Skkn tích hợp gd bảo vệ môi trường trong môn vật lý 10 nân cao ở trường thpt quảng xương 4 nhằm gd học sinh kiến thức về bảo vệ môi trường sống

  • Số trang: 28 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 252 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

MỤC LỤC A. ĐẶT VẤN ĐỀ.......................................................................................1 B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.........................................................................2 I. CƠ SỞ LÝ LUẬN................................................................................2 II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ...........................................................3 III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN.........................................5 1. Thông qua dạy học môn vật lí.......................................................................... 5 1.1. Lựa chọn nội dung tích hợp phù hợp.......................................................5 1.2. Lựa chọn phương pháp tích hợp cho từng nội dung.......................... 6 1.3. Lựa chọn thời điểm thích hợp trong tiến trình giảng dạy để tích hợp nội dung BVMT...............................................................................................6 1.4. Các nội dung có thể tích hợp được trong môn vật lí 10 NC.............7 2. Tích hợp GDMT được triển khai như một hoạt động độc lập............10 2.1. Các bước tiến hành.......................................................................................10 2.2. Vận dụng cho một hoạt động cụ thể.......................................................11 IV. KẾT QUẢ KHẢO SÁT..................................................................................... 18 C. KẾT LUẬN................................................................................................................ 19 1 A. ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay vấn đề ô nhiễm môi trường, phá vỡ cân bằng sinh thái đã là vấn đề quan tâm chung của nhân loại. Vì vậy, người ta coi vấn đề môi trường là một trong các "vấn đề toàn cầu". Ở nước ta, đó cũng là vấn đề được quan tâm sâu sắc của tất cả các ngành, các cấp. Ngày 27 tháng 12 năm 1993 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường; Ngày 17 tháng 10 năm 2001 Thủ tướng Chính phủ đã quyết định về việc phê duyệt đề án “đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”; Ngày 31 tháng 01 năm 2005, ngành giáo dục và đào tạo đã có chỉ thị về việc tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường, trong đó nhiệm vụ trọng tâm là trang bị cho học sinh kiến thức, kĩ năng về môi trường và bảo vệ môi trường bằng nhiều hình thức phù hợp như thông qua các môn học và hoạt động ngoại khoá,... Giáo dục bảo vệ môi trường là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất, kinh tế nhất và có tính bền vững trong các biện pháp để thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất nước. Thông qua giáo dục, từng người và cộng đồng được trang bị kiến thức về môi trường, ý thức bảo vệ môi trường, năng lực phát triển và xử lí các vấn đề về môi trường. Trong số các môn học ở trường THPT thì môn Vật lí là một trong những môn học thực nghiệm, nó cung cấp cho học sinh rất nhiều các kiến thức cơ bản về thế giới tự nhiên nói chung và về môi trường xung quanh. Vì vậy, để đáp ứng những yêu cầu đặt ra, cùng với các môn học khác, trong quá trình giảng dạy Vật lí việc lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường là vấn đề không thể thiếu. Với lòng quyết tâm cải thiện, nâng cao chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường đã hướng tôi nghiên cứu và viết sáng kiến kinh nghiệm: “Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn vật lí 10 NC ở trường THPT Quảng Xương 4 nhằm giáo dục học sinh kiến thức về bảo vệ môi trường sống”. 