Skkn vận dụng tư tưởng nghệ thuật ngoại giao hồ chí minh vào dạy học lịch sử việt nam phần quan hệ ngoại giao việt – pháp (từ 291945-19121946)

  • Số trang: 17 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 17 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA TRƯỜNG THPT NÔNG CỐNG 4 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG , NGHỆ THUẬT NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH VÀO DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM PHẦN QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT - PHÁP (TỪ 02/09/1945 ĐẾN 19/12/1946) Người thực hiện: Đỗ Thị Ca Chức vụ: Tổ Trưởng bộ môn SKKN thuộc lĩnh vực môn: Lịch sử THANH HÓA 2013 1 I. Đặt vấn đê Lý do chọn đề tài: Trong những năm gần đây Bộ giáo dục và Đào tạo luôn quan tâm đến vấn đề đổi mới dạy học, đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, đổi mới về kỉ năng, kỉ thuật dạy học lấy học. song song với sự đổi mới đó là vấn đề đề thi vào các trường đại học và cao đẳng môn lịch sư không dễ chút nào, kể cả với cách cách chỉ đạo của chuyên viên lịch sư giáo dục tỉnh Thanh Hóa tôi nhận thấy đề thi học sinh giỏi năm nay đề ra rất hay mang tính sáng tạo có khả năng phân loại học sinh đánh giá được thực lực của học sinh giỏi. Tuy nhiên điều khiến tôi băn khoan nhất la đề thi đại học càng ngày càng khó hơn vấn đề ra đề thi cũng thể hiện sự bao quát trương trình hơn không chú trọng đơn thuần giải quyết một vài vấn đề như trước đây. Trong khi đó tâm lý học sinh là ngại, coi môn lịch sư là môn khó học. Điều quan trọng nhất đối với giáo viên đứng lớp là phải làm gì để học sinh có hứng thú học trong giờ học và cảm thấy được mỗi buổi học các em sẽ tiếp cận được với cái hay cái mới. Bản thân học sinh không cảm thấy mơ hồ nhàm chán. Lý do nữa là trong quá trình dạy học phần lịch sư Việt Nam về quan hệ ngoại giao Việt- Pháp sau cách mạng tháng tám đến ngày 19/12/1946 Tôi nhận thấy phần này là một phần khó, học sinh thường không để ý học. Khi cho học sinh làm bài kiểm tra liên quan đến phần này tôi nhận tháy các em còn mắc rất nhiều lỗi, đặc biệt là còn có học sinh hiểu sai bản chất vấn đề, còn nhầm lẫn trong quan hệ ngoại giao Việt-Tưởng-Pháp. II. Giải quyết vấn đê 1. Cơ sở lý luận của vấn đê Cơ sở lý luận để nghiên cứu đề tài là không nhiều. Dựa trên một số tài liệu thành văn được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu lịch sư đã nghiên cứu và xuất bản, một số sách tuyển tập liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh. Một số tài liệu về hoạt động ngoại giao của Hồ Chí Minh. 2. Thực trạng nghiên cứu vấn đê. 2 Trên thực tế không có nhiều tài liệu tham khảo viết về giai đoạn lịch sư này. Học sinh ngại học vì phần này thiên về lý luận nhiều, phần khó nhớ, nó không giống như một chiến dịch lịch sư cụ thể. Trong quá trình dạy học trên lớp tôi đã thực nghiệm ở một số lớp, kết quả phản hồi là khác nhau. Đặc biệt kiểm tra phần này còn có nhiều học sinh bị điểm yếu. Một trong những khó khăn cho giáo viên dạy học lịch sư giai đoạn này là khi cho học sinh làm bài kiểm tra thì đa số bài làm còn lúng túng chưa hiểu ro bản chất vấn đề. Xuất phát từ những lý do trên nên tôi đã quyết định chọn đề tài: Vận dụng tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh vào dạy học phần quan hệ ngoại giao Việt-Pháp ( từ 2-9-1945 đến ngày 19-12-1946). Tôi muốn nghiên cứu đề tài này để giúp học sinh khắc phục được những điểm khó, hiểu bài sâu và hiểu được bản chất vấn đề. Có như vậy học sinh mới cảm thấy tự tin khi bước vào các kỳ thi Đại học, cao đẳng và thi học sinh giỏi. Qua đề tài giúp học sinh hiểu sâu hơn về Hồ Chí Minh và vai trò của người và Đảng ta trong thời điểm lịch sư này. 3. Các giải pháp và tổ chức thực hiện. Giải pháp 1: là phải chỉ cho học sinh hiểu ro tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh là gì sau đó mới vận dụng để dạy học phần mối quan hệ ngoại giao Việt - Pháp sau cách mạng tháng tám. Tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao của Hồ Chí Minh giai đoạn này là gì. Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Trong tư tưởng ngoại giao Hồ chí Minh thì hai mục tiêu độc lập, hòa bình không tách rời nhau. Tư tưởng về hòa bình của Hồ Chí Minh mang tính chiến đấu. Phải có lực mới có thể thương lượng, đàm phán với kẻ thù khi chúng luôn luôn nuôi tham vọng xâm lược. 3 Nguyên tắc quan trọng trong tư tưởng hòa bình trong tư tưởng hòa bình của Hồ Chí Minh là hòa bình đạt được không phải bằng cầu xin mà bằng đấu tranh chống những thế lực ngoan cố không chịu chấp nhận con đường hòa bình thương lượng để kêta thúc chiến tranh. Chủ trương hòa bình của người xuất phát từ thiện chí, từ sức mạnh của chính nghĩa. Của nhân dân, đấu tranh cho độc lập tự do. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh chiến tranh là khúc quanh buộc phải tiến hành. Còn cánh cưa hòa bình vẫn luôn rộng mở, nhịp cầu thương lượng vẫn bắc sẵn để đi tới kết thúc cuộc chiến tranh và giành được mục tiêu thắng lợi được xác định. Tư tưởng nêu trên được thể hiện trong cuộc kháng chiến chống thực dân pháp và tiếp theo là kháng chiến chống đế quốc Mĩ. Nghệ thuật ngoại giao gắn với cuộc đời hoạt động Hồ Chí Minh. Khi nói đến nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh người ta đề cập đến mấy yếu tố sạu Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã vận dung 5 cái biết. Biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến. Nhân nhượng có nguyên tắc Phát hiện, lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương Thêm bạn bớt thù. Khi nói đến phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh, chúng ta phải đề cập đến một số vấn đề như . - Dự báo thời cơ và nắm bắt đúng thời cơ. - Ngoại giao công tâm. - Tư tưởng dĩ bất biến, ứng vạn biến. - Thêm bạn bớt thù. * Vậy thế nào là dĩ bất biến, ứng vạn biến. Là lấy cái không thể thay đổi để ứng phó với muôn vàn sự thay đổi. 4 Mục đích bất di bất dịch của chúng ta là hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ. Nguyên tắc thì phải giữ vững, sách lược thì phải linh hoạt. Sự linh hoạt phải trên cơ sở giữ vững hai nguyên tắc. Muốn vậy phải. Thứ nhất: Phải xác định được giới hạn của nhân nhượng, đó là không được làm tổn hại đến chủ quyền quốc gia và lợi ích dân tộc. Thứ hai: Cần phải nắm vững mục tiêu cách mạng, có bản lĩnh vững vàng và sự quyết đoán khôn ngoan, mau lẹ để ứng phó kịp thời với từng tình thế, từng đối tượng trong từng hoàn cảnh cụ thể. Thứ ba: Lượng sức mình mà sư lí ứng phó kịp thời với từng tình thế, từng đối tượng trong từng hoàn cảnh cụ thể. Lượng sức mình mà tìm cách xư lý ứng phó phù hợp, linh hoạt, mềm dẻo trong sách lược, nhưng cũng phải thể hiện thái độ kiên quyết và biết tận dụng mọi cơ hội để tấn công ngoại giao. Giải pháp 2 Vận dụng tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh dạy phần hiệp định sơ bộ 6/3/1946. Sau cách mạng tháng tám nước ta đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc.” Bên trong thì bọn đội phản chống phá bên ngoái thì các thế lực thù địch câu kết để bóp chết chính quyền non trẻ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa . Ngày 28 - 02 - 1946 pháp và trung hoa dân quốc bắt tay với nhau bằng hiệp