So sánh mô hình nuôi cá lóc (channa striata) trong bể lót bạt và trong vèo ở huyện vị thủy tỉnh hậu giang

  • Số trang: 39 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 21 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN THANG THANH HÙNG SO SÁNH MÔ HÌNH NUÔI CÁ LÓC (Channa striata) TRONG BỂ LÓT BẠT VÀ TRONG VÈO Ở HUYỆN VỊ THỦY TỈNH HẬU GIANG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2012 1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN THANG THANH HÙNG MSSV: LT10098 MSL:TS1013L1 SO SÁNH MÔ HÌNH NUÔI CÁ LÓC (Channa striata) TRONG BỂ LÓT BẠT VÀ TRONG VÈO Ở HUYỆN VỊ THỦY TỈNH HẬU GIANG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN Ts. Lam Mỹ Lan Ths. Nguyễn Thanh Hiệu 2012 2 LỜI CẢM TẠ Trước hết xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản, Phòng Đào Tạo, Trường Đại Học Cần Thơ đã tạo điều kiện cho tôi học tập nghiên cứu trong thời gian qua. Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến.Ts Lam Mỹ Lan đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ động viên góp nhiều ý kiến quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường và hoàn thành luận văn tốt nghiệp. Xin chân thành cảm ơn Ths. Nguyễn Thanh Hiệu đã nhiệt tình giúp đỡ, góp nhiều ý kiến trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp. Xin chân thành cảm ơn chính quyền xã Vị Đông và xã Vị Bình Huyện Vị Thủy tỉnh Hậu Giang tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài. Cảm ơn tập thể lớp NTTS LT K36 đã cùng tôi đoàn kết gắn bó trong suốt thời gian học tập qua. Xin gửi lời cảm ơn các hộ dân đã tham gia thực nghiệm mô hình nuôi cá lóc trên bể lót bạt và trong vèo tại xã Vị Đông và xã Vị Bình Huyện Vị Thủy tỉnh Hậu Giang, tạo điều kiện và chia sẻ kinh nghiệm cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài. Xin bài tỏ lòng biết ơn đến gia đình, những người thân bạn bè tạo điều kiện cho tôi hoàn thành chương trình học. 3 TÓM TẮT Thực nghiệm nuôi cá lóc (Channa sp) trong vèo và trong bể lót bạt được thực hiện nhằm tận dụng diện tích nhỏ của các hộ nghèo để nuôi thủy sản, tạo thêm việc làm cho nông hộ giúp nông hộ cải thiện thu nhập. Mực nước trong bể được duy trì ở mức 1m (vèo) và 0,7m (Bể) trong suốt quá trình nuôi. Thực nghiệm nuôi cá lóc được thực hiện ở hai xã Vị Đông và Vị Bình mật độ cá thả là 100 con/m2, được bố trí trong 03 vèo và 03 bể có cùng kích thước 10m2. Cá lóc được cho ăn bằng cá tạp, ốc bươu vàng, với khẩu phần ăn từ 5 – 10% trọng lượng thân. Nước trong bể nuôi được thay 2 – 3 ngày/lần 01 tuần/lần (vèo), mỗi lần từ 30 – 60% tùy thuộc vào giai đoạn tăng trưởng của cá. Các yếu tố môi trường nước nằm trong khoảng thích hợp cho cá sinh trưởng. Sau 4 tháng nuôi, cá nuôi trên bể đạt trọng lượng trung bình 410 ± 20 nhỏ hơn cá nuôi trong vèo đặt trong ao 447 ± 25,2 g/con. Cá tăng trưởng trung bình từ 3,40 ± 0,45 đến 3,71 ± 0,59 g/ngày. Tỷ lệ sống cá lóc đạt 51,7 ± 1,04 đến. 53,8 ± 3,4. Năng suất trung bình cá đạt 22,05 ± 14,7 đến 23,1 ± 0,47 kg/m2. Thực nghiệm nuôi cá lóc trong vèo mang lại hiệu quả cao hơn bể lót bạt. Đây là hai mô hình này thích hợp cho các hộ nuôi cá có ít đất sản xuất. 4 MỤC LỤC Tóm tắt............. ...................................................................................................1 TÓM TẮT ...........................................................................................................2 Phần 1: Đặc vấn đề...............................................................................................2 1.1. Giới thiệu.................................................................................................2 1.2. Mục tiêu của đề tài...................................................................................2 1.3. Nội dung thực hiện...................................................................................2 1.4. Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài.....................................................2 Phần 2: Lược khảo tài liệu .................................................................................. 3 2.1. Đặc điểm sinh học ...................................................................................3 2.1.1 Đặc điểm phân loại...........................................................................3 2.1.2. Đặc điểm phân bố............................................................................3 2.1.3. Đặc điểm hình thái..........................................................................4 2.1.4. Đặc điểm sinh trưởng......................................................................4 2.1.5. Đặc điểm dinh dưỡng..................................................................... 4 2.1.6. Đặc điểm sinh sản...........................................................................4 2.2. Một số yếu tố môi trường ảnh hưởng tới cá nuôi ...................................5 2.2.1. Nhiệt độ...........................................................................................5 2.2.2. pH....................................................................................................5 2.2.3. Hàm lượng oxy hoà tan trong nước................................................5 2.2.4. Hàm lượng đạm tổng N-NH4+ ........................................................6 2.2.5. NO3- ................................................................................................6 2.3. Một số bệnh thường gặp trong nuôi cá lóc..............................................6 2.4. Phương pháp nuôi cá Lóc........................................................................7 2.4.1. Nuôi cá Lóc trong ao đất.................................................................7 2.4.2. Nuôi cá Lóc trong giai đặt trong ao đất..........................................7 2.4.3. Nuôi cá Lóc trong bể lót bạt........................................................... 7 5 Phần 3: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu.................................................... 9 3.1. Vật liệu nghiên cứu.................................................................................9 3.2. Phương pháp nghiên cứu........................................................................ 9 3.2.1. Bố trí thực nghiệm..........................................................................9 3.2.2. Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu môi trường.............................11 3.2.3. Phương pháp thu mẫu và xác định tốc độ tăng trưởng.................11 3.2.4. Tỷ lệ sống và năng suất................................................................ 11 3.2.5. Hệ số tiêu tốn thức ăn (Feed Conversion Ratio – FCR)………...12 3.2.6. Tính hiệu quả kinh tế…………………………………………....12 Phần 4: Kết quả thảo luận. 4.1 Môt số yếu tố môi trường 4.1.1. Nhiệt độ 4.1.2. pH 4.1.3. Oxygen 4.1.4. N-NH4 + 4.1.5. NO34.2 Khối lượng trung bình, tăng trưởng về khối lượng, tăng trưởng đặt biệt, cá Lóc nuôi trong bể lót bạt 4.3 Tỷ lệ sống, năng suất và hệ số tiêu tốn thức ăn cá lóc nuôi trong bể lót bạc 4.4. Hiệu quả kinh tế của hai mô hình nuôi cá Lóc. Phần 5: Kết luận và đề xuất. 5.1 Kết luận 5.2 Đề xuất 6 PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1. Giới thiệu Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) có một hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, có thể nói đây là vùng đất giàu tiềm năng để phát triển nghề nuôi thủy sản, diện tích nuôi thủy sản không