Skkn thiết kế vở thực hành hóa học lớp 12 cơ bản

  • Số trang: 24 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 19 |
  • Lượt tải: 0
nguyen-thanhbinh

Đã đăng 8358 tài liệu

Mô tả:

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI Trường THPT Chuyên Lương Thế Vinh Mã số: ................................ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM THIẾT KẾ VỞ THỰC HÀNH HÓA HỌC LỚP 12 CƠ BẢN Người thực hiện: Nguyễn Thanh Hương Lĩnh vực nghiên cứu: - Quản lý giáo dục  - Phương pháp dạy học bộ môn: Hóa học  - Lĩnh vực khác: ..............................................  Có đính kèm:  Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh 20122013HỌC SƠ LƯỢCNăm LÝ học: LỊCH KHOA  Hiện vật khác I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN 1. Họ và tên: Nguyễn Thanh Hương 2. Ngày tháng năm sinh: 20/12/1989 3. Nam, nữ: Nữ 4. Địa chỉ: 843 đường Nguyễn Ái Quốc, phường Tân Hiệp, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. 5. Điện thoại: 0613 828107(CQ)/ 0613 897695(NR); ĐTDĐ:0938201289 6. Fax: E-mail: thanhhuongsphoa@gmail.com 7. Chức vụ: nhân viên phòng thí nghiệm Hóa học 8. Đơn vị công tác: trường THPT Chuyên Lương Thế Vinh II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO - Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân - Năm nhận bằng: 2011 - Chuyên ngành đào tạo: Sư phạm Hóa học III.KINH NGHIỆM KHOA HỌC - Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: giảng dạy Hóa học Số năm có kinh nghiệm: 02 - Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây: 01 Tên SKKN: THIẾT KẾ VỞ THỰC HÀNH HÓA HỌC LỚP 12 CƠ BẢN I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI “Trong nghiên cứu khoa học phải xuất phát từ sự thật vốn có, phát hiện ra những mối liên hệ, rồi chứng minh những mối liên hệ đó bằng thực nghiệm; chứ không thể tạo ra những mối liên hệ để ghép chúng vào sự thật” (Ăng – ghen). Đối với bộ môn Hóa học cũng vậy, thí nghiệm thực nghiệm giữ vai trò hết sức quan trọng trong quá trình nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn. Thí nghiệm là một yếu tố của nguồn nhận thức thế giới, là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa hiện tượng tự nhiên và nhận thức của con người. Thí nghiệm còn là tiêu chuẩn đánh giá tính chân thực của kiến thức, hỗ trợ đắc lực cho tư duy sáng tạo. Trong việc dạy học hóa học ở trường phổ thông, thí nghiệm giúp học sinh làm quen với những tính chất, mối quan hệ có tính quy luật giữa các đối tượng nghiên cứu, là cơ sở để nắm vững các quy luật, các khái niệm hóa học. Như vậy, việc dạy học hóa học không thể tách rời thí nghiệm. Tuy nhiên, thực tế hiện nay chỉ chủ yếu dừng ở thí nghiệm minh họa cho bài mới của giáo viên, còn tiết thực hành dành cho học sinh còn khá ít, và hiệu quả chưa cao. Thời lượng 1 tiết thực hành khá eo hẹp, trong khi học sinh mất không ít thời gian để nắm vững những quy tắc, cách tiến hành thí nghiệm, và viết bài báo cáo. Việc trực quan hóa những thí nghiệm với hình ảnh cụ thể, kèm những lưu ý cần thiết để thực hiện thí nghiệm an toàn, thành công sẽ giúp ích rất nhiều cho các em. Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã quyết định chọn đề tài “THIẾT KẾ VỞ THỰC HÀNH HÓA HỌC LỚP 12 CƠ BẢN ”, với hy vọng sẽ giới thiệu một công cụ hữu ích, giúp các em học sinh thực hiện thí nghiệm một cách an toàn, dễ dàng và nhanh chóng. II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận Chương 1 TỔNG QUAN VỀ THÍ NGHIỆM HÓA HỌC 1. VAI TRÒ QUAN TRỌNG CỦA THÍ NGHIỆM TRONG DẠY HỌC HOÁ HỌC Thí nghiệm có vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu khoa học và quan trọng đặc biệt trong dạy học hoá học. 1. Thí nghiệm có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển nhận thức của con người về thế giới. Thí nghiệm là một phần của hiện thực khách quan được thực hiện hoặc tái tạo lại trong những điều kiện đặc biệt, trong đó con người có thể chủ động điều khiển các yếu tố tác động vào quá trình xảy ra để phục vụ cho các mục đích nhất định. Thí nghiệm giúp con người gạt bỏ những cái phụ, không bản chất để tìm ra cái bản chất của sự vật hiện tượng. Thí nghiệm giúp con người phát hiện ra những quy luật còn ẩn náu trong tự nhiên. Mặt khác nó còn giúp con người kiểm chứng, làm sáng tỏ những giả thuyết khoa học. Đúng như Ăng ghen đã nói: “Trong nghiên cứu khoa học tự nhiên cũng như lịch sử, phải xuất phát từ những sự thật đã có, từ những hình thái hiện thực khác nhau của vật chất; cho nên trong khoa học lý luận về tự nhiên, chúng ta không thể cấu tạo ra mối liên hệ để ghép chúng vào sự thật, mà phải từ những sự thật đó, phát hiện ra mối liên hệ ấy, rồi phải hết sức chứng minh những mối liên hệ ấy bằng thực nghiệm”. 2. Thí nghiệm là nền tảng của việc dạy học hoá học. Nó giúp học sinh chuyển từ tư duy cụ thể sang tư duy trừu tượng và ngược lại. Khi làm thí nghiệm học sinh sẽ làm quen với các chất hoá học và trực tiếp nắm bắt các tính chất lý, hoá của chúng. Từ đó các em hiểu được các quá trình hoá học, nắm vững các khái niệm, định luật, học thuyết của hoá học. Nếu không có thí nghiệm thì: - Giáo viên sẽ tốn nhiều thời gian để giảng giải nhưng vẫn không rõ và hết ý vì không phải mọi thứ đều có thể diễn đạt được trọn vẹn bằng lời. Lời nói rất trừu tượng còn các thí nghiệm thì cụ thể. - Học sinh tiếp thu kiến thức thiếu chính xác và vững chắc. Các em sẽ khó hiểu bài vì không có những biểu tượng rõ ràng, cụ thể về các chất, các hiện tượng hóa học. Ví dụ: phản ứng tạo kết tủa đồng hyđroxit dạng keo, màu xanh. Nếu không có thí nghiệm thì học sinh không thể hình dung được dạng keo như thế nào. Màu xanh thì có rất nhiều màu xanh khác nhau. - Học sinh sẽ chóng quên khi không hiểu bài, không có ấn tượng sâu sắc bằng các hình ảnh cụ thể.. 3. Thí nghiệm là cầu nối giữa lý thuyết và thực tế. Nhiều thí nghiệm rất gần gũi với đời sống, với các quy trình công nghệ. Chính vì vậy thí nghiệm giúp học sinh vận dụng các điều đã học vào thực tế cuộc sống. 4. Thí nghiệm giúp học sinh rèn luyện các kỹ năng thực hành (các thao tác và cách thức