2 B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. CƠ SỞ LÝ LUẬN Theo định nghĩa về môi trường của Chương trình môi trường Liên Hiệp quốc (United Nation Enviroment Program - UNEP): "Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế xã hội, tác động lên từng cá thể hay cả cộng đồng". Việc phân tích cấu trúc môi trường theo khoa học môi trường cho thấy các yếu tố vật lý có vai trò rất quan trọng. Như vậy, môn vật lý ở trường phổ thông có thể khai thác nhiều cơ hội để tích hợp các nội dung GDMT, có thể nêu ra một số trường hợp như: - Khai thác từ nội dung môn học vật lý. - Tích hợp các nội dung của các môn học khác như: hóa học, sinh học,... (vì nhiều quá trình hóa học, sinh học,... chịu tác động của yếu tố vật lý). - Để định hướng cho việc lựa chọn nội dung GDMT phù hợp, có thể nêu lên một số vấn đề môi trường đang được quan tâm hiện nay có liên quan trực tiếp tới các quá trình vật lý. Thứ nhất, tài nguyên rừng bị suy giảm: - Trước hết phải làm rõ được vai trò của rừng đối với cuộc sống con người: + Rừng - nguồn gien quý giá (động, thực vật). + Cung cấp lâm thổ sản. + Điều hòa lượng nước trên mặt đất. + Rừng là "lá phổi xanh" của trái đất. + Rừng chống xói mòn đất,... Dưới góc độ khoa học vật lý, có thể nêu lên các quá trình vật lý như: hiện tượng mao dẫn của đất, quá trình quang hợp, thế năng, động năng, dòng chảy của nước gây ra sự bào mòn đất,... - Các giải pháp bảo vệ rừng, phát triển rừng nhìn từ góc độ vật lý (chống xói mòn đất, hạn chế khí nhà kính,…). Thứ 2, ô nhiễm nước: vai trò của nước đối với sự sống trên Trái Đất, các quá trình lý hóa khi nước bị ô nhiễm,... các biện pháp bảo vệ nước, chu trình nước trong tự nhiên (liên quan tới các hiện tượng chuyển thể của nước,…). Thứ 3, suy thoái và ô nhiễm đất: môi trường đất chủ yếu bị ô nhiễm do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thiếu bền vững, các chất thải từ hoạt động sản xuất, 3 sinh hoạt không qua xử lí, các chất độc hóa học tồn lưu sau chiến tranh, sạt lở, rửa trôi, xói mòn, hoang mạc hóa, mặn hóa và phèn hóa,... Thứ 4, ô nhiễm không khí: khí quyển, quá trình suy giảm tầng ôzôn, chất phóng xạ, hóa chất. Thứ 5, ô nhiễm tiếng ồn: - Khái niệm: Ô nhiễm môi trường do tiếng ồn là tập hợp những âm thanh tạp loạn có tần số và chu kỳ khác nhau, nói cách khác là những âm thanh chói tai, gây những tác động không mong muốn, có hại cho sức khỏe con người, cơ thể sống. - Các nguồn ô nhiễm: tiếng máy bay, xe cộ, karaoke quá giới hạn cho phép, âm thanh 80 dB,... Ô nhiễm tiếng ồn liên quan trực tiếp tới các quá trình vật lý như sóng âm. Thứ 6, ô nhiễm ánh sáng: sự chiếu sáng gây tác hại đến con người và sinh vật. Thứ 7, sản xuất, truyền tải và sử dụng điện năng nhìn nhận dưới góc độ bảo vệ môi trường. Thứ 8, ô nhiễm phóng xạ: Các tia phóng xạ, an toàn hạt nhân,… Hiện nay con người đã khai thác quá mức và sử dụng không hợp lí các nguồn tài nguyên, dẫn đến mất cân bằng sinh thái, môi trường sống bị ô nhiễm nghiêm trọng và đang đe dọa đến cuộc sống con người như: Ô nhiễm không khí, hiệu ứng nhà kính, nguồn nước bị ô nhiễm, rừng bị suy giảm, sạt lở, lũ lụt, hạn hán,... Vì thế, việc lựa chọn địa chỉ, nội dung, để tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong giảng dạy Vật lí là vấn đề quan trọng và cần thiết nhằm trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức đầy đủ về môi trường và kĩ năng bảo vệ môi trường phù hợp với tâm lí lứa tuổi. Bên cạnh đó tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường. II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ Bảo vệ môi trường hiện nay đang là nhiệm vụ của toàn xã hội, trong đó có học sinh. Tuy nhiên, rất nhiều học sinh không mấy quan tâm, thậm chí thờ ơ đối với việc bảo vệ môi trường. Vì vậy, trong quá trình dạy học giáo viên cần giáo dục học sinh nhận thức và biết cách bảo vệ môi trường, trước hết là môi trường sống xung quanh các em. 4 Trong quá trình dạy học Vật lí, tôi chắc rằng các giáo viên đã đề cập đến các biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường. Tuy nhiên việc làm này còn chưa thường xuyên, đôi khi còn mang tính sách vở, thiếu sự gần gũi với đời sống thực tế học sinh. Trong khi đó, Vật lí là môn khoa học mang tính thực tiễn cao, chúng ta hoàn toàn có thể vừa đưa ra các biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường liên quan đến từng nội dung trong các bài học cụ thể lại vừa gần gũi với sự hiểu biết của học sinh. Chính điều này sẽ có tác dụng kích thích tính tò mò, sáng tạo, hứng thú học tập, mở rộng sự hiểu biết của học sinh, đặc biệt là hướng sự quan tâm của các em tới môi trường để từ đó biết cách bảo vệ môi trường. Thực tế tại trường THPT Quảng Xương 4 và qua tìm hiểu các đồng nghiệp giảng dạy Vật lí trên địa bàn huyện Quảng Xương nói