So sánh tu từ trong thơ nguyễn bính

  • Số trang: 46 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 30 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BỘ MÔN NGỮ VĂN VÕ THỊ KIM THƯƠNG SO SÁNH TU TỪ TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành ngữ văn Cán bộ hướng dẫn: Ths. NGUYỄN THỊ THU THỦY Cần Thơ, tháng 5 năm 2011 ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT PHẦN MỞ ĐẦU…………………………………………………………… 1. Lí do chọn đề tài……………………………………………………. 2. Lịch sử vấn đề…………………………………………………........ 3. Phạm vi nghiên cứu………………………………………………… 4. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………… PHẦN NỘI DUNG…………………………………………………………. Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SO SÁNH TU TỪ VÀ NHÀ THƠ NGUYỄN BÍNH 1.1. Khái niệm về so sánh tu từ…………………………………………. 1.1.1 So sánh tu từ…………………………………………………… 1.1.2 Những khái niệm về so sánh tu từ của các tác giả ngôn ngữ …. 1.2. Phân loại……………………………………………………………. 1.2. Quan niệm của tác giả Hữu Đạt………………………………..... 1.2.2 Quan niệm của tác giả Cù Đình Tú……………………………. 1.2.3 Quan niệm của tác giả Đào Thản……………………………..... 1.2.4 Quan niệm của tác giả Đinh Trọng Lạc……………………….. 1.2.5 Quan niệm của tác giả Nguyễn Văn Nở……………………….. Chương 2: VẤN ĐỀ SO SÁNH TU TỪ TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH 2.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác…………………………… 2.1.1 Về cuộc đời……………………………………………………... 2.1.2 Sự nghiệp sáng tác……………………………………………… Chương 3:NGHỆ THUẬT SO SÁNH TU TỪ TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH 3.1 Hình thức so sánh tu từ trong thơ Nguyễn Bính……………………… 3.2 Những chất liệu so sánh tu từ trong thơ Nguyễn Bính………………... KẾT LUẬN………………………………………………………………….... TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………….. MỤC LỤC……………………………………………………………………. PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI. Nguyễn Bính (1916 - 1966) là một trong những nhà Thơ mới xuất sắc của Phong trào Thơ mới 1932 - 1945. Ngay từ khi ra đời thơ Nguyễn Bính đã gây được sự chú ý quan tâm của độc giả. Và thơ ông thời kỳ này vinh dự nhận rất nhiều giải thưởng, Thơ mới Nguyễn Bính rất phổ biến trong dân gian. Nhiều bài thơ, câu thơ Nguyễn Bính trở thành lời hát ru. So với các nhà thơ lãng mạn trước Cách mạng, Nguyễn Bính đứng riêng một cõi. Một phong cách thơ đặc biệt khó nhầm lẫn với những nhà thơ khác. Những tình tự yêu đương, cách trở, nhớ nhung, đợi chờ, giận dỗi…chẳng xa lạ gì với Thơ mới, nhưng chỉ ở Nguyễn Bính mới có cái vị “hương đồng cỏ nội” gần gũi với mỗi người Việt Nam. Ở đâu đó ta như thấy thấp thoáng con đê đầu làng, giậu mùng tơi, bến đò, hàng cau… Tất cả những hình ảnh đó đã vẽ nên một bức tranh toàn cảnh vùng nông thôn bình dị mà chan chứa nghĩa tình. Hình ảnh trong thơ Nguyễn Bính mộc mạc chất phác, ngôn ngữ thơ dung dị gần gũi tạo cho ta cảm giác như quay về với cội nguồn dân tộc. Đặc biệt là thơ ông luôn sử dụng biện pháp tu từ mang một nét rất riêng so với các nhà thơ khác và nó đã một phần nào tạo nên một phong cách độc đáo “rất Nguyễn Bính”. Vì thế mà người viết đã chọn đề tài “So sánh tu từ trong thơ Nguyễn Bính” cho bài tiểu luận tốt nghiệp của mình. 2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ Thơ Nguyễn Bính từ khi xuất hiện trên thi đàn đã gây nhiều xúc động cho