ngừng gia tăng. Khi nói đến sự gia tăng sản lượng nuôi thủy sản nước ngọt thì phải nói đến sự gia tăng sản lượng cá da trơn (cá tra, ba sa). Ngoài việc nuôi các đối tượng truyền thống như: cá trê, cá chép, cá mè vinh, cá sặc rằn, cá rô đồng, cá rô phi,… thì cá lóc là đối tượng nuôi quan trọng trong cơ cấu đàn cá nuôi ở ĐBSCL. Phong trào nuôi cá lóc đang phát triển mạnh mẽ, mang lại hiệu quả kinh tế. Nhiều tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long như: Hậu Giang, An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long… đã và đang chú trọng phát triển nghề nuôi cá lóc tăng về diện tích và đa dạng mô hình nuôi như: nuôi trong ao đất, nuôi trong vèo, nuôi lồng, và nuôi trong bể lót bạt,… Tuy nhiên nuôi cá lóc trong bể lót bạt và trong vèo đặt trong ao đất trong thời gian gần đây là mô hình mới, đem hiệu quả kinh tế cao và là mô hình đang được chú trọng trong mùa nước lũ. Áp dụng mô hình này người nuôi quản lý tốt được nguồn nước nuôi, phòng và trị bệnh, vì thế mà khắc phục được những hạn chế những mô hình khác. Đồng thời mô hình này không những tiết kiệm được diện tích nuôi, chi phí và khâu quản lý chăm sóc mà còn góp phần bảo vệ môi trường, tận dụng thời gian nhàn rỗi trong mùa lũ và nguồn thức ăn tươi sống do lũ mang lại góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống và tạo điều kiện cho dân nghèo vươn lên. Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, đề tài “So sánh mô hình nuôi cá Lóc trong bể lót bạt và trong vèo ở huyện Vị Thủy tỉnh Hậu Giang” được thực hiện. 7 1.2. Mục tiêu của đề tài Đánh giá hiệu quả kinh tế và lợi nhuận của hai mô hình nuôi cá lóc qua đó đề xuất phát triển mô hình nuôi cá Lóc, góp phần nâng cao thu nhập cho các hộ dân vùng Đồng Bằng sông Cửu Long. 1.3. Nội dung thực hiện Theo dõi một số yếu tố thủy lý hóa, môi trường nước nuôi. Đánh giá sự tăng trưởng, tỷ lệ sống và năng suất của mô hình nuôi cá lóc trong bể lót bạt và trong vèo. Phân tích hiệu quả lợi nhuận của hai mô hình nuôi cá lóc. 1.4. Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài. Thời gian: từ tháng 9/2011 đến tháng 5/2012. Địa điểm: huyện Vị Thủy tỉnh Hậu Giang. 8 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1.1 Đặc điểm phân loại Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), ở miền Nam Việt Nam có 4 loài cá Lóc: Channa striata (cá lóc đen), Channa micropeltes (cá lóc bông), Channa lucius (cá dầy), và Channa gachua (cá chành dục). Bốn loài cá này có nhiều đặc điểm giống nhau như thân hình ống dài, vây đuôi tròn, trên thân có nhiều vạch sắc tố và có một số đặc điểm riêng như cá Lóc bông có hai sọc thẫm chạy từ đầu tới đuôi, loài cá Lóc đen thì vây đuôi và vây hậu môn có các chấm màu đen, trong khi cá chành dục mút vây lưng và vây đuôi có màu đỏ (Mai Đình Yên, 1992). Cá lóc được phân loại như sau: Lớp: Actinopterygii Bộ: Perciformes Họ: Channidae Giống: Channa Loài: Channa striata 2.1.2. Đặc điểm phân bố Cá Lóc phân bố rộng từ Trung Quốc đến Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanmar, Ấn Độ, Philippines. Cá sống ở nước ngọt là chủ yếu nhưng cũng có thể sống ở nhiều loại hình thủy vực khác nhau kể cả những vùng trũng ngập nước lâu ngày. Chúng thích nơi nước tĩnh có mực nước từ 0,5 - 1m. Đặc biệt, cá thích sống ven bờ nơi có nhiều cây cỏ thủy sinh để rình và bắt mồi. Ngoài ra, cá có thể sống ở nơi có hàm lượng oxy thấp nhờ có cơ quan hô hấp phụ, pH thích hợp cho hoạt động sống của cá Lóc là từ 6,5 – 7,5. Cá cũng có thể sống ở vùng nước lợ (Trương Thủ Khoa, Trần Thị Thu Hương, 1993). 