chung hiện tại có rất ít tài liệu hướng dẫn giáo viên về nội dung, chương trình cũng như phương pháp dạy học tích hợp giáo dục môi trường trong môn Vật lí một cách cụ thể, rõ ràng. Cũng vì vậy trong quá trình dạy học, hầu hết giáo viên chưa quan tâm nhiều đến việc dạy học tích hợp giáo dục môi trường, nếu có chỉ mang tính đối phó. Đa số giáo viên chỉ dạy học có tích hợp khi có sinh hoạt chuyên đề, thao giảng. Để nắm rõ thực trạng hiểu biết về kiến thức môi trường trong môn Vật lí của học sinh khối 10 trường THPT Quảng Xương 4, khi bắt đầu nghiên cứu lí luận để viết sáng kiến này tôi đã tiến hành 1 bài kiểm tra 15 phút lấy điểm hệ số 1 (sau khi học sinh học xong Tiết 26 – Lực ma sát) với câu hỏi về kiến thức môi trường như sau: Câu hỏi: Trong quá trình lưu thông của các phương tiện giao thông đường bộ, ma sát giữa bánh xe và mặt đường, giữa các bộ phận cơ khí với nhau, ma sát giữa phanh xe và vành bánh xe làm phát sinh các bụi cao su, bụi khí và bụi kim loại. Các bụi khí này gây ra tác hại gì đối với môi trường và sinh vật? Em hãy đề xuất một giải pháp để hạn chế những tác hại đó? Kết quả học sinh trả lời câu hỏi trên như sau: Lớp 10K Tổng số học sinh SL TL% 42 6 14,3 Trả lời đúng Kết quả Có trả lời nhưng chưa đầy đủ SL TL% 12 28,6 Không có câu trả lời hoặc trả lời sai SL TL% 26 61,9 5 10M 40 10 25,0 14 35,0 16 40,0 Tổng 82 16 19,5 26 31,7 42 51,2 Qua kết quả kiểm tra có thể thấy tỉ lệ học sinh hiểu biết về môi trường (sự cần thiết phải bảo vệ môi trường và biết cách bảo vệ môi trường) còn rất hạn chế, có hơn 51 % số học sinh không quan tâm hoặc không hiểu biết về kiến thức môi trường liên quan trong môn Vật lí. Trước thực trạng trên, trong năm học 2012 – 2013 tôi đã mạnh dạn viết sáng kiến kinh nghiệm Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Vật lí lớp 10 NC nhằm: - Xây dựng nội dung, chương trình tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học môn Vật lí lớp 10 NC. - Đề xuất một số phương pháp dạy học tích hợp giáo dục môi trường trong môn Vật lí lớp 10 đạt hiệu quả cao. III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Thông qua dạy học môn vật lí 1.1. Lựa chọn nội dung tích hợp phù hợp - Khi khai thác nội dung tích hợp, có thể khai thác theo hai dạng sau: + Nội dung chủ yếu của bài học, hoặc có nội dung môn học trùng hợp với nội dung môi trường (hình thức lồng ghép). + Một số nội dung của bài học có liên quan tới GDMT song không nêu rõ trong SGK (hình thức liên hệ). - Song, dù khai thác theo hình thức nào cũng cần tuân theo các nguyên tắc: + Không làm mất tính đặc trưng của môn học. Không biến bài học bộ môn thành bài học môi trường. + Khai thác nội dung chọn lọc, tập trung, không tràn lan, tuỳ tiện. + Phát huy nhận thức của học sinh, khai thác kinh nghiệm thực tế của học sinh. Ví dụ: Trong bài “Thế năng. Thế năng trọng trường - Vật lí 10NC”. Giáo viên chọn chủ đề khai thác là phần 3 - Thế năng trọng trường. Sử dụng nguồn tài liệu dẫn đến những thảm hoạ về môi trường và những biện pháp khắc phục. Ví dụ: 6 Thác nước, nước chảy từ trên cao xuống thì sinh công làm xói mòn đất, làm quay tua bin. Ở miền núi lợi dụng sức nước để bơm nước lên cao làm cối giã gạo. Giải pháp: Khắc phục sự xói mòn đất; Tích cực trồng cây trên đồi trọc, đất trống, làm ruộng bậc thang, canh tác vùng đất dốc có khoa học. - Đối với mỗi nội dung cần tích hợp, giáo viên có thể yêu cầu học sinh: + Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường. + Học sinh tự đưa ra biện pháp bảo vệ môi trường hoặc giáo viên đưa ra để học sinh tìm hiểu. + Giải thích một số hiện tượng thường gặp trong cuộc sống của các em. 1.2. Lựa chọn phương pháp tích hợp cho từng nội dung Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, việc tìm kiếm bất cứ tư liệu nào trên mạng internet cũng trở nên dễ dàng. Đây là một điều kiện thuận lợi cho việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung và việc tích hợp bảo vệ môi trường nói riêng. Sau khi xây dựng được nội dung tích hợp giáo viên tìm và lựa chọn những hình ảnh, clip sinh động, ấn tượng phù hợp với yêu cầu, nội dung kiến thức để đưa vào bài giảng. Khi chọn được hình ảnh thích hợp nên lưu lại trong một tập tin với định dạng cỡ ảnh to nhất (khi đưa vào giáo án điện tử hình ảnh sẽ đạt chất lượng cao hơn). Việc sử dụng máy vi tính kết hợp với máy chiếu để