ước hoa pháp, theo đó, Trung Hoa Dân Quốc được Pháp trả lại các tô giới, nhượng địa của Pháp trên đát Trung Quốc và được vận chuyển hàng hóa qua cảng Hải Phòng và Vân Nam không phải đóng thuế. Đổi lại Pháp được đư quân ra miền Bắc thay quân Trung Hoa dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Hiệp ước Hoa Pháp buộc cách mạng nước ta đứng trước hai con đường phải lựa chọn hoặc là hòa hoãn, hoặc chống pháp. Trước tình hình khó khăn đó, để tránh cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù và để kéo dài thời gian hòa hoãn xây dựng lực lượng chuẩn bị kháng chiến chống pháp lâu dài. Ngày 3 - 3 - 1946, Ban thường vụ trung ương Đảng họp, do Hồ Chí Minh chủ trì đã chọn giải pháp “hòa để tiến” 5 Chiều ngày 6 - 3 - 1946 tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Pháp bản hiệp định sơ bộ với nội dung. Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có chính phủ riêng, nghị viện riêng, quân đội riêng, tài chính riêng và là thành viên của liên bang Đông Dương, nằm trong khối liên hiệp Pháp. Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hòa thỏa thuận cho 15000 quân pháp ra Bắc thay quân Trung Hoa dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Hai bên ngừng mọi xung đột ở phía nam và giữ nguyên quân đội của mình tại vị trí cũ. Với việc ký hiệp định sơ bộ ta đã gạt được việc đuổi quân Tưởng sang cho Pháp là sách lược linh hoạt của Hồ Chí Minh, khai thác cái thuận lợi trong điều kiện bất lợi. Tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh vận dụng đối với hiệp định sơ bộ là tư tưởng hòa bình, độc lập tranh thủ đồng minh, cô lập kẻ thù chủ yếu, kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, biết thắng từng bước để tiến tới thắng lợi hoàn toàn. Sự cứng rắn về nguyên tắc đó là vẫn giữ được độc lập tự chủ, nhưng lại mềm dẻo về sách lược đó là sự nhượng bộ có nguyên tắc. Lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương để tách kẻ thù chĩa mũi nhọn vào kẻ thù trước mắt. Đấu tranh ngoại giao song song với xây dựng và phát triển lực lượng, triệt tiêu khả năng tập hợp lực lượng của kẻ thù. Giải pháp 3 Vận dụng tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao khéo léo của Chủ Tịch Hồ Chí Minh đối phó với Pháp trong hoàn cảnh khó khăn sau khi đã ký hiệp định sơ bộ. Sau khi ký bản hiệp định sơ bộ,ta nghiêm chỉnh chấp hành những điều đã ký, còn thực dân pháp thì bội ước. Trước thái độ ngoan cố và khiêu khích của phía Pháp. 6 Ngày 31/5 với danh nghĩa là thượng khách của nước Pháp, Người cùng phái đoàn chính phủ ta do Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn đến Pháp đàm phán với phái đoàn chính phủ Pháp ở Phôngtennơbrô. Việc Hồ Chí Minh sang nước Pháp cùng thời gian với đàm phán Việt Nam là một quyết định sáng suốt, thể hiện một bản lĩnh cách mạng vững vàng. Nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng lo lắng cho sự an toàn của Người, song vững tin ở sức mạnh chính nghĩa ở sự ủng hộ của Đảng Cộng Sản và nhân dân tiến bộ Pháp. Cần thiết phải có mặt trong cuộc đấu tranh ngoại giao. Những gì có thể sảy ra khi người lãnh đạo nhà nước vắng mặt trong một thời gian dài. Trước khi lên đường người căn dặn một điều đơn giản mà hàm súc, làm phương trâm ứng xư trong mọi tình huống “ dĩ bất biến, ứng vạn biến” Không chỉ kiên định với tư tưởng hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ mà nghệ thuật ngoại giao “ dĩ bất biến, ứng vạn biến”đã được Hồ Chí Minh vận dụng vào sách lược ngoại giao để đối phó với pháp trong tình huống tưởng chừng như đã bế tắc trước khi ký với Pháp bản tạm ước. Mặc dù không là thành