2.1.3. Đặc điểm hình thái Cá Lóc có đầu lớn, đỉnh đầu rất rộng, dẹp bằng, mõm ngắn, miệng to hướng lên, rạch miệng xiên. Răng bén nhọn, không có râu, mắt lớn, lỗ mang lớn. Thân dài hình trụ, 9 tròn ở phần trước, dẹp bên ở phần sau. Vẩy lược lớn phủ khắp thân và đầu. Đường bên hoàn toàn gãy khúc ở khoảng vẩy 15 - 20 và thụt xuống hai hàng vẩy, phần sau của đường bên chạy liên tục khoảng giữa thân (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993). Ở cá con sống phần lưng có màu xanh đen, nâu đen đến đen và nhạt dần xuống bụng, bụng cá có màu trắng sữa. Ở hai bên thân có 10 - 14 sọc đen lợt vắt xéo ngang thân, các sọc này nhạt dần và mất hẳn ở cá trưởng thành. Vi lưng, vi hậu môn, vi đuôi có các đốm đen vắt ngang qua các tia vi. 2.1.4. Đặc điểm sinh trưởng Sự sinh trưởng cá Lóc nói chung không đồng đều giữa các giai đoạn, giai đoạn còn nhỏ cá Lóc tăng trưởng chủ yếu về chiều dài, cá càng lớn thì sự tăng trưởng về khối lượng là chủ yếu. Tuy nhiên trong tự nhiên, sức lớn của cá không đồng đều, phụ thuộc vào thức ăn sẵn có trong thủy vực, tỷ lệ sống của cá trong tự nhiên khá thấp, trong điều kiện nuôi có thức ăn và chăm sóc tốt cá có thể lớn từ 0,5 - 0,8 kg/năm, đạt tỷ lệ sống cao và ổn định (Phạm Văn Khánh, 2000), theo Dương Nhựt Long (2003) thì nuôi cá Lóc trong ao đất sau 6 tháng nuôi trọng lương có thể từ 0,8 - 1kg/con, trong giai có thể từ 1,2 - 1,5 kg/con. Ở điểu kiện thí nghiệm thì sự tăng trọng trung bình 0,104 g/ngày (cá giống); và đạt 0,625 g/ngày sau 4 tháng tuổi. Trong điều kiện nuôi thương phẩm cá có sức lớn trung bình 0,4 – 0,8 kg/con/năm (Phan Phương Loan, 2000). 2.1.5. Đặc điểm dinh dưỡng Cá Lóc là loài cá dữ có lược mang dạng hình núm. Thực quản ngắn, vách dầy, bên trong thực quản có nhiều nếp nhăn. Dạ dầy to hình chữ Y. Đây là loài cá ăn động vật điển hình. Quan sát ống tiêu cá thấy cá chiếm 63,01%, tép 35,94%, ếch nhái 1,03% và 0,02% là bọ gạo, côn trùng và mùn bã hữu cơ (Dương Nhựt Long, 2003). Cá Lóc mới nở không sử dụng thức ăn ngoài mà nhờ khối noãn hoàng cung cấp dinh dưỡng. Sau 3 - 4 ngày tiêu hết noãn hoàng cá bắt đầu sử dụng thức ăn bên ngoài, thức ăn lúc này của cá là luân trùng, Moina được xem là thức ăn tốt nhất, ngoài ra chúng có thể ăn lòng đỏ trứng hay thức ăn tổng hợp dạng nhuyễn, ở giai đoạn cá giống thì ăn trùn chỉ cá xay nhuyễn được xem là tốt nhất, khi cơ thể có chiều dài 3 – 8 cm, chúng đã có thể rượt bắt các loại tép và cá có kích cỡ nhỏ hơn chúng. Khi cơ thể đạt chiều dài trên 10 10 cm cá có tính ăn như cá trưởng thành bao gồm cua nhỏ, tôm, tép, cá, nhỏ (Phạm Văn Khánh, 2000). Khả năng tiêu hóa thức ăn của cá Lóc phụ thuộc vào thành phần thức ăn. Nếu thức ăn là trùn chỉ sau 8 giờ tiêu hóa được 35,42%, thức ăn là cá nục tiêu hóa được 30,01% thức ăn, trong khi đó thức ăn công nghiệp chỉ tiêu hóa được 18,22% sau 8 giờ (Phan Phương Loan, 2000). Từ đó cho thấy khả năng tiêu hóa của cá Lóc rất chậm nếu so với cá Trê phi (có khả năng tiêu hóa 25% thức ăn trong 2 giờ). 2.1.6. Đặc điểm sinh sản Ở Việt Nam cá Lóc thành thục sớm (8 - 12 tháng tuổi). Cá có thể sinh sản quanh năm nhưng thường tập trung vào tháng 4 - 5 (âm lịch) hàng năm và đẻ rộ sau những cơn mưa lớn. Sức sinh sản cùa cá Lóc tùy thuộc vào trọng lượng cá cái, cá có trong lượng từ 1 – 1,5kg đẻ khoảng 15.000 – 20.000 trứng/tổ, và 5.000 – 10.000 trứng/tổ đối với cá từ 0,5 – 0,8kg (Nguyễn Văn Kiểm, 2004). Cá có hệ số thành thục là 0,5 – 1,5%. Khi đến mùa sinh sản cá đực và cái tự ghép đôi, cá đực thường có kích cỡ nhỏ hơn cá cái cùng lứa. Cá thường chọn nơi có cây cỏ thủy sinh để đẻ trứng. Trứng cá lóc màu vàng đậm có giọt dầu nên nổi trên mặt nước. Sau khi đẻ, cá bố mẹ sẽ cùng nhau canh giữ tổ và cá con cho đến khi chúng sống độc lập (Phạm Văn Khánh, 2000). 