dạy học sẽ phát huy cao tính trực quan của bài dạy. Đặc biệt phần tích hợp bảo vệ môi trường đòi hỏi không chỉ cung cấp kiến thức, kĩ năng mà quan trọng là hình thành ở học sinh thái độ tích cực trước các vấn đề về môi trường bị suy thoái, điều này sẽ đạt được hiệu quả cao khi các em được chứng kiến những hình ảnh, clip về thực trạng cũng như những hậu quả của ô nhiễm môi trường đưa lại. 1.3. Lựa chọn thời điểm thích hợp trong tiến trình giảng dạy để tích hợp nội dung BVMT Việc lựa chọn thời điểm và nội dung để tích hợp hết sức quan trọng. Một mặt nó làm cho bài dạy trở nên sinh động và có ý nghĩa, mặt khác nếu lựa chọn không phù hợp sẽ làm cho bài dạy bị đứt quãng và xa rời trọng tâm kiến thức. Ý thức được điều này giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ lưỡng các phương án tích hợp để vừa đảm bảo dạy đúng, dạy đủ vừa đạt được mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường. Để đảm bảo được các yêu cầu đó thì nội dung tích hợp giáo dục bảo 7 vệ môi trường được đưa vào sau khi các em đã tiếp thu được kiến thức nội dung học tập của phần đó. 1.4. Các nội dung có thể tích hợp được trong môn vật lí 10 NC Địa chỉ tích hợp Tiết Tên bài (vào nội dung nào của bài) 26 Bài 20: 4. Vai trò của ma Lực ma sát trong đời sống sát 47 Bài 33: 1. Công Công và công suất Nội dung GDMT (Kiến thức, kĩ năng có thể tích hợp) - Trong quá trình lưu thông của các phương tiện giao thông đường bộ, ma sát giữa bánh xe và mặt đường, giữa các bộ phận cơ khí với nhau, ma sát giữa phanh xe và vành bánh xe làm phát sinh các bụi cao su, bụi khí và bụi kim loại. Các bụi khí này gây ra tác hại to lớn đối với môi trường: ảnh hưởng đến sự hô hấp của cơ thể người, sự sống của sinh vật và sự quang hợp của cây xanh. Biện pháp: + Khi tham gia giao thông cần mang khẩu trang để bảo vệ sức khỏe. + Vận động người dân không sử dụng các phương tiện đã cũ nát, không đảm bảo chất lượng. + Các cơ quan chức năng cần tăng cường kiểm tra các phương tiện tham gia giao thông đảm bảo các tiêu chuẩn về khí thải và an toàn đối với môi trường. - Nếu đường nhiều bùn đất, xe đi trên đường có thể bị trượt dễ gây ra tai nạn, đặc biệt khi trời mưa và lốp xe bị mòn. Biện pháp: + Cần thường xuyên kiểm tra chất lượng xe đặc biệt là lốp xe. + Tham gia vệ sinh và giữ vệ sinh mặt đường sạch sẽ. - Khi có lực tác dụng vào vật nhưng vật không di chuyển thì không có công cơ học nhưng con người và máy móc vẫn tiêu tốn năng lượng. Trong giao thông vận tải, các đường gồ ghề làm các 8 49 Bài 34: Động năng, định lí động năng 50 Bài 35: Thế năng. Thế năng trọng trường 1. Động năng phương tiện di chuyển khó khăn, máy móc cần tiêu tốn nhiều năng lượng hơn. Tại các đô thị lớn, mật độ giao thông đông nên thường xảy ra tắc đường. Khi tắc đường các phương tiện tham gia vẫn nổ máy tiêu tốn năng lượng vô ích đồng thời xả ra môi trường nhiều chất khí độc hại. - Giải pháp: + Khi không tham gia giao thông thì nên tắt động cơ của các phương tiện. + Người dân hạn chế tham gia giao thông vào các giờ cao điểm. + Cơ quan có thẩm quyền: Cải thiện chất lượng đường giao thông và thực hiện các giải pháp đồng bộ nhằm giảm ách tắc giao thông. Công an giao thông cần thiết có mặt vào các giờ cao điểm để hướng dẫn người dân tham gia giao thông đảm bảo an toàn và giảm thiểu tắc đường. - Khi tham gia giao thông, phương tiện tham gia có vận tốc lớn (có động năng lớn) sẽ khiến cho việc xử lí sự cố gặp khó khăn, nếu xảy ra tai nạn sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng. - Giải pháp: + Khi tham gia giao thông cần đi đúng phần đường và đúng tốc độ quy định. + Chỉ tham gia giao thông bằng ô tô, xe máy khi đủ tuổi quy định và đã học luật giao thông. + Vận động mọi người không tham gia giao thông khi đã uống rượu, bia. 3. Thế năng trọng trường - Thác nước, nước chảy từ trên cao thì sinh công làm sói mòn đất, làm quay tua bin. Ở miền núi lợi 9 59 61 dụng sức nước để bơm nước lên cao làm cối giã gạo. - Giải pháp: Khắc phục sự xói mòn đất: Tích cực trồng cây trên đồi trọc, đất trống, làm ruộng bậc thang, canh tác vùng đất dốc có khoa học. Bài 41: 1. Áp suất của - Sử dụng chất nổ để đánh cá sẽ gây ra một áp suất Áp suất chất lỏng rất lớn, áp suất này truyền theo mọi phương gây ra của chất sự tác động của áp suất rất lớn lên các sinh vật lỏng khác sống trong đó. Dưới tác