viên phái đoàn chính phủ, nhưng trong suốt thời gian diễn ra hội nghị Phôngtennơblô, Chủ Tịch Hồ Chí Minh thường xuyên theo doi và ra những chỉ thị kịp thời chỉ đạo hoạt động của đoàn ta trên bàn hội nghị. Mặc dù chính quyền Pháp tìm cách ngăn cản, Hồ Chí Minh vẫn tích cực tuyên truyền cho lập trường chính nghĩa Việt Nam trước dư luận nhân dân pháp và phần nào dư luận quốc tế. Người đã căn dặn phải làm tôt ba việc là phả đoàn kết, cẩn thận làm cho người pháp hiểu ta để gây tình hữu nghị giữa hai dân tộc. Trong thời gian ở pháp người đã gặp gỡ và nói chuyện với hầu hết đại diện các chính đảng lớn, các tổ chức chính trị và đoàn thể quan trọng của nước Pháp.Người đã giành nhiều thời gian gặp gỡ giới báo chí pháp đủ các xu hướng và các hảng thông tấn … 7 Những hoạt động của Hồ Chí Minh đã gây ảnh hưởng tốt trong dư luận tiến bộ pháp. Báo chí và dư luận Pháp trong thời gian này sôi nổi nói về người, về cuộc đàm phán tại lâu đài Phôngtennơblô . Những hoạt động của Hồ Chí Minh trên đất Pháp đã phối hợp chặt chẽ và hỗ chợ tích cực cho cuộc đấu tranh ngoại giao của phái đoàn ta trong hội nghị phôngtennơblô. Tại cuộc họp báo quan trọng ngày 12-7-1946 tại Pa ri, Người đã nêu ro 6 điểm trong lập trường đàm phán của Việt Nam: Việt Nam đòi quyền độc lập nhưng không phải hoàn toàn tuyệt giao với pháp mà ở trong liên hiệp Pháp, vì như thế có lợi cho cả hai nước. Về mặt kinh tế và văn hóa Việt Nam vui lòng cộng tác với Pháp. Việt Nam quyết không chịu có chính phủ liên bang Nam Bộ là một bộ phận của nước Việt Nam, không có ai có quyền chia rẽ Việt nam sẽ bảo hộ tài sản của pháp, nhưng người pháp phải tuân theo luật lao đọng Việt Nam và Việt Nam giữ quyền mua lại những tài sản có quan hệ đến quốc phòng. Nếu cần đến cố vấn, Việt Nam sẽ dùng người Pháp trước. Việt Nam có quyền phái đại sứ và lãnh sự đi các nước. Thời gian này Hồ Chí Minh thường xuyên theo doi diễn biến của hội nghị phôngtennoblô. Người đã đến thăm, trao đổi với phái đoàn ta ít nhất là 8 lần. Người đã có những chỉ thị cho phái đoàn và đặc biệt lưu ý nhắc nhở về thái độ mềm mỏng cần thiết để tỏ ro thiện chí của nhân dân Việt Nam. Người rất chú trọng việc tạo không khí hòa dịu thuận lợi cho cuộc đàm phán. Cuộc đàm phán chính thức khai mạc ngày 6 - 7 - 1946. Cuộc đàm phán căng thẳng giữa hai bên đến ngày 10-9-1946 nhưng không đạt được thỏa thuận nào. Ngày 13-9-1946 phái đoàn chính phủ Việt Nam rời Pa Ri lên đường về nước. Cuộc đàm phán tại Phôngtennơblô bị thất bại. Phái thực dân hiếu chiến pháp gần như đã thực hiện được âm mưu phá vỡ cuộc đàm phán với chính phủ ta. Xóa bỏ hiệp định sơ bộ nguy cơ một cuộc chiến tranh mới dang đến trong khi Chủ Tịch Hồ Chí Minh còn ở xa đất nước. 8 Trước tình hình đó, một là kiên quyết không ký kết, ra về với sự tan vỡ không còn gì ràng buộc giữa hai chính phủ, hai là chịu nhân nhượng thêm một bước nữa Giải pháp 4. Vận dụng tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh dạy phần tạm ước 19 - 12 - 1946 Tiếp tục giữ mối quan hệ hòa hoãn dù chỉ rất mong manhvới chính phủ pháp giữa hai con đường ấy Hồ Chí Minh quyết định chọn con đường thứ hai. Ngày 14 - 9 - 1946 Chủ Tịch Hồ Chí Minh gặp Mu tê và Bi đôn, ký với Mu tê ( bộ trưởng bộ quốc pháp hải ngoại) bản tạm ước 14-9. Bản tạm ước gồm có 11 điều khoản có hai điều khoản ban đầu còn lại 9 điều khoản đều nhằm hai nội dung tiếp tục nhượng bộ cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế và văn hóa, hiệp định Sơ bộ ký kết ngày 14- 9 mãi đến 30-10 mới có hiệu lực, điều này cũng nằm trong dự tính Hồ chí Minh trong thời gian đó nhân dân ta có thêm thời