2.2. Một số yếu tố môi trường ảnh hưởng tới cá nuôi 2.2.1. Nhiệt độ Nhiệt độ của nước ao nuôi thay đổi theo vị trí địa lý của thủy vực, theo mùa, theo thời tiết và theo ngày đêm. Nhiệt độ chính làm cho bể nuôi nóng lên chủ yếu từ năng lượng mặt trời, ngoài ra cũng từ quá trình oxy hóa vật chất hữu cơ trong bể nuôi có thể sinh ra nhiệt nhưng phần nhiệt này sinh ra không đáng kể. Trong thủy vực nhiệt độ thấp nhất vào buổi sáng lúc 2-5 giờ, cao nhất vào buổi chiều 14-16 giờ; lúc 10 giờ nhiệt độ nước trong thủy vực gần đạt tới nhiệt độ trung bình ngày đêm. Nhiệt độ dao động ngày đêm lớn hay nhỏ thường phụ thuộc rất lớn vào tính chất của thủy vực, các thủy vực có 11 diện tích nhỏ, nông thì biên độ dao động cao, thể hiện rất rõ cụ thể ở tầng mặt nhiệt độ chênh lệch ngày đêm rất lớn có thể tới 10oC, ở độ sâu 20 cm là 5oC còn ở nền đáy là 20 oC (Trương Quốc Phú, 2006). Nhiệt độ là yếu tố môi trường có ảnh hưỡng mạnh mẽ đến các hoạt động sống như: sinh trưởng, dinh dưỡng, sinh sản, hô hấp, tập tính sống. Khi nhiệt độ môi trường gia tăng, cá sẽ tăng cường trao đổi chất, tăng cường hô hấp, tuyến sinh dục chín nhanh, phôi phát triển nhanh và gây nhiều dị hình. Mỗi loài cá có khả năng thích ứng với khoảng nhiệt độ khác nhau. Đối với cá Lóc thì nhiệt độ thích hợp từ 23 – 32oC. 2.2.2. pH pH là một trong những yếu tố môi trường có ảnh hưởng đến đời sống sinh vật như: sinh trưởng, sinh trưởng, sinh sản. Khi pH trong môi trường cao thì hàm lượng NH3 trong môi trường cũng tăng cao. Khi pH trong môi trường giảm, nhiệt độ môi trường nuôi giảm nền đáy có hàm lượng chất hữu cao sẽ sinh ra nhiều khí H2S đây là chất khí độc có hại cho cá. Vì vậy người nuôi hết sức thận trọng trong việc quản lý pH trong bể nuôi cần giữ pH trong khoảng thích hợp. Theo Trương Quốc Phú pH thích hợp cho nuôi thủy sản từ 6,5-9 thấp hơn hay cao hơn đều không có lợi cho cá nuôi. Theo Dương Nhựt Long (2004) pH thích hợp cho ao nuôi cá Lóc từ 6 - 8. Theo Nguyễn Văn Kiểm và Phạm Minh Thành (2009) khả năng thích ứng của cá đối với giá trị pH khác nhau tùy theo loài. Tác dụng chủ yếu của pH khi quá cao hay quá thấp là làm ảnh hưởng đến sự thẩm thấu của màng tế bào, làm rối loạn quá trình trao đổi muối – nước giữa cơ thể và môi trường ngoài. Do đó pH là yếu tố giới hạn phân bố của các loài thủy sinh vật. pH có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển phôi, quá trình dinh dưỡng, sinh trưởng và sinh sản của cá. Theo Trương Quốc Phú (2006) cá sống trong môi trường có pH thấp hoặc quá cao sẽ chậm phát dục; nếu pH quá thấp gây đẻ ít và không đẻ. 2.2.3. Hàm lượng oxy hoà tan trong nước Oxy là một chất khí quan trọng đối với đời sống sinh vật đặc biệt là đối với thủy sinh vật vì hệ số khuyếch tán của oxy trong nước nhỏ hơn rất nhiều so với hệ số khuếch tán của không khí. Oxy thấp nhất vào lúc sáng sớm (6 giờ) và cao nhất vào lúc buổi chiều (14 giờ) (Trương Quốc Phú, 2006). Những ao quá giàu dinh dưỡng, hàm lượng 12 oxy vào lúc sáng sớm có thể giảm đến 0 mg/L và đạt mức bão hoà 200% vào giữa trưa (Trương Quốc Phú, 2006). Nồng độ oxy thích hợp cho nuôi cá từ 6 – 8 mg/L; oxy hoà tan có hàm lượng từ 1 – 5 mg/L cá sống nhưng phát triển chậm, từ 0,3 – 1 mg/L cá có thể chết nếu nhiệt độ cao (Trương Quốc Phú, 2006). Đối với cá Lóc, cá có thể sống ở nơi có hàm lượng oxy thấp nhờ có cơ quan hô hấp phụ. 2.2.4. Hàm lượng đạm tổng N-NH4+ Đạm trong nước là nguồn dinh dưỡng cho thực vật, là một trong những chất dinh dưỡng quan trọng đối với đời sống thủy sinh vật. Trong các thủy vực, đạm được liên kết trong các protein. Nếu nồng độ đạm trong thủy vực cao, gây ảnh hưởng đến động vật thủy sinh. Trong thủy vực NH3 là yếu tố môi trường quan trọng có ảnh hưởng lớn đến tỉ lệ sống, sinh trưởng của các loài thủy sinh vật. NH3 ở dạng hòa tan là một chất khí cực độc. Nếu hàm lượng hàm lượng NH3 