Skkn sử dụng phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật trong dạy học môn gdcd 12

  • Số trang: 19 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 37 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1. Mục lục ................................................................................................................ 1 2. Lí do chọn đề tài ................................................................................................. 2 2. Mục đích của đề tài ............................................................................................ 2 3. Đối tượng nghiên cứu .......................................................................................... 2 4. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................. 2 5. Nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................................... 2 6. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 3 7. Thời gian nghiên cứu............................................................................................3 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Một số vấn đề lí luận về phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật: .......................................................................................................................... 3 1.1. Khái niệm phương pháp liên hệ thực tiễn: ....................................................... 3 1.2. Khái niệm phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật: .. 3 2. Mục đích của phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật: . 4 3.Cách tiến hành phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật: 4 CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ 1. Thuận lợi: ........................................................................................................... 5 2. Khó khăn: ............................................................................................................ 5 CHƢƠNG 3: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Những kinh nghiệm vận dụng có hiệu quả phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12: ............. 6 1.1. Chuẩn bị: .......................................................................................................... 6 1.2. Một số ví dụ về bài dạy tiết dạy vận dụng phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật:.......................................................................................7 1.3.Hiệu quả đạt được:...........................................................................................17 KẾT LUẬN............................................................................................................18 TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................19 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1/ Lý do chọn đề tài: Đổi mới phương pháp dạy học ở Trường phổ thông là nhiệm vụ giáo dục của toàn ngành trong giai đoạn hiện nay. Đổi mới phương pháp dạy học nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và năng lực tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức của học sinh. Tạo cho học sinh có niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập. Đối với môn Giáo dục công dân, đây là môn học trang bị cho học sinh những kiến thức phổ thông cơ bản, phù hợp với lứa tuổi học sinh về thế giới quan khoa học và nhân sinh quan tiến bộ, về các giá trị đạo đức, pháp luật, lối sống. Mặt khác, đây là môn học hình thành và phát triển ở các em những tình cảm, niềm tin, hành vi và thói quen đạo đức, pháp luật, giúp các em có được sự thống nhất cao giữa ý thức và hành vi. Đặc biệt trong chương trình môn Giáo dục công dân lớp 12 đã đề cập đến hai chủ đề lớn của “Công dân với pháp luật” đó là bản chất và vai trò của pháp luật đối với sự phát triển của công dân, đất nước, và nhân loại. Đề cập đến quyền và