dụng của áp suất này, hầu hết các sinh vật bị chết. Việc đánh bắt cá bằng chất nổ gây ra tác dụng hủy diệt sinh vật, ô nhiễm môi trường sinh thái. - Biện pháp: + Bản thân và gia đình không tham gia đánh bắt cá bằng thuốc nổ. + Tuyên truyền người dân không sử dụng chất nổ để đánh bắt cá. + Khi phát hiện có người sử dụng chất nổ để đánh bắt cá, kịp thời báo với người lớn. Bài 43: 4. Một vài ứng - Khi lên cao áp suất khí quyển giảm. Ở áp suất Ứng dụng khác của thấp, lượng oxi trong máu giảm, ảnh hưởng đến sự dụng định luật Becnuli sống của con người và động vật. Khi xuống các của hầm sâu, áp suất khí quyển tăng, áp suất tăng gây định ra các áp lực chèn ép lên các phế nang của phổi và luật màng nhĩ, ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Becnuli - Biện pháp: + Để bảo vệ sức khỏe cần tránh thay đổi áp suất đột ngột, tại những nơi áp suất quá cao hoặc quá 10 74 Bài 54: Hiện tượng dính ướt Hiện tượng mao dẫn 76, Bài 56: 77 Sự hoá hơi và sự ngưng tụ 2. Hiện tượng mao dẫn 1. Sự bay hơi, hơi khô và hơi bão hoà. Độ ẩm của không khí 84, Bài 60: 1. Động cơ nhiệt 85 Nguyên và máy lạnh tắc hoạt động của động cơ và máy lạnh 78 Bài tổng kết chương 7 Liên kết các nội dung thấp cần mang theo bình oxi. + Khi đi gần đường tàu không nên đi gần. + Khi đi rừng không nên trèo lên các ngọn đồi quá cao hoặc đi vào các hang động quá sâu. - Các ống mao dẫn trong rễ cây và thân để hút nước và dưỡng chất nuôi cây tốt. - Đất đồi có cây xanh che phủ thì ít bị hạn hán. - Giải pháp: Trồng cây xanh ở đồi núi, làm ruộng bậc thang. - Độ ẩm có ảnh hưởng đến rất nhiều quá trình trên trái đất: Sự sống của động thực vật, con người, độ bền của vật liệu. - Nước từ biển, sông, hồ,...bay hơi làm cho khí hậu điều hoà. - Giải pháp: Tích cực trồng cây xanh, các doanh nghiệp vận chuyển xăng dầu trên biển phải đảm bảo an toàn, không đổ chất thải bừa bãi ra các sông, suối,... - Các động cơ nhiệt gây ô nhiễm không khí, tiếng ồn. - Chất frêôn thoát ra từ các máy làm lạnh phá huỷ tần ôzôn, gây ra hiệu ứng nhà kính. - Giải pháp: + Không nên lưu thông các động cơ đã cũ nát trên đường. Các cơ quan chức năng cần có biện pháp kiểm tra chất lượng xe lưu thông. + Không sử dụng các máy lạnh đã hư hỏng. - Sự tuần hoàn của nước trong tự nhiên và vấn đề ô nhiễm môi trường. 11 2. Tích hợp GDMT được triển khai như một hoạt động độc lập 2.1. Các bước tiến hành Các hoạt động độc lập này như: tham quan, ngoại khoá, hoạt động ngoài giờ lên lớp....Kế hoạch hoạt động có thể xây dựng theo gợi ý sau: * Chọn chủ đề BVMT: Việc chọn chủ đề môi trường cần dựa trên các căn cứ sau: đặc điểm HS, đặc điểm vùng miền, căn cứ vào kế hoạch của nhà trường,.... * Hình thức hoạt động: tham quan, câu lạc bộ, ngoại khoá, ... * Thiết kế hoạt động: - Mục tiêu hoạt động: Về nhận thức, về hành động. - Các nội dung: Cần tránh những nội dung mang tính hàn lâm, giáo điều mà tạo điều kiện thuận lợi nhất để học sinh có thể trình bày những hiểu biết và những suy nghĩ, nguyện vọng của mình. - Nhân sự: Gồm nhóm hoạt động, người phụ trách, ban cố vấn, ... - Cách thức thực hiện hoạt động: + Đặt vấn đề với học sinh về ý tưởng tổ chức hoạt động ngoại khóa. Lấy ý kiến học sinh, xây dựng kế hoạch hoạt động. + Trình bày kế hoạch hoạt động với lãnh đạo nhà trường. + Công bố kế hoạch hoạt động tới lớp học sinh và các bộ phận liên quan. + Họp lớp và những cá nhân liên quan để phân công nhiệm vụ và chuẩn bị. - Chuẩn bị cơ sở vật chất, tài chính: Người lập kế hoạch cần dự toán kinh phí tổ chức, cũng như huy động cơ sở vật chất cần thiết. - Thời gian, địa điểm tổ chức: Cần căn cứ kế hoạch nhà trường. - Thực hiện hoạt động: Tổ chức, giám sát, giúp đỡ, điều chỉnh, đánh giá, ... - Kết thúc hoạt động: Đánh giá kết quả, nhận xét, báo cáo, kiến nghị thực tiễn, kết quả rút ra với bản thân, ... 