gian hòa hoãn để chuẩn bị kháng chiến. Ký tạm ước với Mu tê là một quyết định đúng đắn của chủ Tịch Hồ Chí Minh. Điều này chứng tỏ người nắm rất chắc lập trường, thái độ của từng nhân vật trong chính giới pháp về vấn đề Đông Dương và quan hệ với Việt Nam. Vậy là Hồ Chí Minh đã khai thác đúng chỗ những khả năng ít ỏi nhất để đạt được sự hòa hoãn với Pháp trong khi con dường ấy giường như bế tắc .Tạm ước 14/9/1946 là bước nhân nhượng cần thiết để cứu vãn hòa bình. Điều quan trọng đối với ta lúc ấy đó chỉ là bản tam ước đặt trong hoàn cảnh cụ thể khi quân Trung Quốc Dân Quốc dã rút. Phái hiếu chiến khác đang ráo riết cắt đứt mọi đàm phán, xóa bỏ mọi thỏa thuận để xúc tiến nhanh chóng việc mở rộng chiến tranh thôn tính toàn bộ Việt Nam. Vậy bản tạm ước càng thể hiện sự sáng suốt và kịp thời của Người. Bản tạm ước đã đẩy lùi được âm mưu của thế lực hiếu chiến khác trong việc làm bùng nổ cuộc chiến tranh, trong tình thế ấy Hồ Chí Minh cho rằng “ Có tạm ước còn hơn không.”Hồ Chí Minh đã kiên quyết là “ Không trở về bằng tay 9 không” mà phải đạt được điều gì đó mặc dù đó chỉ là bản tạm ước nhưng nó đã tạo được điều kiện hòa bình thuận lợi để nhân dân ta chuẩn bị kháng chiến lâu dài. Một điều sáng suốt nữa mà ta còn thấy được khi kí tạm ước với Pháp Hồ Chí Minh đã cân nhắc kĩ lưỡng về ngày có hiệu lực của bản tạm ướclà 30/10 Tư tưởng. Nghệ thuật ngoại giao của Hồ Chí Minh được vận dụng trong việc ký kết bản tạm ước đó là: Về mặt tư tưởng không thay đổi Vận dụng nghệ thuật biết mình, biết người, dự báo tình hình, dĩ bất biến ứng vạn biến. Tìm kiếm bạn đồng minh, lợi dụng mâu thuẩn trong hàng ngũ kẻ thù, phân hóa chúng. Việc ký hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946 và bản tạm ước ngày 14-9-1946 gắn với tư tưởng và tài trí trong nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh, điều đó có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với việc khẳng định và nâng cao vị thế của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa trên trường quốc tế. Những hoạt đọng của Chủ Tịch Hồ Chí Minh tại Pháp đã làm cho công luận pháp và thế giới thấy ro âm mưu xâm lược của bọn thực dân phản động pháp, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân Pháp và nhân dân thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Dự đoán trước xu thế phát triển của các sự kiện, xác định ro mục tiêu hoạt động đối ngoại, tạo cơ hội và kịp thời khi thời cơ xuất hiện, kết hợp giữa việc xây dựng thực lực với hoạt động ngoại giao, giữa tìm kiếm bạn đồng minh với việc lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, phân hóa chúng, triệt tiêu khả năng tập hợp lực lượng của kẻ thù chính, đó chính là nét đặc sắc sáng tạo trong hoạt động ngoại giao của Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh còn được vận dụng sáng tạo vào dạy phần Đường lối kháng chiến toàn quốc 1946-1954. Đó là Chủ Tịch 10 Hồ Chí Minh đã vận dụng tính chính nghĩa và tính nhân dân để đập tan âm mưu của kẻ thù, đồng thời tập hợp sức mạnh toàn dân để chống lại thực dân pháp. Vận dụng vào dạy phần câu hỏi thi cụ thể: Phân tích tính chính nghĩa và tính nhân dân đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng Cộng Sản Đông Dương. Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp Chủ Tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện quan điểm tư tưởng của mình, vai trò của mình trong quan điểm đấu tranh. Trước âm mưu và hành động trở lại xâm lược nước ta của thực dân Pháp Đảng và chính phủ ta đã chủ trương hòa hoãn với pháp bằng cách ký hiệp định sơ bộ ngày 6 - 3 - 1946 và tạm ước ngày 14 - 9 - 1946. Sau khi ký hiệp định sơ bộ và tạm ước ta thực hiện những đièu đã ký còn thực dân pháp thì bội ước ngày càng lấn tới, và cuối cùng chúng ngang nhiên xé bỏ hiệp sơ bộ và tạm ước.Trước tình thế đó, Chủ Tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng và chính phủ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta là cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập của dân tộc đã giành được trong cách mạng tháng tám 1945. Đây là cuộc kháng chiến hoàn toàn chính nghĩa, vì chĩnh nhgiã nên trong quá trình kháng chiến, nhân dân ta đã nhận được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới, đặc biệt là nhân dân Pháp. Cũng xuất phát từ cuộc kháng chiến chính nghĩa nên ta chủ trương kháng chiến lâu dài để chống lại âm mưu “ đánh nhanh thắng nhanh” của pháp và cuối cùng giành thắng lợi. Tính nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh được vận dụng vào quá trình thực hiện đường lối kháng chiến. Trong đường lối kháng chiến chống pháp xâm lược, Đảng ta chủ trương kháng chiến toàn dân. Nhờ có đường lối này, đã tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia kháng chiến và phục vụ kháng chiến. 11 Trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nêu ro. Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái. Hễ là người Việt Nam, phải cầm vũ khí chống thực dân pháp …Đáp lời kêu gọi nhân dân cùng đứng lên kháng chiến. Trong quá trình kháng chiến ta đánh địch ở khắp các mặt trận và sư dụng các loại vũ khí có sẵn trong tay, như Hồ Chủ Tịch đã kêu gọi: “ Ai coa súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm dùng quốc thuổng gậy gộc…” Nhờ tính nhân dân trong kháng chiến chống pháp mà ta đánh bại được âm mưu “ dùng người việt đánh người việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh ” Của thực dân pháp Đúc kết một số tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao của Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã được vận dụng vào dạy học lịch sư phần quan hệ ngoại giao Việt Pháp từ ngày 2-9-1945 đến ngày 19-12-1946. Tư tưởng chủ đạo của Hồ Chí Minh trong cách giải quyết mối quan hệ Việt Pháp ở giai đoạn 1945-1946 là sư dụng phương pháp hòa bình. Đó là tư tưởng chỉ đạo của Người về cách giải quyết mối quan hệ quốc tế của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Điều đó thể hiện cụ thể qua chính sách ngoại giao của Đảng và nhà nước trong buổi đầu độc lập mà Người đã góp phần quan trọng kiến tạo nên. Tư tưởng ấy phù hợp với chủ nghĩa nhân đạo, với truyền thống lịch sư và nguyện vọng của dân tộc Việt Nam. Phù hợp với xu thế chung của loại tiến bộ. Xây dựng mối quan hệ hòa bình, hợp tác và thân thiện với nước Pháp, với nhân dân Pháp là chủ trương nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết mối quan hệ Việt Pháp từ khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa mới được thành lập. Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất đát nước là vấn đề nguyên tắc trong quan hệ ngoại giao với Pháp. 12 Ở giai đoạn 1945-1946. Hồ Chí Minh chủ trương một nền ngoại giao hòa bình. Song không phải hòa bình với bất cứ giá nào. Trong tương quan giũa Việt Nam với Pháp và hoàn cảnh quốc tế ở giai đoạn 1945-1946. Hồ Chí Minh và trung ương Đảng đã chủ trương “đối với Pháp độc lập về chính trị nhân nhượng về kinh tế ”. Những thỏa ước mà Người ký kết với phía Pháp có nhiều điều khoản quy định những ưu tiên cho nước Pháp về kinh tế, văn hóa. Tạm ước 149-1946 đánh dấu những nhân nhượng cao nhất đối với phía pháp mà Hồ Chí Minh đã quyết định. Điều đó nói lên rằng khi cần thiết, Người có