trong nước cao dẫn đến quá trình thảy NH3 qua mang bị cản chở. Nồng độ NH3 trong nước quyết định bởi tổng nồng độ NH4+ và NH3 nhiệt độ và pH của môi trường. Hàm lượng NH3 gây độ cho cá là 0,6 - 2 ppm (Tương Quốc Phú, 2006) 2.2.5. NO3Nitrate trong thủy vực là sản phẩm của quá trình nitrate hóa, oxy hóa nitrit nhờ hoạt động của vi khuẩn hóa tự dưỡng là Nitrobacter. Ngoài ra nitrate còn được cung cấp từ nước mưa khi có sấm chớp. Nitrate không độc đối với thủy sinh vật. Đây là dạng đạm dẽ tiêu đối với thực vật, chúng hấp thu và chuyển hóa thành chất hữu cơ thông qua con đường quang hợp. Nitrate rất cần thiết đối với thủy vực cho sự phát triển của các là thức ăn tự nhiên cho cá. Hàm lượng nitrate trong nước quá cao củng làm cho táo phát triển quá mức dẫn đến một số tác hại cho cá. Hàm lượng nitrate cho phép dao động trong khoảng 0,1 – 10ppm. 2.3. Một số bệnh thường gặp trong nuôi cá Lóc Theo Từ Thanh Dung (2005) cá Lóc nuôi thường gặp một số bệnh ; 13 Bệnh do vi khuẩn: Thường gặp là bệnh trắng da tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Flavobacterium columnare. Cá bị bệnh có triệu chứng kém ăn, cuối vây lưng cá xuất hiện màu trắng và lan dần từ vây lưng đến vây đuôi, các vây thường bị rách, khả năng hoạt động của cá mất dần cá lờ đờ trong nước có bất động treo lủng lẳng trong nước rồi từ từ chìm xuống đáy bể rồi chết. Ngoài bệnh trắng da còn có thêm bệnh xuất huyết hay đóm đỏ tác nhân gây bệnh là Aeromonas hydrophila bệnh làm cơ thể cá xuất huyết dễ thấy nhất là ở gốc các vây, xoang cơ thể có chất dịch màu vàng,hệ tiêu hóa xuất huyết gan thận nhũn ra. Đối với hai bệnh này trị bằng kháng sinh kết hợp xử lý môi trường nuôi. Bệnh do ký sinh trùng: Thường gặp là bệnh đỏ xoang miệng hay bệnh đẹn lưỡi. Bệnh này trị bằng cách dùng kháng sinh kết hợp xử lý môi trường. Bệnh do nấm: Thường gặp là nấm thủy mi tác nhân gây ra bệnh này là do 2 giống nấm Saproplegnia và Achlya thuộc họ Saprolegniaceae khi mới ký sinh mắt thường không nhìn thấy được, cá thường có triệu trứng ngứa ngáy, da đen sẩm. Phòng ngừa bệnh này phải quản lý môi trường nuôi tốt, nước nuôi không bị nhiễm bẩn nguồn nước cấp vào bể nuôi phải tốt, trước khi thả nuôi có thể tắm cá qua dung dịch muối ăn 3% trong 20 phút. Bệnh lở loét hay bệnh ghẻ: Bệnh do nhiều tác nhân kết hợp gây ra như Virut, vi khuẩn, nấm, một số kí sinh trùng, sán lá đơn chủ, giáp xác. Đối với bệnh này bằng cách dùng kháng sinh trộn vào thức ăn hoặc tắm cá bằng kháng sinh hoặc một số chất xử lý môi trường như KMnO4 hoặc CuSO4. Bệnh do giun sán kí sinh: Thường gặp là bệnh giun đầu móc ký sinh trong ruột. Cá bị nhiễm bệnh có biểu hiện như cơ thể bị gầy yếu do chúng bị lấy chất dinh dưỡng, khi giun sán phát triển với số lượng nhiều có thể gây hiện tượng tắt ruột làm chết cá có thể trị bệnh này bằng cách dùng kháng sinh trộn vào thức ăn. 14 2.4. Phương pháp nuôi cá Lóc 2.4.1. Nuôi cá Lóc trong vèo (giai) đặt trong ao đất Diện tích giai nuôi tùy thuộc vào khả năng đầu tư cũng như kinh nghiệm của người nuôi có diện tích thích hợp thường một giai có diện tích từ vài m2 đến vài chục m2. Mùa vụ nuôi thông thường từ tháng 5 – 9 nhưng tập trung nhiều nhất vào tháng 7 - 8. Cỡ giống phải đạt từ 20 – 30 g/con, mật độ tốt nhất là 60 – 90 con/m2. Thức ăn phải đảm bảo hàm lượng protein trên 20%, cá Lóc ngoài sử dụng thức ăn tươi sống: cá tép, ếch nhái, có thể sử dụng tốt thức ăn công nghiệp, định kỳ bổ sung Vitamin C. Khẩu phần ăn điều chình theo sức ăn của cá, thời điểm cá còn nhỏ khầu phần có thể dao động trong khoảng từ 10 – 12% trọng lượng đàn cá. Sau khi cá lớn khẩu phần ăn còn từ 5 – 8% là vừa (Dương Nhựt Long, 2003). Ban đầu cá nhỏ cho ăn bằng cách xay nhuyễn cho tới khi cá lớn thức ăn có thể cung cấp trực tiếp vào giai nuôi. Chăm sóc và quản lý: Hoạt động chăm sóc và quản lý cần được thực hiện thường xuyên như: kiểm tra giai, theo dỏi hoạt động của cá, vệ sinh lưới,... để có biện pháp xử lý kịp thời. Thu hoạch: để đạt kích cỡ thương phẩm cá Lóc nuôi ít nhất là 6 tháng, thường 7 8 tháng. Trọng lượng cá có thể đạt được từ 1,2 – 1,5 kg (Dương Nhựt Long, 2004). 