2.2. Vận dụng cho một hoạt động cụ thể Trong năm học 2012 – 2013, dựa trên kế hoạch năm học của nhà trường, bản thân tôi là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Vật lí đã xây dựng kế hoạch ngoại khóa về môi trường đối với môn Vật lí khối 10. Sau khi xây dựng đã đề xuất lên nhà trường bằng văn bản và đã được nhà trường phê duyệt, dự kiến thực hiện trong tháng 05 năm 2013 với đối tượng là học sinh khối 10 trường THPT 12 quảng Xương 4. Sau đây tôi xin đưa ra kế hoạch ngoại khóa về môi trường đã xây dựng từ đầu năm học 2012 – 2032 đối với môn Vật lí khối 10: dưới hình thức hội thi. TRƯỜNG THPT QUẢNG XƯƠNG 4 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỔ VẬT LÍ – CÔNG NGHỆ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc KẾ HOẠCH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG Kính gửi: Ban giám hiệu trường THPT Quảng Xương 4. - Căn cứ kế hoạch nhiệm vụ năm học 2012 – 2013 của trường THPT Quảng Xương 4. - Nhằm hưởng ứng ngày môi trường thế giới 5/6/2013, tôi xây dựng kế hoạch hoạt động ngoại khóa về giáo dục môi trường môn Vật lí lớp 10 như sau: I. MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA VÀ TÍNH CHẤT CỦA HOẠT ĐỘNG: - Thông qua hoạt động nhằm nâng cao hiểu biết của học sinh về môi trường sống, tác hại và nguyên nhân của ô nhiễm môi trường và thiên tai đối với cuộc sống của con người và sinh vật. - Thông qua hội thi nhằm giáo dục học sinh ý thức bảo vệ, cải tạo môi trường cũng như tinh thần hợp tác trong học tập. II. ĐỐI TƯỢNG, HÌNH THỨC, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM: 1. Đối tượng: Học sinh lớp khối 10 và GVCN khối 10, giáo viên tổ lí-công nghệ của trường THPT Quảng Xương 4. 2. Hình thức tổ chức: Thi hiểu biết kiến thức về môi trường trong môn Vật lí 10. 3. Thời gian tổ chức: Dự kiến trong tháng 5/2013 (vào tuần 18 của HKII – Môn Vật lí theo PPCT mới chỉ học trong 17 tuần). 4. Địa điểm tổ chức: Phòng học lớp chủ nhiệm 13 III. CÁC NỘI DUNG: Chương trình gồm 5 phần thi Phần 1: Khởi động Phần 2: Hiểu biết Phần 3: Tăng tốc Phần 4: Dành cho khán giả Phần 5: Về đích IV. PHÂN CÔNG PHỤ TRÁCH 1. Phụ trách chung: Đ/c GVCN. 2. Giám khảo hội thi: Đ/c giáo viên môn lí. 3. Dẫn chương trình: Mời đ/c bí thư hoặc lớp trưởng của mỗi lớp. V. HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN: Mỗi lớp chia làm 4 đội mang tên đội mình, mỗi đội 2 HS, các học sinh còn lại làm khán giả. Phần 1: Khởi động Bốn đội thể hiện phần thi năng khiếu về môi trường đã chuẩn bị trước có thể là những tiểu phẩm ngắn và vui về môi trường, thể hiện ca khúc về môi trường. Có phần giới thiệu về lớp và các thành viên trong đội. Thời gian tối đa cho phần thi này là 5 phút. Điểm tối đa cho phần thi này là 20 điểm. Phần 2: Hiểu biết Có 4 gói câu hỏi, mỗi đội tham gia được chọn 1 trong 2 gói câu hỏi để trả lời (Mỗi gói câu hỏi có 3 câu). - Thể lệ: Từng đội lên bốc thăm gói câu hỏi. Người dẫn chương trình lần lượt đọc từng câu hỏi. Nhóm bốc thăm có tối đa 15 giây suy nghĩ trả lời cho mỗi câu hỏi, trả lời sai đội bạn được quyền trả lời. Trả lời đúng mỗi câu được 10 điểm. - Gói câu hỏi kèm theo, cứ 3 câu lập thành 1 gói: Câu 1: Trong một số nhà máy, người ta thường xây dựng những ống khói cao vì: A. Ống khói cao có tác dụng tạo ra sự truyền nhiệt tốt. B. Ống khói cao có tác dụng tạo ra sự bức xạ nhiệt tốt. C. Ống khói cao có tác dụng tạo ra sự đối lưu tốt. D. Ống khói cao có tác dụng tạo ra sự dẫn nhiệt tốt. Câu 2: Trong các sự truyền nhiệt dưới đây, sự truyền nhiệt nào không phải là bức xạ nhiệt? 14 A. Sự truyền nhiệt từ mặt trời tới Trái Đất. B. Sự truyền nhiệt từ bếp lò tới người đứng gần bếp lò. C. Sự truyền nhiệt từ đầu bị nóng sang đầu lạnh của một thanh đồng. D. Sự truyền nhiệt từ dây tóc bóng đèn điện đang sáng ra khoảng không gian bên trong bóng đèn. Câu 3: Hậu quả của việc phá rừng: A. Gây ra lũ lụt, xói mòn đất đai. B.Tăng nhiệt độ trái đất, gây hiệu ứng nhà kính. C. Giảm lượng nước ngầm trên trái đất. D. Cả 3 đáp án trên. Câu 4: Các hoạt động khai thác và vận chuyển dầu có thể làm rò rỉ dầu lửa. Lớp dầu này ngăn cản việc hòa tan Oxi vào nước vì vậy nhiều sinh vật không lấy được Oxi sẽ bị chết. Nguyên nhân nào dẫn đến dầu nổi trên mặt nước? A. Do dầu không hòa tan trong nước. B. Do khối lượng riêng của dầu nhỏ hơn khối lượng riêng của nước. C. Do dầu không hòa tan trong nước và khối lượng riêng của dầu lớn hơn khối lượng riêng của nước. D. Do dầu không hòa tan trong nước và khối lượng riêng của dầu nhỏ hơn khối lượng riêng của nước. Câu 5: Sử dụng chất nổ để đánh cá sẽ gây ra một áp suất rất lớn. Dưới tác dụng của áp suất này, hầu hết các sinh vật bị chết. Việc đánh bắt cá bằng chất nổ gây ra tác dụng hủy diệt sinh vật, ô nhiễm môi trường sinh thái. Chúng ta không nên làm gì? A. Không sử dụng chất nổ để đánh bắt cá. B. Chỉ sử dụng chất nổ để đánh bắt cá dưới suối khi có người lớn đi cùng. C. Tuyên truyền người dân không sử dụng chất nổ để đánh bắt cá. D. Khi phát hiện có người sử dụng chất nổ để đánh bắt cá, kịp thời báo với người lớn và chính quyền địa phương. Câu 6: Tác dụng của rừng đối với đời sống con người? Chọn đáp án đúng nhất: A. Giảm sự thoát hơi nước để giữ độ ẩm cho đất. B. Rừng là lá phổi xanh, điều hoà khí hậu. C. Rễ cây rừng bám vào đất, giữ đất không bị xói mòn rửa trôi đất. 15 D. Cả 3 đáp án trên. Câu 7: Việc sử dụng chất nổ trong khai thác đá có thể dẫn đến hậu quả nào sau đây: A. Làm đổ vỡ các công trình xây dựng, giao thông lân cận. B. Ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và sức khỏe con người. C. Có thể xảy ra những tai nạn lao động đáng tiếc cho công nhân. D. Cả A, B, C đều đúng. Câu 9: Tác dụng của độ ẩm không khí đối với con người và sinh vật: A. Giúp điều hoà khí hậu. B. Chống xói mòn đât. C. Tạo điều kiện thuận lợi cho các sinh vật sinh sôi và phát triển. D. Cung cấp ô xi cho trái đất . Câu 10: Chỗ có nhiều giun đất cây cối phát triển tốt là vì: A. Cây hút được nước rễ hơn. B. Cây dễ bám vào lòng đất hơn. C. Cây lấy được nhiều ô xi từ lòng đất. D. Cả ba đáp án trên. Câu 11: Trong các biện pháp dưới đây, biện pháp nào giúp ta bảo vệ rừng: A. Tham gia các phong trào trồng cây xanh. B. Có ý thức bảo vệ rừng. C. Tuyên truyền cho mọi người biết về tác dụng của cây xanh nói chung và của rừng nói chung tới cuộc sống của con người. D. Cả ba đáp án trên. Câu 12: Hậu quả của “hiệu ứng nhà kính”: A. Băng tan ở hai cực làm nước biển dâng lên. B. Nguy cơ tuyệt chủng của một số loài động thực vật chỉ quen sống trong băng giá. C. Nhiệt độ mỗi năm tăng thêm 0,1-0,20C làm các nước châu Phi thiếu nước ngọt trầm trọng. D. Cả 3 đáp án trên. Phần 3: Tăng tốc Dẫn chương trình, chiếu lên màn hình 4 bức tranh được sắp xếp ngẫu nhiên. - Thể lệ: 4 đội có tối đa 3 phút để sắp xếp các bức tranh trên theo đúng ý tưởng và lí giải cách sắp xếp của đội lên bảng phụ. Sắp xếp đúng các hình được 16 10 điểm, giải thích đúng cách sắp xếp được 10 điểm. (Bộ tranh phần chơi này in kèm theo trang cuối cùng của sáng kiến.) Phần 4: Dành cho khán giả Có 2 câu hỏi. Người dẫn chương trình lần lượt đọc từng câu hỏi, gọi khán giả đưa tay trả lời. Mời đại diện ban tổ chức trao quà cho khán giả trả lời đúng. Gói câu hỏi: Câu 1: Tại sao rễ cây, thân cây lại hút được nước giúp cây sinh trưởng và phát triển. HS: Nước rất cần cho cây cối, cây cối sinh trưởng và phát triển được là do cấu tạo đặc biệt của rễ cây, thân cây. Chúng được cấu tạo bởi hệ thống các ống dẫn có đường kính rất nhỏ ở rễ cây và thân cây. Đó là hiện tượng mao dẫn, nhờ hiện tượng này mà cây được cung cấp chất lỏng: nước, muối khoáng và các chất hữu cơ khác để nó có thể sinh trưởng và phát triển được. Câu 2: Khi trồng những cây lâu năm tại sao người ta hay trồng xen những cây thấp trên mặt nước? HS: Người ta trồng xen những cây thấp trên mặt đất để phủ xanh mặt đất nhanh, hạn chế sự bay hơi nước, giữ độ ẩm cho đất, tránh không bị xói mòn và rửa trôi bởi nước mưa. Phần 5: Về đích (chơi trò chơi ô chữ) BGK chọn ra 2 đội có điểm số cao nhất để thi phần này tìm ra đội chiến thắng. Nhiệm vụ của mỗi đội là tìm ra từ chìa khoá của chương trình (từ hàng dọc). Để tìm được từ chìa khoá thì các đội phải lần lượt tìm ra 9 từ hàng ngang. Đại diện 2 đội chơi lần lượt chọn câu hỏi bất kì (chọn số thứ tự). Trả lời đúng từ hàng ngang được 10 điểm. Nếu trả lời không đúng, quyền trả lời sẽ thuộc về đội còn lại. Nếu cả 2 đội trả lời sai thì quyền trả lời thuộc về khán giả. Gói câu hỏi phần thi về đích: Câu 1. Nhiệt truyền từ mặt trời qua các cửa kính làm nóng không khí trong nhà và các vật trong phòng nhờ hình thức truyền nhiệt nào? (bức xạ nhiệt) 17 Câu 2. Trong quá trình lưu thông, các phương tiện giao thông đường bộ làm phát sinh các bụi cao su, bụi khí và bụi kim loại. Để bảo vệ sức khỏe khi tham gia giao thông cần mang dụng cụ này? (khẩu trang) Câu 3. Tên của 1 chương trong Vật lí 10. (cơ học) Câu 4. Vì động năng phụ thuộc vào yếu tố này nên khi tham gia giao thông, phương tiện tham gia có động năng lớn sẽ khiến cho việc xử lí sự cố gặp khó khăn, nếu xảy ra tai nạn sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng. (vận tốc) Câu 5. Nhờ hiện tượng này mà cá, tôm dưới sông, suối vẫn sống được mặc dù không khí nhẹ hơn