giảm chi phí giao dịch, tăng tốc độ thanh toán, góp phần tích cực thúc đẩy thị trường ngoại hối phát triển như ngày nay. Bên cạnh tăng nhanh doanh số giao dịch, thị truờng ngoại hối quốc tế còn phát triển mạnh về chiều sâu, đó là tạo ra nhiều nghiệp vụ kinh doanh mới, phức tạp hơn, tinh vi hơn và cũng trở nên rủi ro hơn. Trong những năm đầu 1990, ngân hàng và những nhà kinh doanh đầu tư chulyên nghiệp vẫn tiếp tục là những người đóng vai trò chủ đạo trên thị truờng ngoại hối. Các công ty thuờng xuyên tích cực tham gia thị truờng nhằm quản lý rủi ro ngoại hối và thường sử dụng các chuơng trình bảo hiểm rủi ro ngoại hối có chọn lọc và trực tiếp tham gia kinh daonh ngoại hối. Các quyết định kinh doanh ngoại hối của các công ty có thể ảnh huởng đáng kể lên thị trường ngoại hối trong ngắn hạn và dài hạn; nhưng trên thực tế thì nó lại chưa đựoc xem như một yếu tốt thựuc thụ có ảnh huởng lên thị truờng. Ngoài ra, các cá nhân cũng có thể thành các nhân tốt tác động lên thị truờng khi họ tiếp cận và sử dụng ngoại -17- hối thông qua các cơ chế khác nhau, kể cả thị trường tưong lai và việc mua bán các trái phiếu và cổ phiếu nước ngoài. Một điều hiển nhiên phải thừa nhận rằng: các nhà kinh doanh chuyên nghiệp, các công ty, các nhà quản lý quỹ, các ngân hàng và các cá nhân hoạt động trên thị trường ngoại hói kiếm tiền dựa trên sự biến động của tỷ giá. Đối với những đối tượng này, thì thị trường ngoại hối kiếm tiền dựa trên sự biến động của tỷ giá. Khi tỷ giá biến động sẽ tạo ra cơ hội để nhà đầu cơ kiếm được tiền. Ngược lại đối với những nhà xuất nhập khẩu, một thực tế là tỷ giá biến động có thể tăng hoặc giảm làm cho nhà xuất nhập khẩu có thể phát sinhlãi hay lỗ; nhưng những nhà kinh doanh xuất nhập khẩu không phải là các chuyên gia tiền tệ, họ không thể kiếmlãi từ sự biến động tỷ giá, họ là những người ngại rủi ro tỷ giá. Họ thường mong muốn tỷ giá được ổn định hoặc cố định từ truớc để tập trung vào việc thực hiện hợp động thương mại. Về lý thuyết, biến động tỷ giá có thể tác động đến doanh nghiệp theo nhiều cách và được đo lường bằng độ nhạy cảm đối với rủi ro tỷ giá. Nguy cơ độ nhạy cảm tỷ giá có thể xảy ra cho bất kỳ doanh nghiệp nào – thậm chí xảy ra với cả những doanh nghiệp mà tất cả các hoạt động kinh doanh của họ không liên quan gì đến bất cứ một loại ngoại tệ nào. Vậy nguồn gốc của rủi ro tỷ giá xuất phát từ đâu? Nguy cơ độ nhạy cảm tỷ giá bắt nguồn từ các giao dịch thương mại. Đây là loại nguy cơ độ nhạy cảm tỷ giá phổ biến nhất mà các doanh nghiệp gặp phải do hoặc phải trả tiền cho người cung cấp hoặc bán hàng và thu về một đồng tiền khác với đồng tiền nước mình, thông qua các giao dịch như: - Mua nguyên vật liệu cho sản xuất kinh doanh trả tiền bằng ngoại tệ, hoặc - Bán sản phẩm thu tiền bằng ngoại tệ. Nguy cơ rủi ro kiểu này là rất quan trọng bởi vì những biến động ngoại hối có thể ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Nguy cơ rủi ro này có thể định lượng được và do vậy doanh nghiệp thường hiểu rất rõ về nó. Để minh họa tác động tiềm ẩn của độ nhạy cảm giao dịch đối với các rủi ro tỷ giá, hãy xem các nhà xuất khẩu Mỹ đã bán sản phẩm của họ cho các nước châu Á trong suốt cuộc khủng hoảng 1997 – 1998, khi một vài đồng tiền các nước châu Á giảm giá khoảng 80%. Nếu các nhà xuất khẩu thu tiền bằng tiền của các nước châu Á, thì dòng tiền của họ có thể ít hơn 80% so với dự định. Nếu các nhà xuất khẩu thu tiền bằng USD họ sẽ không phải gánh chịu nhạy cảm giao dịch đối với rủi ro tỷ giá. Trong trường hợp này, các công ty nhập -18- khẩu ở các nước châu Á lại chịu rủi ro này. Tác động của sự thay đổi lớn trong giá trị tiền tệ có thể tàn phá các công ty kinh doanh chủ yếu dựa vào giao dịch quốc tế. Nguy cơ độ nhạy cảm tỷ giá từ các chi nhánh tại nước ngoài. Nếu một công ty có một công ty con (chi nhánh) tại nước ngoài, thì công ty đó phải đối mặt với một nguy cơ rủi ro đối với đồng tiền tại nước mà chi nhánh của nó đang hoạt động. Nguy cơ loại này được thể hiện thông qua hai dạng đặc trưng sau: Chuyển lợi nhuận – giá trị tiền tệ của công ty mẹ về một dòng lưu chuyển lợi nhuận không đổi từ công ty con sẽ thay đổi cùng với bất kỳ sự thay đổi nào về tỷ giá giữa hai nước. Do vậy nó sẽ tác động đến báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất của công ty đó. Nguy cơ từ bảng cân đối kế