2.4.2. Nuôi cá Lóc trong bể lót bạt Trong những năm gần đây mô hình nuôi cá lóc trong bể lót bạt được phát triển ở các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long như các tỉnh: An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Hậu Giang. Là mô hình mang lại hiệu quả cao, vốn đầu tư thấp, đễ thực hiện và phù hợp với nông hộ có ít đất sản xuất và tậng dụng được diện tích đất quanh nhà để nuôi thủy sản. Diện tích để xây dựng bể thì đa dạng, từ 10 -100m2 là có thể xây dựng bể nuôi cá. Theo Dương Nhựt Long và ctv, (2010) cho rằng diện tích nuôi tốt nhất và đễ quản lý nhất là 15m2 và tỷ lệ sống đạt từ 55 – 71%, năng suất đạt 25 – 39kg/m2. Tuy nhiều nhiều thực nghiệm khác với diện tích bể nuôi lớn hơn cũng cho năng suất khá cao. Theo kết quả thực nghiệm của Trung tâm Khuyến ngư – Khuyến nông tỉnh Vĩnh Long năm 2009 thực 15 hiện tại xã Loan Mỹ huyện Tam Bình tỉnh Vĩnh Long bể với diện tích 80m2 cũng cho kết quả 35kg/m2 và tỷ lệ sống trung bình đạt 63%, thời gian nuôi từ 5 đến 6 tháng. Năm 2010, Trung tâm Giống Thủy sản An Giang phối hợp với Khoa Thủy sản ĐHCT, Công ty Agifeed An Giang đã thực hiện mô hình nuôi cá lóc trên bể lót bạt với thức ăn viên kết quả cho thấy khi sử dụng thức ăn viên thì FCR, tốc độ tăng trọng và tỷ lệ sống là tương đương với cho ăn bằng thức ăn cá tạp tươi. Theo báo cáo nghiên cứu của Dương Nhựt Long (2011) nuôi cá lóc thương phẩm trên bể lót bạt tại An Giang cho tỷ lệ sống từ 55,3 – 72,5%; năng suất từ 23 – 32kg/m2; lợi nhuận bình quân từ 1,678 - 4,046 triệu đồng/bể 15m2; tỷ suất lợi nhuận từ 19 - 32%. 16 PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1. Vật liệu nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Cá Lóc (Channa striata) - Nguồn cá giống: Cá giống được mua Huyện Châu Thành A, Tỉnh Hậu Giang - Nguồn nước: Nguồn nước sử dụng được lấy từ sông ở tỉnh Hậu Giang. - Dụng cụ kiểm tra môi trường: Nhiệt kế, Test pH, test Oxy, test N-NH4+, test NO3-. - Bể lót bạt thực nghiệm: 03 bể diện tích 10 m2 (2,5 m x 4 m x 1 m). - Vèo đặt trong ao đất: 03 giai diện tích 10 m2 mặt nước (2,5 m x 4 m x 1,5 m). - Dụng cụ cân mẫu: cân điện tử, cân đồng hồ 1kg. - Các dụng cụ phụ trợ khác: Máy bơm, ống PVC, ống nhựa, xô, cân, vợt, thau... - Thuốc, hóa chất: Vitamin C, men tiêu hóa, thuốc tím (KMnO4), BKC, … 3.2. Phương pháp nghiên cứu 3.2.1. Bố trí thực nghiệm Thực nghiệm (A) nuôi cá Lóc thương phẩm trong vèo đặt trong ao được thực hiện trong 03 vèo ở 03 hộ tại huyện Vị Thủy, Tỉnh Hậu Giang. Thực nghiệm (B) nuôi cá Lóc thương phẩm trong bể lót bạt được thực hiện trong 03 bể ở 03 hộ tại huyện Vị Thủy, Tỉnh Hậu Giang. Hai thực nghiệm được nuôi với mật độ là (100 con/m2). Thời gian nuôi 05 tháng. Bảng3: Bố trí thả cá lóc tại các nông hộ tại huyện Vị Thủy tỉnh Hậu Giang GIAI ĐẶT TRONG AO ĐẤT ( A) TT CHỦ HỘ BỂ LÓT BẠT (B) ĐỊA CHỈ TT CHỦ HỘ ĐỊA CHỈ 1 Nguyễn Văn Đường (A1) Xã Vị Đông 1 Võ Thị Kim The (B1) 2 Trần Văn Phol (A2) Xã Vị Đông 2 Nguyễn Văn Quân (B2) Xã Vị Bình 3 Nguyễn Văn Đệ (A3) Xã Vị Bình 3 Nguyễn Văn Quang (B3) Xã Vị Bình 17 Xã Vị Bình Bể nuôi có hình chữ nhật với kích thước 2,5m x 4m x 1m, khung làm bằng cây hay tre với 10 trụ chắc chắn, xung quanh được phủ mê bồ và lót bạt chất lượng tốt nhằm có thể sử dụng 2 vụ nuôi / năm, đáy bể nghiêng về cống thoát, trên bể có che lưới không cho cá