nước. (khuếch tán) Câu 6. Do loại lực này lớn mà khi xe đi trên đường nhiều bùn đất dễ xảy ra tai nạn. (ma sát trượt) Câu 7. Do thiếu yếu tố này nên khi tắc đường, dù các phương tiện tham gia giao thông vẫn nổ máy tiêu tốn năng lượng vô ích đồng thời xả ra môi trường nhiều chất khí độc hại vẫn không thực hiện một công cơ học nào. (quãng đường) Câu 8. Vì có dạng năng lượng này lớn nên các vật rơi từ trên cao xuống có thể gây nguy hiểm đến tính mạng con người và các công trình xây dựng. (động năng) Câu 9. Người ta lắp đặt thiết bị này trong bếp lò của gia đình hay các xí nghiệp, nhà máy sản xuất gạch ngói để lưu thông không khí. (ống khói) 1 (10) 2 (9) K H A U T 3 (5) B U C R A N G C O H O C V A N 4 (6) 5 (9) X A N T O C A N G K H U E C H T 6 (10) M A S A T T R U O T 7 (10) Q U A N G D U O N G 8 (8) D O N G N A N 9 (7) O N G K H O I H I E T Từ khóa: BẢO VỆ RỪNG 7. Dự trù kinh phí: 100 000 mua quà cho khán giả và hai đội. IV. Kết quả khảo sát 18 Qua quá trình vừa nghiên cứu lí luận vừa đề xuất giải pháp vừa áp dụng vào thực tế giảng dạy bước đầu đã thu được nhiều kết quả khả quan. Để thấy được kết quả mà sáng kiến mang lại, từ đầu năm học tôi đã chủ động lồng ghép vào các bài kiểm tra 15 phút, kiểm tra một tiết và kiểm tra học kì các câu hỏi liên quan đến kiến thức về môi trường trong môn Vật lí khối 10. Kết quả thu được như sau: Đợt kiểm tra Lớp Tổng số học sinh Kết quả Trả lời đúng Có trả lời nhưng Không có câu trả chưa đầy đủ lời hoặc trả lời sai SL TL% SL TL% SL TL% 15 phút 10K 42 6 14,3 12 28,6 24 57,1 HKI 10M 40 8 20,0 12 30,0 20 50,0 82 12 14,6 24 29,3 44 53,7 10K 42 10 23,8 15 35,7 17 40,5 10M 40 10 25,0 15 37,5 15 37,5 82 20 24,4 30 36,6 32 39,0 10K 42 22 52,4 14 42,9 6 14,3 10M 40 16 40,0 14 35,0 10 25,0 82 38 46,3 28 34,1 16 19,5 Tổng 1 tiết HKI Tổng Học kì I Tổng 15 phút 10K 42 30 71,4 10 23,8 2 4,8 HKII 10M 40 25 62,5 10 25,0 5 12,5 82 55 67,1 20 24,4 7 8,5 10K 42 30 71,4 10 23,8 2 4,8 10M 40 30 75,0 7 17,5 3 7,5 82 60 73,2 17 19,2 5 6,1 Tổng 1 tiết HKII Tổng Qua kết quả kiểm tra có thể thấy tỉ lệ học sinh hiểu biết về môi trường (sự cần thiết phải bảo vệ môi trường và biết cách bảo vệ môi trường) ngày càng tăng. 19 + Từ tháng 10 (bài kiểm tra 15 phút học kì I) khi chưa áp dụng các giải pháp trong sáng kiến này có gần 54% số học sinh không quan tâm hoặc không hiểu biết về kiến thức môi trường liên quan trong môn Vật lí. Đến tháng 12 (thi kết thúc học kì I) khi bước đầu áp dụng các giải pháp trong sáng kiến này thì số học sinh này đã giảm xuống còn dưới 20%. + Kết quả khảo sát gần nhất vào tháng 3 (kiểm tra 1 tiết học kì II), khi việc triển khai áp dụng các giải pháp tôi nêu ra được thực hiện một cách đồng bộ, nhất quán cho thấy số học sinh có hiểu biết về kiến thức môi trường liên quan đến môn Vật lí đã tăng lên rõ rệt với trên 93% (73% số học sinh có câu trả lời đúng và gần 20% số học sinh có câu trả lời nhưng chưa đầy đủ). C. KẾT LUẬN Để nâng cao hiệu quả việc dạy học tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong giảng dạy môn Vật lí 10 cần xây dựng được nội dung, chương trình tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường và có các phương pháp dạy học tích hợp đạt hiệu quả cao, đảm bảo khai thác nội dung có chọn lọc, tập trung không làm mất tính đặc trưng của môn học, không biến bài học vật lí thành bài học giáo dục môi trường. Nội dung giáo dục môi trường cần gần gũi, thiết thực, gắn liền với hoạt động thực tiễn của địa phương, đất nước. Để các giải pháp đưa ra trong sáng kiến này phát huy tối đa hiệu quả khi áp dụng ở trường THPT Quảng Xương 4 nói riêng và các trường học trong toàn huyện nói chung, tôi kiến nghị một số vấn đề sau: * Về phía giáo viên: Đối với các kiến thức môi trường cần tích hợp nếu gần gũi thiết thực, gắn liền với hoạt động thực tiễn của địa phương thì nên hướng dẫn giúp các em tự đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường. Đối với các kiến thức môi trường chưa thể áp dụng (không có điều kiện áp dụng) tại địa phương thì giáo viên nên cung cấp thông tin và hình ảnh đầy đủ giúp các em mở rộng hiểu biết của mình. * Về phía nhà trường: Xây dựng kế hoạch tổ chức những buổi ngoại khóa, hội thi về giáo dục bảo vệ môi trường cho các em học sinh từ đầu năm học. Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác. 20
- Xem thêm -