tiến hành thí nghiệm), hình thành những đức tính cần thiết của người lao động mới: cẩn thận, khoa học, kỷ luật. 5. Thí nghiệm giúp học sinh phát triển tư duy, hình thành thế giới quan duy vật biện chứng. Khi tự tay làm thí nghiệm hoặc được tận mắt nhìn thấy những hiện tượng hoá học xảy ra, học sinh sẽ tin tưởng vào kiến thức đã học và cũng thêm tin tưởng vào chính bản thân mình. 6. Khi làm thí nghiệm rất dễ gây hứng thú học tập. Học sinh không thể yêu thích bộ môn và không thể say mê khoa học với những bài giảng lý thuyết khô khan. II. PHÂN LOẠI THÍ NGHIỆM. 1. Thí nghiệm trong hệ thống các phương tiện dạy học Các phương tiện dạy học cơ bản phổ biến rộng rãi trong nhà trường gồm 3 loại: 1) Phương tiện kỹ thuật dạy học (các phương tiện nghe nhìn và máy dạy học ). 2) Phương tiện trực quan (đồ dùng dạy học trực quan). 3) Thí nghiệm nhà trường. Đối với hoá học thì thí nghiệm nhà trường là phương tiện dạy học quan trọng nhất. 2. Phân loại thí nghiệm Trong trường phổ thông thí nghiệm được sử dụng dưới các hình thức sau: 1) Thí nghiệm do giáo viên tự tay biểu diễn trước học sinh gọi là thí nghiệm biểu diễn của giáo viên . 2) Thí nghiệm do học sinh tự làm gọi là thí nghiệm của học sinh. 3) Thí nghiệm ngoại khóa là những thí nghiệm vui dùng trong các buổi hội vui về hoá học và những thí nghiệm ở ngoài trường như thí nghiệm thực hành ở nhà của học sinh. III. SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TRONG DẠY HỌC HOÁ HỌC. 1. Những yêu cầu sư phạm về kỹ thuật biểu diễn thí nghiệm. a) Phải đảm bảo an toàn. - Các chất độc, dễ nổ không dùng lượng lớn -Thận trọng nghiêm túc theo đúng các quy định về bảo hiểm b) Phải đảm bảo thành công. - Nắm vững kỹ thuật thí nghiệm - Thao tác nhanh chóng, khéo léo c) Thí nghiệm phải rõ ràng. - Dụng cụ dễ nhìn - Dùng phông màu sắc thích hợp d) Các thí nghiệm phải đơn giản, dụng cụ phải gọn gàng mỹ thuật, đảm bảo tính khoa học. e) Tốn ít thời gian. 2. Những phương pháp cơ bản sử dụng thí nghiệm trong dạy học Trong dạy học có thể sử dụng thí nghiệm theo 1 trong 2 phương pháp sau: - Phương pháp nghiên cứu: dùng thí nghiệm để xác nhận giả thuyết, tự rút ra kiến thức. - Phương pháp minh hoạ: dùng thí nghiệm để minh hoạ cho kiến thức đã biết. Sử dụng thí nghiệm theo phương pháp nghiên cứu hay phương pháp minh họa là tùy thuộc vào tính phức tạp của vấn đề nghiên cứu. Nếu như việc giải quyết vấn đề không đòi hỏi sự căng thẳng đáng kể hoạt động trí lực của học sinh thì nên theo phương pháp minh họa. Ngược lại, nếu như sự tri giác, tiếp thu kiến thức về đối tượng nghiên cứu đòi hỏi sự phân tích phức tạp hơn, phải động viên trí nhớ và tư duy thì nên dùng phương pháp nghiên cứu. IV. CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG THÍ NGHIỆM 1. Các thí nghiệm phải gắn với chương trình hoá PTTH. Các thí nghiệm phải gắn với nội dung của từng chương, từng bài giảng của chương trình hoá học PTTH. Cần chú ý đến tính cân đối trong toàn bộ chương trình, cố gắng để thí nghiệm đi vào càng nhiều bài giảng càng