toán – giá trị bảng cân đối kế toán của công ty con tính theo đồng tiền của công ty mẹ sẽ biến động theo tỷ giá. Biến động đó không ảnh hưởng tới báo cáo kết quả kinh doanh của công ty nhưng nó có thể làm thay đổi các tỷ số tài chính quan trọng như các tỷ số đòn bẩy tài chính (sử dụng nợ). Tương tự, nguy cơ rủi ro có thể cảm nhận được rất rõ ràng nếu công ty mẹ quyết định bán công ty con đi bởi vì giá trị của khoản tiền thu được đối với công ty mẹ sẽ thay đổi theo tỷ giá hối đoái. Loại nguy cơ rủi ro này là loại mà chính công ty con không gặp phải nhưng lại ảnh hưởng tới các tài khoản của công ty mẹ. Có thể có những dự đoán tương đối hợp lý về quy mô của những nguy cơ rủi ro kiểu này. Minh họa trong thực tiễn cuộc khủng hoảng tài chính châu Á tác động đến độ nhạy cảm chuyển đổi đối với rủi ro tỷ giá. Thu nhập hợp nhất của công ty Black & Decker, công ty Coca-Cola cũng như những công ty khác của Mỹ rất nhạy cảm đối với tỷ giá hối đoái bởi vì hơn 1/3 tài sản và doanh số của các công ty này là ở nước ngoài. Khi các đồng ngoại tệ giảm giá so với đô la thì thu nhập của các công ty mẹ cũng giảm theo. Trong giai đoạn từ 1985 – 1988 khi đồng đô la yếu thì thu nhập của các công ty mẹ tại Mỹ gặp thuận lợi do tác động đồng đô la yếu bởi vì các khoản thu nhập từ nước ngoài chuyển về Mỹ được tính theo tỷ giá cao hơn. Trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, đồng tiền của các quốc gia này giảm giá hơn 50% so với đồng đô la làm cho ngoại tệ của các công ty con đặt tại châu Á chuyển sang đô la ít hơn phân nửa so với dự kiến trước đây. Tác động của khủng hoảng này cũng ảnh hưởng dây chuyền đến đồng yên Nhật làm cho đồng yên yếu đi. Kết quả là thu nhập của các công ty con Mỹ đang hoạt động tại Nhật khi chuyển sang đô la cũng giảm đáng kể. -19- Theo đánh giá của tổ chức tư vấn nghiên cứu thế giới (WRA), tổng cộng thu nhập các công ty giảm khoảng 20 tỷ đô la trong quý 3/1998 chỉ với lý do đồng tiền các nước châu Á giảm giá so với đô la. Nguy cơ độ nhạy cảm tỷ giá từ các khoản vay bằng ngoại tệ: Thông thường các doanh nghiệp có nhiều khả năng tiếp cận với các nguồn vốn bằng các loại ngoại tệ khác với đồng nội tệ của nước mình với các mức lãi suất rất cạnh tranh. Sở dĩ như thế là do ngày càng có nhiều những lời chào mời cho vay cạnh tranh hơn bằng các đồng tiền khác, hay đơn giản bởi vì các mức lãi suất tuyệt đối của các đồng tiền khác là thấp hơn. Các khoản vay như vậy đã đẩy công ty tới nguy cơ rủi ro về độ nhạy cảm tỷ giá – khi phải thanh toán lãi vay, nhưng quan trọng hơn là khi hoàn trả khoản vốn vay cuối cùng. Nhiều công ty ở các nước châu Á đã thấm thía như thế nào khi chứng kiến thảm cảnh chi phí cho việc dùng đồng nội tệ để hoàn trả các khoản vay mà họ đã vay bằng đồng USD đến ngày trả nợ lại tăng lên đáng kể. =>Nguy cơ rủi ro loại này thường là do công ty tự nguyện lâm vào và cũng dễ định lượng. Nguy cơ độ nhạy cảm từ các chiến lược. Loại nguy cơ này thường là rất không rõ ràng, nhưng tiếp theo những bất ổn tiền tệ mà chúng ta đã từng chứng kiến trong khoảng một thập niên nay, thì nhiều công ty sẽ vô cùng cay đắng để nhận thức ra sự thật phũ phàng này. Loại nguy cơ rủi ro này có thể tác động đáng kể đến khả năng cạnh tranh và do vậy ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của một công ty. Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, tỷ giá hối đoái giữa các quốc gia trong khu vực đã thay đổi đột ngột và do vậy khả năng cạnh tranh tương đối của các công ty sản xuất những sản phẩm tương tự nhau ở các quốc gia khác nhau cũng đã thay đổi. Đáp ứng nhu cầu của những nhà xuất nhập khẩu, các NHTM đã cung cấp các nghiệp vụ ngọai hối phái s inh bao gồm: kỳ hạn, hoán đổi, tuơng lai, và quyền chọn.Vịệc sử dụng các công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trước rủi ro tỷ giá rất hữu hiệu bằng những giao dịch kỳ hạn, không những vậy qua các hợp đồng phái sinh các nhà đầu cơ có thể kiếm lợi từ những hợp đồng tuơng lai hoặc quyền chọn. II. Phòng ngừa rủi ro tỷ giá và đầu cơ từ những hợp đồng phái sinh Các nghiệp vụ ngoại hối phái s inh (Currency Derivatives) hay còn được gọi là các nghiệp vụ ngoại hối hiện đại, nó bao gồm các nghiệp vụ; Kỳ hạn, Tương lai, quyền chọn và hoán đổi(Forward,Futures ,Options,Swaps). Thị trường này trên thế giới đã được thực hiện -20-
- Xem thêm -