nghĩa vụ của công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Như vậy, để giúp học sinh đạt được những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ theo mục tiêu của chương trình là điều rất cần thiết. Vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải kết hợp được các phương pháp dạy học và sử dụng phương tiện phù hợp với nội dung từng bài học. Các phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân rất đa dạng và phong phú, bao gồm các phương pháp truyền thống và hiện đại. Tuy nhiên dạy học môn Giáo dục công dân nói chung và lớp 12 nói riêng không thể tách rời việc liên hệ với thực tiễn cuộc sống. Liên hệ thực tiễn sẽ giúp cho các em có được cái nhìn thiết thực hơn về các vấn đề đã học và vận dụng có hiệu quả vào cuộc sống bản thân. Xuất phát từ những lí do trên tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Sử dụng phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12” nhằm tìm hiểu thực trạng vận dụng phương pháp này trong dạy học và đưa ra một số kinh nghiệm vận dụng có hiệu quả phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật trong dạy học của bộ môn. 2/ Mục đích của đề tài: Với đề tài này tôi sẽ nghiên cứu thực trạng vận dụng phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật trong dạy học môn Giáo dục công dân 12 và đề xuất một số kinh nghiệm nhằm vận dụng phương pháp này đạt hiệu quả hơn. 3/ Đối tƣợng nghiên cứu: Phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12. 4/ Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 12 Trường THPT số 3 Bảo Yên – Lào Cai 5/ Nhiệm vụ nghiên cứu: 2 Đánh giá hiệu quả vận dụng phương pháp liên hệ thực tiễn trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12. Đề xuất một số kinh nghiệm vận dụng có phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật trong dạy học bộ môn Giáo dục công dân lớp 12. 6/ Phƣơng pháp nghiên cứu: 6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: Đây là nhóm phương pháp nhằm mục đích thu thập thông tin liên quan đến đề tài bằng cách đọc tài liệu, phân tích và tổng hợp các thông tin. 6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp nghiên cứu thực tiễn dựa vào những vấn đề trong đời sống thực tiễn của học sinh, giáo viên đưa ra các câu chuyện, tình huống liên quan đến thực tế cho học sinh giải quyết và thu kết quả. 6.3. Phương pháp trắc nghiệm: Phương pháp này người nghiên cứu sử dụng phiếu trắc nghiệm phát cho học sinh và thu về phân tích kết quả. 6.4. Phương pháp phỏng vấn: Giáo viên đặt câu hỏi trực tiếp cho học sinh về những vấn đề liên quan đến đề tài và ghi lại ý kiến. 6.5. Phương pháp thống kê phân loại: Đây là phương pháp người nghiên cứu thu thập số liệu và thống kê phân tích để phân loại được kết quả của các đối tượng học sinh tiếp thu bài học khi vận dụng phương pháp nêu trên. 7/ Thời gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện trong năm học 2013-2014, cụ thể từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 4 năm 2014. CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Một số vấn đề lí luận về phƣơng pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật: 1.1. Khái niệm phương pháp liên hệ thực tiễn: Liên hệ thực tiễn là phương pháp tạo ra những điều kiện thuận tiện cho các học sinh được nghĩ đến những vấn đề đang diễn ra trong thực tế có liên quan đến bài học. Trên cơ sở đó, học sinh được bộc lộ thái độ, ý kiến, cách làm riêng của mình, hoặc so sánh, đối chiếu với nội dung bài học để hiểu sâu sắc hơn điều cần học. Học sinh cũng có thể so sánh, đối chiếc thái độ, hành vi của mình với nội dung bài học để củng cố những mặt tốt, kịp thời sửa chữa sai lầm. 1.2. Khái niệm phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật: 3 Phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật là phương pháp người dạy cung cấp cho học sinh những câu chuyện pháp luật diễn ra trong cuộc sống thực