tốt. 2. Thí nghiệm phải gắn với nội dung bài giảng, tốt nhất là chọn được các thí nghiệm giúp học sinh tiếp thu các kiến thức lõi, trọng tâm. Các thí nghiệm hoá học ở trường phổ thông dù là ở dạng nào cũng đều nhằm giúp học sinh tiếp thu tốt nội dung bài học và nắm vững hệ thống các kiến thức hoá học cần thiết của chương trình PTTH. Vì vậy các thí nghiệm phải gắn với nội dung của các bài giảng cụ thể ở phổ thông . Mặt khác để việc tiếp thu kiến thức của học sinh có hiệu quả, không thể thí nghiệm một cách tràn lan mà phải có trọng tâm, trọng điểm. Khi lựa chọn các thí nghiệm, tốt nhất nên chọn các thí nghiệm giúp học sinh tiếp thu các kiến thức lõi, trọng tâm. Số lượng thí nghiệm trong một bài cũng không nên quá nhiều, có thể từ 3 đến 5 thí nghiệm là hợp lý. 3. Thí nghiệm phải trực quan, hiện tượng rõ ràng, có tính thuyết phục. Sử dụng thí nghiệm trong dạy học chính là một hình thức dạy học theo phương pháp trực quan. Vì vậy thí nghiệm phải dễ quan sát, hiện tượng rõ ràng, có tính thuyết phục. Chúng ta phải lựa chọn các phản ứng, các quá trình hoá học có kèm theo hiện tượng quan sát được dễ dàng bằng mắt thường. Đó là các phản ứng: - có sự biến đổi màu sắc - có tạo chất kết tủa, chất khí bay lên khỏi dung dịch - có sự tỏa nhiệt hay thu nhiệt - có hiện tượng cháy, nổ, phát quang… 4. Thí nghiệm dễ kiếm hoá chất, đơn giản, dễ làm. 5. Việc thực hiện thí nghiệm không được mất quá nhiều thời gian, 6. Thí nghiệm phải an toàn, càng ít độc hại càng tốt. Nên thay các thí nghiệm độc bằng các thí nghiệm không độc hoặc ít độc hơn. Thí nghiệm phải an toàn là một trong các nguyên tắc bắt buộc phải tuân theo khi lựa chọn và tiến hành thí nghiệm. Mặt khác một trong những nguyên nhân làm cho học sinh “sợ” đến phòng thí nghiệm và cũng làm cho giáo viên “ngại” các giờ thực hành là do có các thí nghiệm gây độc. Vì vậy để giữ gìn sức khoẻ cho giáo viên, học sinh bên cạnh các biện pháp phòng chống độc hại sẽ nói đến ở phần sau, cách hay nhất vẫn là lựa chọn các thí nghiệm càng ít độc hại càng tốt. Nếu có điều kiện nên thay các thí nghiệm độc bằng các thí nghiệm không độc. hoặc ít độc hơn. Vấn đề này cũng sẽ trở nên có ý nghĩa trong việc xoá bỏ dạy chay môn Hoá ở trường phổ thông. Giáo viên phổ thông cũng rất ngại và thường “lẩn trốn” các thí nghiệm gây độc. 7. Số lượng thí nghiệm trong một buổi thực hành cần hợp lý, không nên nhiều quá. Trong thực hành chỉ nên lựa chọn những thí nghiệm tiêu biểu, điển hình. Nếu tham lam đưa vào quá nhiều thí nghiệm. Chương 2 RÈN LUYỆN KỸ NĂNG THỰC HÀNH TRONG CÁC BUỔI THỰC HÀNH I. MỤC ĐÍCH CÁC GIỜ THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH 1. Rèn luyện cho họ c sinh có kỹ năng tiến hành thí nghiệm một cách thành thạo, nhanh chóng, hiệu quả. 2. Biết kết hợp thí nghiệm với nội dung bài giảng. II. CÁC BƯỚC TRONG MỘT BUỔI THỰC HÀNH 1. Giáo viên kiểm tra phần chuẩn bị của học sinh: kiểm tra vở và kiểm tra miệng. 2. Giáo viên giới thiệu nội dung, mục đích, yêu cầu các công việc phải làm, đặt câu hỏi, giải đáp thắc mắc, hướng dẫn các thí nghiệm khó khi cần thiết. 