thoát ra ngoài khi thay nước. Hình: 3.1 Bể nuôi thực nghiệm Giai nuôi có hình chữ nhật với kích thước 2,5m x 4m x 1,5m, khung làm bằng cây hay tre với 06 trụ cây chắc chắn có thể sử dụng 4 vụ nuôi/2 năm, đáy giai cách đáy ao từ 30 - 50cm và gần cống thoát nước, trên giai có che lưới không cho cá thoát ra ngoài khi nước lên cao. Ao đặt vèo nuôi có diện tích: A1 là 48m2; A2 là 86m2và A3 là 128m2 Hình: 3.2 Vèo nuôi thực nghiệm 18 Cá giống chọn nuôi là cá khỏe mạnh, kích cỡ đồng đều, không dị hình, dị tật và không mang mầm bệnh, cá có khối lượng từ 1,2-1,5g/con ( trung bình 650 con/ kg). 3.2.2. Chăm sóc và quản lý bể nuôi 3.2.2.1. Quản lý thức ăn Thức ăn cung cấp cho cá là cá tạp nước ngọt, ốc… Trước khi cho cá ăn, thức ăn được rửa sạch để hạn chế mầm bệnh cho cá. Lúc cá còn nhỏ (1 tháng đầu) cá tạp và ốc làm thức ăn được xay nhuyễn. Khẩu phần cho cá ăn 10% trọng lượng thân và cho cá ăn 4 lần/ngày. Từ tháng thứ 2, thức ăn được cắt nhỏ và cho cá ăn 7% trọng lượng thân. Từ tháng thứ 3, ốc, cá tạp thì được cắt khúc để cho cá ăn và khẩu phần ăn là 3 – 5% trọng lượng thân. Từ tháng thứ 2 cho cá ăn 2 lần/ngày vào buổi sáng và chiều vào tháng cuối chu kỳ nuôi có thể cho cá ăn 1 lần/ngày. Thức ăn cho cá được đặt trên sàn, mỗi bể đặt 2 sàn. Sàn được làm bằng khung tre và lưới mành, hình tròn đường kính 0,8m và được đặc trong bể và giai với độ sâu 30 cm. Lượng thức ăn cung cấp cho cá nuôi sẽ được điều chỉnh số lượng cho phù hợp với sự tăng trưởng của cá. 3.2.2.2. Quản lý nước Trong giai đoạn còn nhỏ cho ăn một cách hợp lý để tránh ảnh hưởng đến môi trường. Thay nước trong bể định kỳ 3 ngày / lần ở 2 tháng đầu, mỗi lần thay 30% lượng nước trong bể và định kỳ 2 ngày/lần từ tháng thứ 3, mỗi lần thay khoảng 60% lượng nước trong bể. Từ tháng thứ 4, thay nước mỗi ngày từ 60 – 80%. Trong quá trình nuôi các chất mùn bả tích tụ dưới nền đáy cần thường xuyên dùng ống siphon rút bớt các chất bẩn tích tụ ở đáy bể để tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển cá lóc trong bể lót bạc. Trong giai đặt trong ao định kì 3 ngày thay một lần. 3.2.2.3.Phòng và trị bệnh Hàng ngày theo dõi khả năng bắt mồi, hoạt động bơi lội của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp tránh tình trạng dư hoặc thừa thức ăn cũng như phát hiện bệnh sớm để có biện pháp xử lý kịp thời. Thức ăn cung cấp cho cá đảm bảo vệ sinh, không bị thối. Định kỳ bổ sung Vitamin C vào thức ăn cho cá 2 ngày/lần, định kỳ diệt 19 khuẩn (BKC) cho cá 7 ngày/lần, bổ sung men tiêu hoá vào thức ăn mỗi ngày vào buổi chiều để nâng cao sức đề kháng và giúp cá tiêu hóa tốt hơn. 3.3. Phương pháp thu mẫu và phân tích các chỉ tiêu thủy lý hóa Các chỉ tiêu thủy lý hóa ao muôi được kiểm tra định kỳ 15 ngày/lần. * Nhiệt độ: Nhiệt độ được đo bằng nhiệt kế. * pH: Độ pH của nước được đo bằng test. * Oxy: Oxy hòa tan trong nước được đo bằng test. * N-NH4: Hàm lượng N-NH4+ được đo bằng test. * NO3-: Hàm lượng NO3- được đo bằng test. 3.4. Phương pháp thu mẫu và xác định tốc độ tăng trưởng Trước khi bố trí thực nghiệm, tiến hành cân mẫu cá để xác định khối lượng ban đầu. Trong thời gian thực nghiệm, định kỳ thu mẫu cá 15 ngày/lần để đánh giá tốc độ tăng trưởng của cá, mỗi nghiệm thức cân ngẫu nhiên 30 con. Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về khối lượng (Daily Weight Gain) DWG (g/ngày) = (W1 - Wo)/∆t Tốc độ tăng trưởng tương đối (Specific Growth Rate) SGR (%/ngày) = (LnW1 - LnWo)*100/∆t Trong đó: W1: khối lượng cuối (g) W0: khối lượng ban đầu (g) ∆t: thời gian giữa 2 lần thu mẫu (ngày) 3.5. Tỷ lệ sống và năng suất * Tỷ lệ sống Xác định số lượng cá thể lúc ban đầu và số lượng cá thể thu hoạch được. Sau đó tính toán tỷ lệ sống bằng công thức: 20
- Xem thêm -