tiễn, thông qua câu chuyện mà học sinh có thái độ, ý kiến riêng của mình về câu chuyện đó. Tạo điều kiện cho các em được củng cố hành vi của bản thân phù hợp với thực tiễn cuộc sống. 2. Mục đích của phƣơng pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật: Mục đích của liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật là nâng cao chất lượng của giờ học bằng cách đưa vào nội dung bài học những câu chuyện pháp luật có thật trong cuộc sống hằng ngày. Thông qua câu chuyện pháp luật, học sinh sẽ giải quyết những vấn đề đã phát hiện được trong câu chuyện liên quan trực tiếp đến bài học. Học sinh học tập bằng dẫn chứng thực tiễn sẽ giúp cho các em tiếp thu bài có hiệu quả hơn và giảm bớt được sự khô khan của môn học. Bằng câu chuyện pháp luật có thật sẽ giúp học sinh có hứng thú tìm tòi các tình tiết liên quan đến bài học để tìm ra hướng giải quyết hoặc phán đoán phù hợp với thưc tiễn. Thông qua câu chuyện pháp luật giáo viên dễ dàng giáo dục cho các em có những nhận thức phù hợp vì tính thực tiễn của câu chuyện pháp luật rất cao. Câu chuyện pháp luật sẽ giúp học sinh có kinh nghiệm, thái độ ứng xử trong cuộc sống một cách hợp lí nhất. Bài học rút ra từ câu chuyện pháp luật sẽ tác động thực tiễn đến suy nghĩ của học sinh và nó có ý nghĩa giáo dục thiết thực. Vận dụng tốt câu chuyện pháp luật vào nội dung bài học là giáo viên đã sử dụng có hiệu quả phương pháp liên hệ thực tiễn giúp học sinh nắm vững kiến thức bài học một cách sâu sắc, ghi nhớ lâu hơn và vận dụng tốt hơn trong nội dung bài học. 3. Cách tiến hành phƣơng pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật: Bước 1: Đối với giáo viên: Chuẩn bị các câu chuyện pháp luật có nội dung phù hợp với bài học. Giáo viên phô tô, in nguyên văn câu chuyện pháp luật hoặc tóm tắt lại câu chuyện cho ngắn gọn, dể hiểu, dễ đưa vào bài học. Giáo viên đặt câu hỏi theo cách “Cùng suy nghĩ” sau câu chuyện giúp học sinh làm căn cứ trả lời. Bước 2: Đối với học sinh: Học sinh đọc câu chuyện phương pháp mà giáo viên cung cấp theo từng cá nhân hoặc theo nhóm. Học sinh đọc lại câu chuyện pháp luật, phân tích và trả lời câu hỏi ở cuối câu chuyện mà giáo viên đã nêu (từng cá nhân trả lời hoặc đại diện theo nhóm) tuỳ cách tổ chức của giáo viên. Đại diện các nhóm hoặc các cá nhân khác bổ sung, nhận xét ý kiến mà các bạn vừa nêu. 4 Bước 3: Giáo viên lắng nghe, phân tích và tổng hợp các ý kiến của học sinh đã thảo luận hoặc tự tìm hiểu về nội dung câu chuyện pháp luật. Giáo viên tổng kết các nội dung chính xác nhất giúp học sinh nắm vững bài học. CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ Thực trạng của việc vận dụng phƣơng pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12: 1. Thuận lợi: Nội dung chương trình Giáo dục công dân lớp 12 liên quan chặt chẽ đến các nội dung cơ bản của pháp luật. Học sinh được học tập các nội dung này và vận động vào cuộc sống thực tiễn. Sử dụng phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật rất phù hợp với nội dung bộ môn như đã nêu trên. Những câu chuyện pháp luật phản ánh những sự việc có thật diễn ra trong cuộc sống, rất gần gũi và dễ hiểu đối với học sinh. Tạo cho các em có niềm tin và sự công bằng của pháp luật trong cách giải quyết. Mặt khác, những câu chuyện pháp luật giúp các em có cơ sở để phân loại theo từng nội dung trong bài cũng như từng bài khác nhau cho phù hợp nội dung. Tính gần gũi, hấp dẫn của câu chuyện pháp luật đã giúp cho giáo viên và học sinh dễ dàng giảng dạy và học tập theo phương pháp này. Khi sử dụng câu chuyện pháp luật vào giảng dạy trong bộ môn thì cả giáo viên và học sinh đều thấy hứng thú và hiệu quả do nguồn tài liệu rất phong phú và đa dạng. Giáo viên và học sinh có thể tìm hiểu các câu chuyện pháp luật phù hợp trên báo chí (Báo Công an thành phố Đà Nẵng, báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh, báo Pháp luật, báo Pháp luật và