đủ bản lĩnh để đi đến giới hạn cuối cùng của sự nhân nhượng. Song người không bao giờ vượt qua sợi tóc mỏng manh phân cách giữa sự nhân nhượng và sự đầu hàng. Trong cuộc đấu tranh ngoại giao với phía pháp ở giai đoạn này, Hồ Chí Minh luôn giữ vững những yêu cầu cơ bản về độc lập, chủ quyền dân tộc và thống nhất lãnh thổ Việt Nam. Đó là lập trưpừng có tính nguyên tắc, xuyên suốt mọi cuộc đối thoại chính thức và không chính thức mà Người và các phái đoàn Việt nam tiến hành với phía Pháp. Xây dựng nội lực là cơ sở quyết định đấu tranh ngoại giao. Nhận định đúng tương quan lực lượng và xu thế phát triển của tình hình, đưa ra những yêu cầu đúng mức. Chủ động linh hoạt vận dụng sách lược và giải quyết các mối quan hệ trong đấu tranh ngoại giao. Ở giai đoạn 1945-1946, với cách nhìn bao quát, đồng thời cũng rất cụ thể. Hồ Chí Minh đã đặt việc giải quyết mối quan hệ giữa các bên liên quan trực tiếp đến Việt Nam. Để thực hiện sách lược thêm bạn bớt thù, Người luôn quan tâm tới các quan hệ Pháp-Trung, Pháp-Mỹ, Mỹ-Trung,…và tìm cách tránh những hệ quả không tốt đến quan hệ giữa Việt Nam với các thế lực đó. Giải pháp mà Người đưa ra với phía Pháp bao giờ cũng chứa đựng những yếu tố có thể phù hợp với chính sách hoặc ít ra là tuyên bố của nhiều bên, trên cơ sở đó, tranh thủ sự đồng tình và hạn chế sự phá hoại của nhiều đối tượng Hồ Chí Minh đã thực hiện triệt để sách lược phân hóa kẻ thù ; thực hiện xuất sắc chỉ dẫn của V.I.Lê 13 nin về lợi dụng khai thác tỉ mỉ những mâu thuẫn, rạn nứt dù nhỏ bé nhất trong hàng ngũ kẻ thù. Tài năng và uy tiến tuyệt đối của Hồ Chí Minh đã giúp người thống nhất được ý chí và hành động trong nội bộ lãnh đạo Đảng, giữ vững được lòng tin của đại đa số nhân dân, thực hiện có hiệu quả đối sách với phía pháp. Suy nghĩ Hồ Chí Minh trong lĩnh vực ngoại giao, ông Phạm Văn Đồng đã viết: “Hồ Chí Minh là một nhà ngoại giao có thể nói là hiếm có trong ngoại giao…Toàn bộ những tư tưởng Hồ Chí Minh về hoạt động ngoại giao như biết đánh giá, dự báo tình hình, nắm bắt thời cơ, tổ chức lực lượng, nhận ro bạn thù, tranh thủ đồng minh, cô lập kẻ thù là chủ yếu, kiên định về nguyên tắc, linh hoặt về sách lược, biết thắng từng bước để tiến tới chiến thắng hoàn toàn, độc lập tự chủ gắn liền với đoàn kết quốc tế, là di sản quý báu đối với chúng ta trong hoặt động ngoại giao để phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.” 4. Kiểm nghiệm. Với việc thực nghiệm vận dụng tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh vào dạy phần quan hệ ngoại giao Việt- Pháp từ 2-9-1945 đến 19-12-1946 tôi nhận thấy học sinh rất hứng thú học bài, hiểu bài sâu hơn, qua các bài kiể tra tôi thấy số điểm khá giỏi tăng nhanh. Đặc biệt là học sinh không còn mắc phải các lỗi đáng tiếc như trước đây nữa và qua đề tài được ứng dụng vào dạy học. Học sinh đã hiểu ro hơn vai trò của Hồ Chí Minh trong hoạt động ngoại giao, qua đó học sinh đã rút ra được cho bản thân nhiều bài học kinh nghiệm quý báu ứng dụng vào cuộc sống thực tiễn. Điều này hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh hiện tại ngày nay vì từ năm 2007 đến nay cả nước đang xúc tiến học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Đặc biệt là chuyên đề năm nay là chuyên đề học tập phong cách, dân chủ nêu gương Hồ Chí Minh. Với việc dạy thực nghiệm ở 2 lớp tôi đã so sánh trước và sau khi thực nghiệm kết quả.. 14 Qua việc triển khai sáng kiến kinh nghiệm tôi nhận thấy học sinh hiểu bài hơn. các em cảm thấy hứng thú trong giờ học, không cảm thấy khó khi học phần này nữa. Đa số các em hăng hái làm bài tập, kết quả kiểm nghiệm