3. Học sinh tự tiến hành thí nghiệm theo nhóm nhỏ. 4. Học sinh viết báo cáo kết quả thí nghiệm và những thu hoạch trong vở tường trình, làm vệ sinh và dọn dẹp phòng thí nghiệm . Chương 3 KỸ THUẬT PHÒNG THÍ NGHIỆM I. KỸ THUẬT SỬ DỤNG DỤNG CỤ, HOÁ CHẤT TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM. 1. Sử dụng dụng cụ thủy tinh - Cần nhẹ tay, tránh va chạm mạnh. - Không đựng dung dịch axit, kiềm đặc trong các bình thủy tinh - Không đun nóng, rót nước nóng vào các dụng cụ thủy tinh có mỏng. thành dày. - Khi đun nóng bình cầu, ống nghiệm… phải đun từ từ và đều, hơ nóng toàn bộ ống nghiệm rồi mới đun tập trung vào đáy. Hướng miệng ống nghiệm về phiá không có người. 2. Sử dụng đèn cồn - Không để cồn trong đèn khô kiệt, nếu đang đun phải tắt đèn rồi mới đổ thêm. - Không đổ cồn quá đầy, châm lửa từ đèn nọ sang đèn kia (dễ làm đổ cồn ra ngoài và bốc cháy). - Không dùng miệng thổi tắt đèn, nên lấy nắp đèn chụp lên ngọn lửa. 3. Lấy hoá chất - Tuyệt đối không để da tay tiếp xúc trực tiếp với hoá chất. - Mỗi hoá chất phải lấy bằng một dụng cụ riêng để đảm bảo sự tinh khiết. - Lấy xong cần đậy nút ngay, để về đúng vị trí quy định. 4. Sử dụng chất dễ cháy (cồn, dầu hoả, xăng, benzen, axeton…) - Không để gần lửa - Nên chứa trong những bình nhỏ cho sinh viên, học sinh dùng để tránh nguy hiểm. 5. Sử dụng chất dễ nổ (muối clorat, nitrat và các hỗn hợp của chúng với photpho, lưu huỳnh…) - Để riêng một chỗ, tránh sơ ý va chạm, dẫm lên các chất dễ nổ. - Không dùng với liều lượng lớn. - Nghiền từng chất trong những cối riêng, nếu cần trộn lẫn dùng lông gà để trộn một cách nhẹ nhàng. 6. Sử dụng axit, kiềm - Không để dây ra tay, người, quần áo hay để bắn vào mắt ( tốt nhất nên đeo kính). - Đựng trong các bình nhỏ, thành dầy. - Pha loãng axit sunfuric đặc phải cho từng lựng nhỏ axit vào nước, quấy đều (không được đổ nước vào axit). II. NỘI QUY PHÒNG THÍ NGHIỆM. 1. Phải nghiên cứu kỹ các thí nghiệm sẽ tiến hành trước khi đến phòng thí nghiệm - Đọc tài liệu hướng dẫn và sách giáo khoa phổ thông để nắm vững mục đích, yêu cầu, cách tiến hành thí nghiệm. - Các thí nghiệm có chất độc phải dự kiến trước cách phòng chống. 2. Khi tiến hành thí nghiệm - Phải hết sức cẩn thận để thí nghiệm thành công, tránh tai nạn, gây độc cho bản thân và những người xung quanh. - Tuân thủ theo chỉ dẫn của tài liệu và của cán bộ phụ trách phòng thí nghiệm. - Không tự ý làm các thí nghiệm ngoài nội dung bài học. - Không đi lại lộn xộn, nói chuyện ồn ào. - Khi có tai nạn xảy ra phải báo với giáo viên hướng dẫn ngay lập tức. 3. Phải giữ gìn hoá chất, dụng cụ không được để hư hỏng - Mỗi học sinh đều phải có ý thức giữ gìn dụng cụ, tiết kiệm hoá chất mà mình sử dụng. - Lấy hoá chất đúng lượng đã ghi trong tài liệu (không nhiều quá hay ít quá), mỗi hoá chất dùng một ống hút (hoặc muỗng) riêng. - Sau khi lấy xong để lọ đúng vào vị trí cũ. - Không để hoá chất dây, bắn vào người khác. - Hoá chất rơi đổ ra ngoài phải dọn ngay. - Đổ các chất thải vào đúng nơi quy định. 4. Đối với các thí nghiệm có chất độc phải hết sức chú ý - Lấy thật đúng lượng hoá chất theo hướng dẫn. - Điều chế vừa đủ dùng thì ngưng ngay thí nghiệm . - Thiết bị thí nghiệm phải an toàn, nút và các ống dẫn khí phải kín, không để rò rỉ khí độc ra ngoài. - Khi cần thiết phải thực hiện trong tủ hốt. - Hủy chất độc ngay sau khi xong thí nghiệm. 