đời sống...). Ngoài ra, nguồn tài liệu cần được khai thác tìm hiểu trên các báo mạng, báo Thanh Niên, báo Tuổi trẻ... Giáo viên và học sinh còn tìm nguồn tài liệu trên các phương tiện gần gũi nữa như Đài truyền hình Việt Nam, đài phát thanh tiếng nói Việt Nam. Như vậy, với nguồn tài liệu phong phú đã hổ trợ đắc lực và có hiệu quả cho việc dạy và học của giáo viên và học sinh. Trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường thì đội ngũ thầy cô giáo cũng đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ tận tình của tổ bộ môn. Bằng sự giúo đỡ tận tình như cung cấp tài liệu, góp ý cho việc vận dụng phương pháp cụ thể vào bài dạy cụ thể... đã giúp cho quá trình đưa phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật vào dạy học trong bộ môn ngày càng có hiệu quả. Quá trình đổi mới nội dung sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn cũng giúp cho tổ, nhóm chuyên môn có thời gian đầu tư tích cực vào phương pháp giảng dạy. Sự đầu tư, thảo luận thường xuyên đã tạo điều kiện cho việc dạy và học có hiệu quả tốt nhất. Cùng với sự hỗ trợ, giúp đỡ của tổ bộ môn thì Ban giám hiệu nhà trường cũng đã tạo điều kiện rất nhiều. Chính nhờ sự chỉ đạo sát sao, kịp thời của Ban giám hiệu về các mặt đã giúp cho giáo viên và học sinh có điều kiện tốt nhất để đổi mới phương pháp dạy học trong đó có bộ môn Giáo dục công dân. 2. Khó khăn: 5 Bên cạnh những mặt thuận lợi khi vận dụng phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật trong giảng dạy thì trong quá trình vận dụng phương pháp này cũng gặp một số khó khăn nhất định. Để vận dụng có hiệu quả phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật trong giảng dạy bộ môn Giáo dục công dân lớp 12 thì yêu cầu người dạy và người học phải sưu tầm được nguồn tài liệu. Tuy nhiên, nội dung giảng dạy pháp luật của chương trình lớp 12 rất rộng nên việc sưu tầm tài liệu cần phải chọn lọc. Việc chọn lọc câu chuyện pháp luật cũng rất mất thời gian đối với cả giáo viên và học sinh. Nếu sưu tầm không có chọn lọc thì tài liệu đôi khi không sử dụng được do không đúng trọng tâm bài học hoặc quá dài. Bên cạnh nội dung rất rộng của môn học ảnh hưởng đến vấn đề thời gian sưu tầm tài liệu thì việc dành thời gian để cập nhật thông tin hàng ngày cũng rất cần thiết. Giáo viên phải đầu tư thời gian để cập nhật các câu chuyện pháp luật mới nhất, có tính thời sự và liên quan đến nội dung bài học. Do đó việc đầu tư thời gian không thường xuyên hoặc không sắp xếp được thời gian là một khó khăn của việc sử dụng phương pháp này. Mặt khác, do môn Giáo dục công dân lớp 12 không phải là môn thi tốt nghiệp nên tâm lí học sinh ít quan tâm sâu sắc như những môn học khác. Chính vì học sinh có thái độ thờ ơ với môn học nên giáo viên đã gặp trở ngại rất lớn trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học. Để gây hứng thú và kích thích cho các em học tập tích cực bằng phương pháp này thì đòi hỏi giáo viên phải nổ lực hết mình trong giờ dạy, đây cũng là khó khăn chung cho bộ môn. Những câu chuyện pháp luật mà giáo viên nên đưa vào bài giảng chính là phương tiện dạy học. Để phương tiện dạy học này góp phần đắc lực cho việc đổi mới phương pháp thì đòi hỏi phải có nguồn cung cấp. Ở đây nguồn cung cấp tiện lợi nhất là tài liệu tham khảo trong nhà trường. Nhưng thực tế nguồn tài liệu này ở trường còn thiếu thốn và đây cũng là một khó khăn cho việc giảng dạy môn Giáo dục công dân lớp 12. CHƢƠNG 3: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Những kinh nghiệm vận dụng có hiệu quả phƣơng pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12: 1.1. Chuẩn bị: Để tiến hành có hiệu quả nội dung bài học thông qua câu chuyện pháp luật thì yêu cầu giáo viên và học sinh cần có bước chuẩn bị thật tốt. Sự chuẩn bị của giáo viên có thể bằng nhiều cách, đó là giáo viên trực tiếp sưu tầm, tìm hiểu câu chuyện pháp luật trước khi đến lớp. Câu