độc giả và sức ảnh hưởng của thơ ông thu hút nhiều đối tượng khác nhau. Chính vì thế nhiều bài phê bình nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính được tuyển chọn và in ấn giới thiệu cho đến nay nó vẫn là đề tài nghiên cứu khá hấp dẫn của nhiều nhà phê bình văn học. Do đó người viết sẽ tuyển chọn và tóm lược những công trình nghiên cứu liên quan đề tài “So sánh tu từ trong thơ Nguyễn Bính”. Trước hết ta phải kể đến nhà phê bình Hoài Thanh với cuốn Thi nhân Việt Nam. Ông nhận định thơ Nguyễn Bính ở phương diện phong cách là “Nguyễn Bính vẫn còn giữ được bản chất phong cách nhà quê nhiều lắm. Và thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta”[10, 336]. Hoài Thanh thì nhận định “ Giá Nguyễn Bính sinh ra ở thời trước, tôi chắc người đã làm những câu ca dao mà dân quê vẫn hát quanh năm và những tác phẩm của người, bây giờ đã có vô số những nhà thông thái nghiên cứu[10,337]. Ông còn nói thêm rằng “giữa những bài giống hệt ca dao bỗng chen vào một đôi lời quá mới. Ta thấy khó chịu như khi vào một ngôi chùa có những ngọn đèn điện trên bàn thờ Phật. Cái lối gặp gỡ ấy của hai thời đại rất dễ trở nên lố lăng [10,338]. Vì thế tác giả “Thi nhân Việt Nam” Hoài Thanh nhận định phong cách thơ Nguyễn Bính còn chưa thật sự thuần nhất nhưng không gì có thể phủ nhận sự đóng góp lớn lao của nhà thơ Nguyễn Bính trong nền văn học Việt Nam. Ngoài cuốn Thi nhân Việt Nam còn có công trình nghiên cứu, bài viết về thơ Nguyễn Bính “Nguyễn Bính – tác phẩm và dư luận”. Sách do Tôn Thảo Miên biên soạn, nhà xuất bản Văn học ấn hành 2002. Trong cuốn sách này tập hợp nhiều bài phê bình của các học giả tên tuổi nghiên cứu viết về Nguyễn Bính và thơ Nguyễn Bính. Trong đó có những bài viết, phê bình và nhận định đáng chú ý sau: GS. Lê Đình Kỵ với bài viết Nguyễn Bính - thơ của truyền thống của thế hệ ông nhận định thơ Nguyễn Bính: “đã làm nên kho tàng ca dao vô giá của dân tộc. Nổi bật lên ở Nguyễn Bính là ca dao, cả cảm xúc lẫn tư duy, cả ý, tình, điệu và còn thơ Nguyễn Bính không chỉ giống ca dao ở cái vỏ bên ngoài, mà đã tiếp thu được phần hồn của nó, được thể hiện vào những câu ca dao hay nhất [12,139] Đoàn Hương với bài viết Nguyễn Bính - thi sĩ nhà quê nhận định: “Nàng thơ của Nguyễn Bính không chỉ nhà quê ở dáng vẻ bên ngoài mà nàng làm chúng ta say mê bởi cái tình quê chân thật, bẽn lẽn và trinh nguyên ở ngoài. Những bài thơ của Nguyễn Bính có một dáng hình riêng, mà đến những năm cuối thế kỉ này nhìn nhận lại thì có thể rằng trên thi đàn của thế kỉ XX chỉ có mình Nguyễn Bính là có được. Ông cũng đã nhận định rằng thơ Nguyễn Bính có sự kế thừa thi pháp văn học dân gian. Đã có công cách tân thi pháp dân tộc, đem thi pháp thơ ca dân gian vào trong thơ ca hiện đại để chuyển tải những nội dung trữ tình trong thơ ca hiện đại Việt Nam” Hà Minh Đức có bài Nguyễn Bính nhà thơ chân quê ông cho rằng bút pháp Nguyễn Bính “không theo khuynh hướng tả chân”[11,12]. Về thi pháp thơ Nguyễn Bính đã có sự kế thừa thi pháp truyền thống kết hợp cách tân sáng tạo: “Ông là nhà thơ đầu tiên trong thi đàn hiện đại của thế kỉ này dung hình thức của thơ ca dân gian (đặc biệt là của ca dao, dân ca) để chuyển tải nội dung thẩm mĩ của thơ mới”[11,12] Theo Đoàn Đức Phương với bài thơ Thơ Nguyễn Bính với nghệ thuật biểu hiện đậm đà sắc thái văn hóa dân gian đã viết: “Nguyễn Bính có lối tư duy hết sức dân dã, cách cảm nghĩ của nhà thơ luôn là của đông đảo người bình dân”[15,316]. Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh, màu sắc, nhạc điệu. Nguyễn Bính đã sử dụng thành thạo các biện pháp tu từ mà thơ dân gian hay dùng “Với năng lực tưởng tượng và liên tưởng rất dồi dào, Nguyễn Bính đã tạo ra những hình ảnh ví von, so sánh nhân hóa thật sinh động – đó thực sự là những kết hợp mới lạ, bất ngờ như những phát hiện riêng của tác giả luôn làm người đọc thích thú”[16,322]. Từ góc độ phong cách học với các công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề biện pháp so sánh tu từ, trước hết chúng ta phải kể đến tác giả Đinh Trọng Lạc - Nguyễn Thái Hòa trong cuốn “Phong cách Tiếng Việt “ nhà xuất bản giáo dục năm 1997, Hữu Đạt trong “Phong cách học tiếng Việt hiện đại” nhà xuất bản Đại học quốc gia, Hà Nội 2002, tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt” nhà xuất bản giáo dục năm 1998. Tác giả Nguyễn Văn Nở trong quyển giáo trình “Phong cách học tiếng Việt” Đại học Cần Thơ…Các tác giả đưa ra nghiên cứu về giúp chúng tôi cơ sở lí thuyết dễ dàng đi sâu tìm hiểu nghiên cứu đề tài “So sánh tu từ biện pháp so sánh tu từ đã nêu định nghĩa, đặc điểm, phân loại và các công trình đã trong thơ Nguyễn Bính”. 3. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU NGHIÊN CỨU Hình ảnh so sánh trong thơ Nguyễn Bính được sử dụng rất phổ biến. Trong thơ ông, ta bắt gặp khá nhiều hình ảnh so sánh tu từ. Vì thế nguời nghiên cứu cần phải nắm vững và hiểu rõ biện pháp so sánh tu từ. Để làm được điều đó người nghiên cứu phải tìm hiểu chất liệu, hình thức và cấu trúc của hình ảnh so sánh tu từ mà Nguyễn Bính sử dụng. Từ đó ta thấy được cái hay, cái độc đáo trong cách sử dụng hình ảnh so sánh tu từ trong thơ Nguyễn Bính. 4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đây là đề tài nghiên cứu “So sánh tu từ trong thơ Nguyễn Bính” Do vậy, phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung ở phần “so sánh tu từ”. Đối tượng nghiên cứu tập trung trong các tập thơ như: Tâm hồn tôi, Lỡ bước sang ngang, Mười hai bến nước…Từ những tư liệu tập hợp được người viết đi sâu vào khảo sát hình thức, chất liệu, hình ảnh so sánh trong thơ Nguyễn Bính để tìm ra cái riêng, cái độc đáo trong thơ ông bằng những phân tích dẫn chứng cụ thể. 5. PHƯƠNG HƯỚNG NGHIÊN CỨU Trong quá trình nghiên cứu người viết thực hiện các thao tác sau: phương pháp thống kê, phân loại, phân tích – tổng hợp, cụ thể: Trước hết tập hợp các tài liệu về biện pháp tu từ, các tài liệu nghiên cứu về Nguyễn Bính sau đó chọn lọc làm tư liệu nghiên cứu. Kế đến người viết tiến hành thống kê, khảo sát tìm xem trong các tập thơ những đoạn thơ nào có sử dụng so sánh tu từ rồi tập hợp, tiến hành phân tích chúng để chỉ ra cái hay, cái độc đáo của của Nguyễn Bính trong việc sử dụng các hình ảnh so sánh, cấu trúc so sánh và hình thức so sánh mà tác giả sử dụng. PHẦN NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SO SÁNH TU TỪ VÀ NHÀ THƠ NGUYỄN BÍNH 1. 