qua các bài kiểm tra cũng đã thấy sự tiến bộ ro rệt, kết quả học tập cũng đã nâng lên cụ thể trong việc đối chiếu kết quả của hai lớp trước và sau khi ứng dụng sáng kiến kinh nghiệm vào dạy học các em. * Trước khi ứng dụng SKKN vào dạy học kết quả khảo sát của học sinh. STT Lớp Sĩ số 1 2 12C5 12C7 47 52 Giỏi SL % 3 6 4 7 Điểm Khá Trung bình SL % SL % 8 17 28 60 19 37 14 27 Yếu SL % 8 17 15 29 * Sau khi ứng dụng SKKN vào dạy học kết quả khảo sát thu được như sau. STT Lớp Sĩ số Giỏi SL % 1 12C5 47 14 30 2 12C7 52 16 30 III. Kết luận và đê xuất: Điểm Khá Trung bình SL % SL % 20 42 13 28 25 48 11 22 Yếu SL % 0 0 0 0 Sau khi vận dụng tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh vào dạy học lịch sư Việt Nam phần quan hệ ngoại giao Việt- Pháp( từ 2-9-1945 đến 1912 - 1946). Tôi nhận thấy học sinh nhận thức phần này ro ràng hơn. Qua các bài kiểm tra định kỳ cách viết bài của các em không còn lúng túng như trước kia. Học sinh tiếp thu bài theo cách hiểu bài sâu hơn và không cảm thấy khó khi học phần này. Bởi mỗi phần ứng dụng giáo viên đã chỉ ro cho học sinh về tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao của Hồ Chí Minh để các em hiểu ro bản chất vấn đề trong từng ứng dụng cụ thể. Bản thân tôi có rút ra những bài học kinh nghiệm qua các bài dạy và vận dụng giáo dục cho học sinh hiể sâu hơn về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh để 15 giúp các em học tập Người để có thêm kỷ năng sống cho bản thân và nâng cao hiểu biết, ý thức trách nhiệm với cộng đồng với tổ quốc. Là nguồn tư liệu quí giá để tôi và các đồng nghiệp của mình ứng dụng vào dạy ôn luyện học sinh giỏi, ôn thi Đại học, cao Đẳng, ôn thi tốt nghiệp… Với việc ứng dụng thực tế đó trong những năm gần đây với vai trò là tổ trưởng bộ môn lịch sư trong quá trình ôn luyện học sinh giỏi bản thân tôi thường xuyên có nhiều học sinh đạt giải học sinh giỏi, có học sinh đạt giải nhì, và luôn được hội khuyến học huyện khen thưởng có nhiều học sinh đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi tỉnh. Đối với ôn luyện thi Đại học cũng đạt kết quả cao có học sinh đạt 9,5 điểm. Đê Xuất: Sở Giáo Dục thường xuyên mở các lớp học bồi dưỡng cho cán bộ cốt cán bộ môn để thường xuyên có những điểm mới, những kinh nghiệm hay ứng dụng vào dạy học bộ môn. Cần cho xuất bản 3 bộ bản đồ ở cả 3 khối cấp cho các trường THPT nhằm hỗ trợ đắc lực hơn trong công tác dạy học ( tuy công nghệ thông tin phát triển nhưng không phải bài dạy nào cũng ứng dụng công nghệ thông tin) có những bài dạy chỉ cần bản đồ, lược đồ để hỗ trợ là đủ. Sở dĩ tôi đề xuất lý do này là vì nó phù hợp cho đại da số những trường chưa có phòng đa năng như trường tôi. IV. Tài liệu tham khảo 1. Hoạt đọng đối ngoại của Chủ Tịch Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Pháp : NXB Chính Trị Quốc Gia Hà Nội. 2. Đinh Xuân Lâm. Nguyễn Văn Khoan: Những mối quan hệ của Hồ Chí Minh trong chuyến sang Pháp 1946. Tạp chí lịch sư Đảng số 6.1993. 3. Hồ Chí Minh toàn tập. Xuất bản lần thứ hai T3. T4. Nxb Chính trị Quốc gia H.1995. 16 4. Phạm Văn Đồng: Chủ tịch Hồ Chí Minh, quá khứ, hiện tại và tương lai.Nxb Sự thật .H.1991. 5. Biên bản họp hội đồng chính phủ năm 1945 - 1946.Bản sao, lưu bảo tàng Hồ Chí Minh. 6. Sách giáo khoa lớp 12. Xb - 2007 7. Sách giáo Viên lớp 12. Xb - 2007 8. Đấu tranh ngoại giao trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (19451954). Thanh Hóa, ngày 20 tháng 5 năm 2013 XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Hiệu trưởng Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác. Vũ Tiến Ca Đỗ Thị Ca 17
- Xem thêm -