5. Cuối mỗi buổi thí nghiệm - Làm và nộp tường trình. - Rửa sạch các dụng cụ. - Xếp lại hoá chất cho gọn gàng, đúng nơi quy định. - Dọn vệ sinh sạch sẽ. - Rửa tay bằng xà bông. - Kiểm tra lại điện, nước trước khi rời phòng thí nghiệm . III. CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG ĐỘC HẠI KHI TIẾN HÀNH THÍ NGHIỆM. Muốn phòng chống độc hại tốt cần thực hiện những biện pháp sau đây: 1. Cần nhận thức được một cách đúng đắn, đầy đủ tác hại của các chất độc. - Nắm rõ mức độ độc hại, nguy hiểm nhiều ít khác nhau của các hoá chất thường sử dụng. Có những chất độc nhưng nhiều học sinh không biết (như NH3), có chất rất độc nhưng nghĩ là ít độc (như H2S ) vì vậy dễ dẫn đến coi thường, không cẩn thận khi làm thí nghiệm. - Hiểu được sự nhiễm độc tức thời và ảnh hưởng lâu dài của một số hoá chất. - Biết được khả năng chịu đựng của cơ thể, một số chất độc được đào thải ra cơ thể rất chậm như benzen… 2. Học sinh cần ý thức được trách nhiệm giữ gìn sức khoẻ cho mình, cho bạn, bảo vệ môi trường trong lành cho cộng đồng và xã hội. - Nâng cao ý thức tập thể của mỗi cá nhân. - Cần giữ gìn bầu không khí trong lành cho cộng đồng. 3. Học sinh cần nắm được và biết cách phòng chống độc hại. - Giảm thiểu lượng chất độc sinh ra bằng cách dùng ít hoá chất, làm các thí nghiệm lượng nhỏ. - Hủy các chất độc: với các chất oxi hoá dùng các chất khử, với các axit dùng bazơ và ngược lại… 4. Thực hiện nội quy phòng thí nghiệm và kỷ luật nghiêm túc. - Tổ chức học tập nội quy ngay buổi thực hành đầu tiên. - Cán bộ hướng dẫn kiểm tra giám sát chặt chẽ, nhắc nhở, chấn chỉnh kịp thời những biểu hiện lệch lạc. - Có khen thưởng và kỷ luật nghiêm minh. IV. MỘT SỐ CHẤT ĐỘC CẦN CHÚ Ý KHI LÀM THÍ NGHIỆM 1. Clo Mức độ gây độc tùy thuộc vào nồng độ trong không khí: Nồng độ khí clo trong khôngmg/lit khí 0,003 – 0,006 0,01 P.P.M Tác dụng gây độc 1–2 Vẫn làm việc được bình thường 3,5 Ngửi thấy mùi khí clo 0,01 – 0,02 3,5 – 6 0,04 – 0,08 14 – 21 Trong 0,5 – 1 giờ sẽ nhiễm độc rát 40 – 60 nghiêm trọng nguy hiểm đến tính mạng. Rất nguy hiểm, dẫn tới viêm và mọng 0,12 – 0,17 0,29 100 Mắt, mũi, họng đau nhói và bỏng nước Không thể chịu nổi quá 1 phút. Khi hít phải clo, nó sẽ nhanh chóng kết hợp với nước của niêm mạc tạo thành HCl gây bỏng, sưng tấy, tụ máu và nặng thì phổi bị mọng nước và tế bào phổi bị hủy hoại. Nhiễm độc nặng cuống họng bị co rút, mọng nước ở phổi. Sau khi lành vẫn có thể bị viêm phổi tái phát, có thể mắc chứng thần kinh, buồn rầu ủ rũ dai dẳng hàng năm. Người có bệnh trĩ mũi, viêm họng, amiđan, hen xuyễn, ngạt mũi, đau mắt không nên tiếp xúc với clo. 2. Hiđroclorua Ngửi