1. So sánh tu từ Trong văn chương hình ảnh so sánh tu từ vẫn luôn hiện diện và sử dụng với tần số khá cao. Nhà thơ Tố Hữu cũng đã sử dụng lối so sánh này rất đạt trong bài “Kính gửi cụ Nguyễn Du” Ngẩn ngơ trông ngọn cờ đào Đành như thân gái sóng sao Tiền Đường Khi mà trong cuộc sống hàng ngày những câu nói được xuất phát ra ngỡ như là bình thường “Đẹp như ma”, chúng ta không ngờ rằng ta đã vận dụng một phép tu từ. Và trong văn học dân gian thường lấy những sự vật cụ thể hoặc hình tượng tự nhiên làm chuẩn mực so sánh nhằm cụ thể hóa những hiện tượng trừu tượng. (1) Đôi ta như lửa mới nhen Như trăng mới mọc như đèn mới khêu (Ca dao) (2) Nước da nâu và nụ cười bỡ ngỡ Em như bảy sắc cầu vòng hiện sau mưa (Lưu Quang Vũ) Ta thấy rằng đôi ta và lửa mới nhen, trăng mới mọc, đèn mới khêu phải có một nét chung để gắn kết chúng lại, mới có thể đưa ra so sánh được. Nét chung giữa đôi ta và lửa mới nhen, trăng mới mọc, đèn mới khêu ấy chính là nét mới, trẻ trung, tràn đầy sức sống, báo hiệu một tương lai rực rỡ, tình cảm nồng đượm và tha thiết của tình yêu đôi lứa. Và trong ví dụ (2) vì em và cầu vồng đều có vẻ đẹp lộng lẫy, rực rỡ và quyến rũ, nên hai đối tượng ấy mới có thể đặt trong cùng một bình diện để tiến hành so sánh như vậy. Từ những ví dụ trên ta thấy được nét tương đồng chính là sự giống nhau nổi bật nhất mà tác giả cảm nhận được về hai sự vật, hiện tượng. Trên thực tế, giữa hai đối tượng đưa ra so sánh có nhiều điểm tương đồng. Và như thế so sánh tu từ là cách đối chiếu hai hay nhiều đối tượng có một nét tương đồng nào đó về hình thức bên ngoài hay tính chất bên trong để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe. 1.1.2 Những định nghĩa về so sánh tu từ của các tác giả ngôn ngữ So sánh tu từ là biện pháp nghệ thuật được sử dụng nhiều trong ngôn ngữ nói và viết. Đặc biệt trong văn bản nghệ thuật mà nhất là trong thơ ca. Vì thế, biện pháp nghệ thuật của so sánh tu từ từ trước đến nay rất thu hút nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Tuy nhiên, khi nghiên cứu và khảo sát về biện pháp nghệ thuật so sánh tu từ mỗi tác giả lại có các định nghĩa riêng và không hoàn toàn giống nhau. Đầu tiên ta khảo sát định nghĩa của tác giả Hữu Đạt trong Phong cách học Tiếng Việt hiện đại quan niệm: “So sánh là đặt hai hay nhiều sự vật, hiện tượng vào các mối quan hệ nhất định nhằm tìm ra các sự giống nhau và khác biệt giữa chúng”[1, 294] Tác giả Cù Đình Tú trong quyển Phong cách học và đặc điểm tu từ Tiếng Việt quan niệm “So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của đối tượng” [13,175] Tác giả Đào Thản trong quyển Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật đưa ra định nghĩa: “So sánh là lối nói đối chiếu hai sự vật hoặc hai hiện tượng có một hay nhiều dấu hiệu giống nhau về hình thức bên ngoài hay tính chất bên trong. Lối đối chiếu như vậy được dùng với mục đích giải thích, miêu tả, đánh giá và biểu lộ tình cảm về đối tượng được nói đến”[9,123] Tác giả Bùi Tất Tươm trong quyển Giáo trình Tiếng Việt viết: “So sánh tu từ là sự đối chiếu hai hay nhiều đối tượng khác loại, giống nhau một thuộc tính nào đó nhằm biểu hiện một cách hình ảnh, biểu cảm đặc tính của đối tượng”[11,344] Theo tác giả Đinh Trọng Lạc trong quyển 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt viết: “So sánh (còn gọi: so sánh hình ảnh, so sánh tu từ) là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác lại trên thực tế khách quan đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng”[4,154] Tác giả Nguyễn Văn Nở trong quyển Giáo trình phong cách Tiếng Việt định nghĩa: “So sánh tu từ là cách đối chiếu hai hay nhiều đối tượng (hoặc sự vật) có một nét tương đồng nào nào đó về hình thức bên ngoài hay tính chất bên trong để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẫm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe” [7,57] Chúng ta thấy rằng mỗi tác giả đều có những định nghĩa và quan niệm riêng của mình về biện pháp so sánh tu từ. Nhưng nhìn chung thì mỗi định nghĩa đều có một số nét tương đồng nhất định. Chẳng hạn như: So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu giữa hai đối tượng khác nhau và hai đối tượng ấy đem ra đối chiếu thì đều có những nét tương đồng nào đấy. Và trong số các định nghĩa thì định nghĩa của tác giả Cù Đình Tú và tác giả Nguyễn Văn Nở có tính khái quát hơn. Bởi vì trong thực tế văn học các nhà thơ, nhà văn không thể chỉ đối chiếu một đối tượng này với một đối tượng khác mà có khi người ta còn có sự đối chiếu giữa đối tượng với nhiều đối tượng khác. 1.2. Phân loại 1.2.1Quan niệm của tác giả Hữu Đạt Mô hình khái quát của phép so sánh có thể hình dung như sau A–X–B A: cái chưa biết được đem ra so sánh B: cái đã biết đem ra để so sánh X: phương tiện so sánh Tác giả Hữu Đạt đã chia so sánh ra làm 6 loại hình so sánh dựa vào mặt cấu trúc hoạc dựa vào mặt ngữ nghĩa của nó - So sánh không có từ so sánh Mô hình: A – B các biến thể: A- B1, B2… A1, A2…B Phổ biến là dạng: A- B & A- B1, B2… Ví dụ: Bác ngồi đó lớn mênh mông Trời cao biển rộng ruộng đồng nước non - So sánh có từ so sánh Mô hình: A x B các biến thể: A x B1, B2… A x B1, B2… Phổ biến là dạng: Ax B, A x B1, B2, A x B1 x B2... Ví dụ: Đẹp như tiên, hôi như cú Nhanh như cắt, chậm như rùa - So sánh ngang bằng Ví dụ : Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu - So sánh bậc hơn kém Ví dụ : Kiều càng sắc sảo mặn mà So bề tài sắc lại là phần hơn Làn thu thủy nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh ( Truyện Kiều – Nguyễn Du) - So sánh cao nhất, bậc tuyệt đối Ví dụ: Đại đội thanh niên xung phong đi lấp hố bom Aó em hình như trắng nhất ( Phạm Tiến Duật) - Sự phát triển của thủ pháp so sánh: Thi pháp so sánh với tính cách là một biện pháp tu từ luôn luôn vận động và phát triển và phát triển theo quá trình phát triển của tư duy và quá trình hoàn thiện các phong cách chức năng trong tiếng Việt. Qúa trình này được thể hiện qua sự biến đổi về cấu trúc hình thức và nội dung ngữ nghĩa bên trong của phép so sánh. + Về mặt hình thức: Trong thời kì hiện đại, phép so sánh có chiều hướng phát triển về độ dài cấu trúc dưới các dạng sau: A x B (ca dao) A x B x C (thơ hiện đại) A x B1 x B2 x B3 Ví dụ: Anh em cùng mẹ một cha AxB Cũng như cây cọ sinh ra nhiều cành (Ca dao) Nhớ em như một vết thương Trong lòng như vỡ mảnh gương trong lòng (Xuân Diệu) + Về mặt nội dung ngữ nghĩa thì ông đưa ra các dạng biến thể từ ca dao sang phong cách nghệ thuật thơ hiện đại. A - B : trừu tượng – cụ thể A - B : trừu tượng – trừu tượng A - B : cụ thể - cụ thể A - B : cụ thể - trừu tượng Ví dụ: A–x - B (trừu tượng) – ( trừu tượng) Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng Nghe xuân đến chim rừng lông trở biếc Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương (Chế Lan Viên) Ví dụ: A-x – B (cụ thể) – ( cụ thể) Quả cà chua như cái đèn lồng nhỏ xíu Thắp mùa đông ấm những đêm thâu ( Phạm Tiến Duật) 1.2.2 Quan niệm của tác giả Cù Đình Tú So sánh tu từ của tác giả Cù Đình Tú chia ra làm 2 phần nội dung và hình thức. Về mặt nội dung ông chia ra làm 2 loại so sánh: so sánh chìm và so sánh nổi. Về mặt hình thức ông chia làm các loại sau: - A như( tựa như, chừng như…) B Ví dụ: Đôi ta làm bạn thong dong Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng ( Ca dao) - A bao nhiêu B bấy nhiêu Ví dụ: Qua cầu ngả nón trông cầu Cầu bao nhiêu nhịp thương mình bấy nhiêu - A là B Ở kiểu so sánh này, từ là có ý nghĩa và có giá trị tương đương từ so sánh “như” nhưng có ý nghĩa sắc thái khác. “Như” có sắc thái giả định, còn “là” có sắc thái khẳng định. Ví dụ: - Lũ đế quốc như là bầy dơi hốt hoảng ( sắc thái phủ định) - Lũ đế quốc là bầy dơi hốt hoảng( sắc thái khẳng định) Do yêu cầu của vần luật cho nên trong thơ ca người ta không dùng từ so sánh như, tựa như ... mà để khuyết : Ví dụ : Bác ngồi đó, lớn mênh mông Trời xanh, biển rộng ruộng đồng nước non... ( Tố Hữu) 1.2.3 Quan niệm của tác giả Đào Thản - So sánh hơn kém So sánh hơn kém là đối chiếu hai vế so sánh với nhau nhưng qua mối quan hệ được khẳng định lại là hơn hẳn hoặc không thể bằng, mặc dù cái dùng để so sánh thường có tính chất lí tưởng và nói chung kiểu so sánh này gần như lối nói ngoa dụ[ 9,13] Ví dụ : Có gì đẹp trên đời hơn thế Người yêu người sống để yêu nhau ( Tố Hữu) - So sánh ngang bằng Đây là loại so sánh mà giữa hai đối tượng và cái để so sánh thường có những từ biểu thị quan hệ so sánh như : như là, như thể, tựa, tựa như...[9,131] Ví dụ : Cổ tay em trắng như ngà Con mắt em liếc như là dao cau Miệng em cười như thể hoa ngâu (Ca dao) Các từ so sánh khác như: khác nào, khác gì, khác nữa, cầm bằng, bằng, cũng bằng được xếp vào nghĩa gần bằng với giống như Ví dụ : Có chồng mà chẳng có con Khác gì hoa nở trên non một mình ( Ca dao) - So sánh không dùng biện pháp so sánh Biện pháp so sánh này này nhằm mục đích khẳng định cái so sánh như một điều tất yếu và “thay thế vào chỗ đó có thể là sự ngắt câu trong khi viết hoặc ngắt hơi trong khi nói” [9,133] Ví dụ: Gái thương chồng đương đông buổi chợ Trai thương vợ nắng quái chiều hôm ( Ca dao) 1.2.4 Quan niệm của tác giả Đinh Trọng Lạc Căn cứ vào từ ngữ dùng làm yếu tố, thể hiện quan hệ so sánh, tác giả Đinh Trọng Lạc phân chia các hình thức so sánh như: - yếu tố so sánh là từ như ( tựa như, chừng như,...) Ví dụ: Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu ( Ca dao) - Yếu tố so sánh là từ “ là’’ Ví dụ: Chúng chỉ là hòn đá tảng trên trời Chúng em chuột nhắt cứ đòi lung lay ( Ca dao) 1.2.4 Quan niệm của tác giả Nguyễn Văn Nở Căn cứ vào từ chỉ quan hệ so sánh tác giả phân loại so sánh tu từ thành các hình thức sau : - A như ( tựa như, chừng như,…) B Ví dụ: Thân em như cá giữa rào Kẻ chài người lưới biết vào tay ai (Ca dao) - A bao nhiêu B bấy nhiêu Ví dụ: Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu ( Ca dao) - A là B Ví dụ: Em là gái trong song cửa Anh là mây bốn phương Anh theo cánh gió chơi vơi Em vẫn nằm trong nhung lụa (Một mùa đông- Lưu Trọng Lư) - A ( ẩn từ so sánh) B Ví dụ: Tất đất, tất vàng Mỗi tác giả đều có những quan niệm riêng nhưng trên cơ bản thì các tác giả