nhiều có thể ăn mòn các cơ quan hô hấp và gây hại niêm mạc mắt. 3. Brom Tác dụng gây độc tương tự clo. Nếu dính vào da sẽ phồng dộp, mọng nước gây lở loét. Khi hít thở nhiều hơi brom sẽ có hiện tượng chảy máu cam, váng đầu, hoa mắt… mấy giờ sau sẽ đau bụng, ỉa chảy, khắp người mẩn đỏ. 4. Hiđrosunfua Ở nồng độ cao làm thần kinh khứu giác bị tê liệt hoàn toàn khiến mũi không còn thấy mùi thối. Chính vì thế mà nó hết sức nguy hiểm. Làm việc trong môi trường có nồng độ hiđrosunfua lớn hơn 2% phải dùng mặt nạ có vòi cao su dài hoặc bình thở oxi. Nồng độ trong không khí 0,12 – 0,18 0,24 – 0,36 0,50 – 0,6 0 0,7 0 – 0,84 1,20 – 2, 80 Tác hại đến cơ thể Trong 6 giờ không biểu hiện triệu chứng Trong 0,5 giờ đã có triệu chứng nhiễm Trong 0,5 – 1 giờ có thể nguy hiểm đến Trong 0,5 – 1 giờ có thể chết hoặc ngoắc Chết ngay. 5. Anhiđrit sunfurơ Nồng độ trong không khí 0,008 – 0,013 0,02 – 0,03 0,05 0,13 – 0,26 1 – 1,2 Tác hại đến cơ thể Có thể ngửi thấy mùi. Có kích thích đối với cổ họng. Kích thích đối với cổ họng, gây ho. Chịu được từ 0,5 đến 1 giờ. Trong thời gian ngắn sẽ bị nhiễm Hít phải thì niêm mạc khí quản bị kích thích sinh ho, có khi thanh đới bị co rút không nói được. Người bị nhiễm độc thoạt đầu thấy trào nước mắt, chảy nước mũi, nhức đầu, chân tay bải hoải. Nếu bị nhiễm độc mãn tính sẽ viêm da, viêm khí quản, viêm phổi biến chứng thành mọng nước phổi, mắt đỏ sưng húp. 6. Amoniac Kích thích rất mạnh tới đường hô hấp và niêm mạc, gây bỏng rát, nước mắt dàn dụa, nhức đầu, nôn mửa. Nếu hít phải liền mấy ngày phổi có thể bị tụ máu và phù, ảnh hưởng xấu đến tim. Nồng độ trong không khí 0,037 0,100 0,250 0,3 – 0,5 0,200 1,70 – 3,15 Tác hại đến cơ thể Đã ngửi thấy mùi khai Kích thích nhẹ Bứt rứt, khó chịu, có thể chịu được 1 giờ Kích thích mạnh với mắt Kích thích rất mạnh Sau 5 – 6 phút có thể chết 7. Các oxit của nitơ Nồng độ thấp, không biểu hiện triệu chứng nhiễm độc ngay mà phải sau một thời gian: nhức đầu, mất ngủ, tiêu hóa kém, sút cân, loét niêm mạc, thiếu máu. Nồng độ cao sẽ kích thích khí quản, sau đó váng đầu, nổ đom đóm mắt, toàn thân suy nhược, chỉ sau mấy giờ phổi mọng nước. Độc tính lớn nhất là NO2 rồi đến NO và N2O4. Các oxit NOx có 2 tác dụng: - Khi đóng vai một axit nó tác dụng lên niêm mạc đường hô hấp. - Khi đóng vai một hợp chất nitơ nó có thể xâm nhập vào máu, phá hoại máu nghiêm trọng. Nồng độ trong Tác hại đến cơ thể không khí (mg/lit) 0,12 0,20 0,22 – 0,30 0,45 – 0,50 Kích thích mạnh Kích thích rất mạnh Bị nhiễm độc sau một thời gian rất Có thể chết sau một thời gian ngắn 8. Metan Metan là khí rất dễ bắt lửa gây cháy nổ. Ở 00C, 760 mmHg nếu metan chiếm 5 – 15% thể tích sẽ nổ mạnh khi gặp tia lửa. Nồng độ từ 25 - 30% gây nhiễm độc nặng: nhức đầu, ngạt mũi, khó thở, mạch tăng, thở gấp, đầu óc mụ mẫm, không điều khiển được hành vi theo ý muốn 9. Axetilen Ở nồng độ thấp nguyên nhân chính gây độc do các khí PH3 , CO … có lẫn khi điều chế C2H2 từ đất đèn. Ở nồng độ 10% bắt đầu nhiễm độc nhẹ, 15% đi đứng loạng choạng, 20% chỉ cần 6 phút đã cười nói huyên thuyên, 33% thì chỉ sau 7 phút đã mất hết khả năng suy nghĩ. 10. Benzen Mức độ tác hại tuỳ thuộc nồng độ, thời gian tiếp xúc. Sự bài tiết benzen của cơ thể rất chậm chạp, nó tồn tại ở trong cơ thể rất lâu, khoảng 50 – 60% bị máu hấp thụ, lượng còn lại ẩn náu trong tủy xương, óc, gan… gây tác hại lâu dài. Khi nồng độ 0,15 – 0,20% gây tê liệt trung khu thần kinh, làm giảm số lượng hồng, bạch cầu, mệt mỏi nhức đầu, chán ăn, thiếu máu, có thể chảy máu cam, xuất huyết dưới da. 11. Các axit HNO3 loãng có tính ăn mòn rất mạnh, bắn vào da làm da có màu vàng nghệ. HNO3 đặc làm da bỏng nặng, xém vàng. Hít phải hơi bất kỳ axit nào cũng sẽ gây tác hại đến đường hô hấp và niêm mạc mắt. Các axit đặc bắn vào da sẽ gây bỏng, làm da tấy đỏ, phồng dộp, cháy. 12. Các bazơ Ở nồng độ thấp các dung dịch kiềm làm da mất lớp chất nhờn, trở nên khô ráp, nếu lâu sẽ sần sùi, chai cứng. Ở nồng độ cao các dung dịch kiềm sẽ làm bỏng da. V. CỨU CHỮA KHI BỊ TAI NẠN HOẶC NHIỄM ĐỘC. 1. Khi bị axit, bazơ bắn vào người: cởi bỏ quần áo dính hoá chất, giội nước rửa ngay nhiều lần, có thể cho vòi nước chảy thẳng vào, tránh cọ xát mạnh làm trầy xước. Sau đó rửa bằng dung dịch natri cacbonat axit 10% (nếu bị axit), dung dịch axit axetic 4% (nếu bị bazơ). Nếu bị bắn vào mắt, nhanh chóng dùng bình tia phun nước vào mắt rồi rửa bằng dung dịch natri cacbonat axit 5% (nếu bị axit), dung dịch axit boric 2% (nếu bị bazơ). 2. Khi bị nhiễm độc - Nhanh chóng đưa người bị nhiễm độc ra nơi không khí trong - Nếu bị ngất, cho uống càfê, trà nóng hoặc hít hơi của rượu, lành. amoniac, chất có mùi kích thích. - Gây nôn mửa (trừ trường hợp axit hoặc bazơ). - Sử dụng thuốc giải độc gồm 2 phần bột than, 1 phần bột oxit magiê và 1 phần axit tanic trong một cốc nước ấm. - Gọi bác sĩ và đưa đi cấp cứu ngay với những trường hợp bị nhiễm độc nặng. Nhiễm độc Axit Cách chữa trị. Không gây nôn mửa, cho uống MgO (10g MgO Bazơ trong 150 ml nước) Không gây nôn mửa, cho uống dung dịch Rượu, axit axetic 4%, nước trái cây. Gây nôn mửa, cho uống sữa hoặc lòng trắng amin, kim loại Hít Pb, phải nặng (Hg, khí độc trứng. Đưa ra nơi thoáng khí, làm hô hấp nhân tạo, cho thở oxi. Nếu là khí ăn mòn ( NH3, Cl2, Br2, NO2, HCl) cho ngửi hơi của dung dịch axit axetic. Nếu là NH3 cho hít hơi nước nóng, uống nước chanh. 2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài Từ các cơ sở lý luận và thực tiễn giảng dạy các tiết thực hành thí nghiệm, tôi đã thiết kế Vở thực hành Hóa học lớp 12 cơ bản, gồm 5 bài thực hành, với cấu trúc như sau. Thứ ……………… , ngày ………… tháng ………… năm …………… TÊN BÀI THỰC HÀNH I- MUÏC TIEÂU - Kieán thöùc - Kyõ naêng thöïc haønh II - HÓA CHẤT - DỤNG CỤ (dùng cho một nhóm thực hành) 1- Duïng cuï: 2- Hoùa chaát: III – THỰC HÀNH STT Tên TN CAÙCH THÖÏC HIEÄN Nêu rõ cách tiến hành kèm hình vẽ minh họa. Những lưu ý để thí nghiệm an toàn, thành công. HIEÄN TÖÔÏNG VAØ PHÖÔNG TRÌNH PHAÛN ÖÙNG KEÁT LUAÄN Dưới dạng điền khuyết hoặc trắc nghiệm lựa chọn
- Xem thêm -