Cù Đình Tú, Nguyễn Văn Nở có sự phân chia giống nhau ở 3 kiểu loại: A như B, A là B, A bao nhiêu B bấy nhiêu. Còn hai tác giả Hữu Đạt, Đào Thản có chung quan niệm: So sánh không có từ so sánh, so sánh hơn kém, so sánh ngang bằng. Nhìn chung giữa các tác giả có sự phân chia chưa thống nhất với nhau. Nhưng những quan niệm này đều cho ta thấy rằng vấn đề phân loại so sánh tu từ rất đa dạng mỗi tác giả đều mang một nét riêng tạo nên sự phong phú cho quá trình chúng ta khảo sát và tìm hiểu. Chương 2: VẤN ĐỀ SO SÁNH TU TỪ TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH 2.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác 2.1.1 Về cuộc đời Nguyễn Bính tên thật là Nguyễn Trọng Bính sinh năm 1918 tại làng Thiện Vịnh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định trong một gia đình nhà Nho nghèo. Cha là Nguyễn Đạo Bình (ông Cả Biền) là một ông đồ Nho. Thuở nhỏ Nguyễn Bính học với cha và sau là cậu ruột Bùi Trình Khiêm nuôi dạy. Vì thế Nguyễn Bính có một vốn chữ Hán để thưởng thức những bài thơ cổ và sáng tác một vài câu thơ bằng thứ chữ của thánh hiền. Nguyễn Bính mồ côi mẹ, cảnh nhà lại quá túng thiếu, khi mới hơn mười tuổi đã rời quê đi kiếm sống. Lúc đầu ông lên Thái Nguyên theo một người bạn năm 1933, lúc ấy Nguyễn Bính mới được mười lăm tuổi. Tuy ở huyện Đồng Hỉ nhưng vì không đủ sống nên anh bỏ về Hà Nội đi bán báo rồi sau một thời gian theo người anh cả Nguyễn Mạnh Phác về Hà Đông. 2.1.2 Sự nghiệp sáng tác Nguyễn Bính có năng khiếu thơ từ nhỏ, năm 13 tuổi đã được giải nhất trong một cuộc thi thơ đầu xuân ở hội làng. Bài thơ được đăng báo đầu tiên là bài Cô hái mơ. Năm 1937, gửi tập thơ Tâm hồn tôi dự thi và đã được giải thưởng của Tự lực Văn đoàn. Từ đó, ông liên tiếp có thơ in trên nhiều báo chí. Trong ba năm, từ 1940 đến 1942, Nguyễn Bính cho ra mắt bạn đọc khắp Bắc Trung Nam liền bảy tập thơ. Với những thi phẩm đó các tập thơ gắn liền với tên tuổi của ông “Lỡ bước sang ngang”, “Tâm hồn tôi”, “Mười hai bến nước”… Vở kịch thơ Bóng giai nhân Nguyễn Bính soạn theo phác thảo ban đầu của Yến Lan (1942) đã được dựng ở Hà Nội, Hải Phòng, Huế. Năm 1943, lần thứ ba Nguyễn Bính rời đất Bắc đi về phương Nam. Đầu năm 1947, Nguyễn Bính tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ. Sau một thời gian phụ trách Hội Văn hóa Cứu quốc tỉnh Rạch Gía, phó chủ nhiệm tỉnh bộ Việt Minh tỉnh Rạch Gía, Nguyễn Bính nhận công tác ở cơ quan Văn nghệ khu Tám. Thời gian này Nguyễn Bính sáng tác khá kịp thời và đều đặn, cổ động tinh thần yêu nước quyết chiến quyết thắng, giết giặc lập công…Những sáng tác như Ông lão mài gươm, Sóng biền cỏ, Trăng kia đã đứng ngang đầu, Mừng Đảng ra đời, Những dòng tâm huyết… Năm 1954, Nguyễn Bính tập kết ra Bắc, rồi về nhận công tác ở Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1956, Nguyễn Bính chủ trương báo tờ báo Trăm hoa. Từ 1955 đến 1962, Nguyễn Bính cho in hàng chục tác phẩm thơ. Chủ đề nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Bính vạch trần tội ác của bọn Mỹ Diệm, phản ánh tinh thần đấu tranh thống nhất đất nước. Năm 1958, Nguyễn Bính về Nam Định, tiếp tục sáng tác, sau đó nhận công tác tại Ty Văn hóa Thông tin Nam Định. Tại đây ông đã góp phần mình vào sự trưởng thành của phong trào sáng tác văn nghệ ở quê hương và bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương cũng như của cả nước. Ngoài sáng tác thơ ông còn viết hai vở chèo Cô Son và Người lái đò sông Vy bộc lộ tình cảm thiết tha đối với truyền thống nghệ thuật dân tộc. Mùa thu 1965, Nguyễn Bính theo cơ quan Ty Văn hóa Nam Hà sơ tán về huyện Lý Nhân. Ngay từ những ngày đầu giặc Mỹ leo thang chiến tranh ra miền Bắc, Nguyễn Bính đã có ngay một số bài thơ chống Mỹ, cứu nước. Ông mất đột ngột ngày 20- 11- 1966, khi ông vừa hoàn thành và cho in Bài thơ quê hương, một bài thơ có những nét báo hiệu một giai đoạn mới của đời thơ ông. Trong tinh thần luôn lấy việc sáng tác làm ý nghĩa cho cuộc sống của mình, Nguyễn Bính đã để lại một gia tài thơ đồ sộ và phong phú: bảy tập thơ, một vở kịch thơ, một truyện thơ( Tiếng trống đêm xuân) và hai vở chèo (Cô Son, 1961; Người lái đò sông Vị, 1964). Nhà thơ từng theo tiếng gọi của kiếp giang hồ lang thang đây đó trước cách mạng, đã hưởng lạc, đã bi quan, đã lạc quan và đã suy tư. Trong kháng chiến, Nguyễn Bính đã từng tham gia cách mạng nhà thơ đã đi theo tiếng gọi của quê hương dân tộc. Trong hơn ba mươi năm làm thơ, viết kịch, viết truyện, với một âm điệu giàu chất trữ tình dân gian, mộc mạc chân quê. Nguyễn Bính đã có những đóng góp đáng kể, tạo được một gương mặt riêng trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Chương 3: NGHỆ THUẬT SO SÁNH TU TỪ TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH 3.1. Hình thức so sánh tu từ trong thơ Nguyễn Bính So sánh là phép tu từ cũng lâu đời như nghệ thuật của các cách diễn đạt bóng bẩy. Trong thi ca mỗi nhà văn nhà thơ đều chọn cho mình một cách viết và sử dụng ngôn ngữ khác nhau. Trong đó có cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật của Nguyễn Bính. Qua khảo sát 6 tập thơ: “Lỡ bước sang ngang”, “Tâm hồn tôi”, “Một nghìn cửa sổ”, “Mây tần”, “Mười hai bến nước”,“Đêm sao sáng” gồm 59 bài thơ thì đã có 69 câu có sử dụng hình thức so sánh tu từ. Cách sử dụng hình thức so sánh tu từ này được nhà thơ vận dụng rất linh hoạt, đa dạng với các hình thức thể hiện như: A là B, A như B, A bao nhiêu B bấy nhiêu …Sau đây chúng ta đi sâu khai thác từng hình thức so sánh tu từ để hiểu thêm về cái hay, cái tinh tế trong việc sử dụng nghệ thuật so sánh tu từ trong thơ Nguyễn Bính. 3.1.2. Hình thức A là B Hình thức so sánh này được nhà thơ sử dụng có tần số khá cao. Qua khảo sát chúng tôi ghi nhận được có 14/69 câu chiếm 20,03% . Cách sử dụng hình thức này ở mỗi câu đều có ý nghĩa và mục đích sử dụng khác nhau. Nhìn chung nó đều có một tác dụng rõ ràng nhất là làm cho cái được so sánh rõ ràng hơn giúp cho câu thơ giàu hình ảnh, tạo được tính ấn tượng sâu. Đây cũng là hình thức so sánh đơn giản người đọc dễ nhận ra trên bề mặt ngôn từ. Với kiểu so sánh dùng từ so sánh “là” tác giả ngầm biểu hiện sự khẳng định mạnh mẽ. Ngoài ra, tác giả còn biểu lộ thái độ tình cảm rất cao. Người đọc dễ dàng liên tưởng và nhận ra giá trị ngôn từ mà thi sĩ Nguyễn Bính muốn gửi gắm tư tưởng tình cảm trong thơ thông qua hình thức so sánh tu từ. Cụ thể các câu thơ sau: 1. Tình tôi là giọt thủy ngân 2. Tình cô là đóa hoa đơn 3. Mùa xuân là cả một mùa xanh 4. Da thơm là phấn môi hường là son 5. Ban đầu là cái thắt lưng xanh 6. Em là cô gái trong khung cửi 7. Những lá tâm thư là sự sống
- Xem thêm -