chuyện pháp luật phải phù hợp với nội dung bài học và phải ngắn gọn để tiết kiệm thời gian. Giáo viên có thể tóm tắt lại những tình tiết chính của câu chuyện cho dễ hiểu và ngắn gọn hơn. Cách khác là giáo viên hướng dẫn học sinh trong các tổ tự tìm câu chuyện pháp luật liên quan đến bài học. Để kích thích được tính tích cực và sáng tạo của học sinh và rèn luyện ý thức chuẩn bị bài ở nhà giáo viên nên cho điểm học sinh nào tìm đúng và có chất lượng câu chuyện pháp luật. Giáo viên cũng lưu ý không làm mất nhiều thời gian và tốn tiền đối với học sinh. 6 Nguồn sưu tầm các câu chuyện pháp luật để vận dụng trong giảng dạy cũng rất đa dạng. Giáo viên và hoạt học sinh có thể sưu tầm trên các loại sách báo, tạp chí, đài phát thanh, đài truyền hình, mạng internet... và sưu tầm theo từng chủ đề, từng nội dung cụ thể trong bài dạy. 1.2. Một số ví dụ về bài dạy tiết dạy vận dụng phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật: Hầu hết các bài trong chương trình Giáo dục công dân lớp 12 đều có thể vận dụng câu chuyện pháp luật vào giảng dạy. Tuy nhiên, ở đây tôi chỉ đưa ra một số ví dụ tiêu biểu, có hiệu quả khi vận dụng phương pháp này, chẳng hạn: Bài 2: Thực hiện pháp luật: Ở bài này chúng ta có thể vận dụng câu chuyện pháp luật vào mục 2 Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí. Nội dung câu chuyện pháp luật: Chu Văn Đức (sinh năm 1963) và Trịnh Thị Hạnh Phương (Sinh năm 1962) trú tại 241/108 Nguyễn Trãi, phường Tân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội làm nghề bán phở. Theo cáo trạng của Viện kiểm soát, từ năm 1993 vợ chồng Đức Phương nuôi một em nhỏ giúp việc tên là Nguyễn Thị Thông (tức Bình - sinh năm 1983). Trong quá trình giúp việc tại gia đình này, em Bình không chỉ bị vắt kiệt sức lao động mà còn bị vợ chồng Đức - Phương đánh đập, chửi bới và hành hạ rất dã man. Hành vi xâm phạm đến thân thể em Bình của vợ chồng Đức - Phương thể hiện ở việc: Dùng muôi nước phở hắt nước nóng vào người, dùng thanh tre, thanh gỗ đánh vào người, vào vùng kín, dùng dao nhọn đâm vào ống đồng chân trái gây thương tích, dùng kìm kẹp thịt hai bên mạng sườn... Do không chịu được việc hành hạ, ngày 20/10/2007 em Bình đã bỏ trốn và tố cáo hành vi của vợ chồng Đức - Phương với công an. Trong khoảng 10 năm giúp việc cho vợ chồng Đức - Phương, em Bình chỉ được nuôi ăn, không được đi học và trả lương. Việc em Bình bị đánh đập hành hạ đã để lại trên khắp cơ thể em 424 vết sẹo, gây tổn hại sức khoẻ 34%. Sáng 21/1/2008, Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã mở phiên toà sơ thẩm, xét xử vợ chồng Đức - Phương về tội: “Hành hạ người khác” và “Gây tổn hại sức khoẻ cho người khác” theo khoản 1 Điều 110 và khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự. Cụ thể Chu Văn Đức 36 tháng tù cho hưởng án treo, Trịnh Thị Hạnh Phương 45 tháng tù giam, buộc 2 bị cáo bồi thường thiệt hại, về vật chất cho nạn nhân theo quy định của pháp luật. * Cách tiến hành: Giáo viên phôtô và phát câu chuyện pháp luật cho cả lớp làm tài liệu tham khảo. Học sinh cùng suy nghĩ các câu hỏi giáo viên đưa ra. 1. Phân tích hành vi trái pháp luật của vợ chồng Đức - Phương? 2. Hành động của vợ chồng Đức - Phương có vi phạm pháp luật không? Hành động đó dẫn đến hậu quả gì? Hành động cố ý hay vô ý? 3. Vợ chồng Đức - Phương chịu trách nhiệm pháp luật như thế nào? Học sinh: Trả lời lần lượt từng nội dung câu hỏi. 7 Giáo viên: Tổng hợp, nhận xét và bổ sung những nội dung còn thiếu. Học sinh: - Rút ra những dấu hiệu của vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí (khái niệm và ý nghĩa) Câu chuyện pháp luật: Phá đƣờng dây ma túy xuyên quốc gia - Thực hiện đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm ma túy trên tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc, Công an huyện Cao Lộc, Lạng Sơn đã xác lập chuyên án đấu tranh, bắt 10 đối tượng trong đường dây mua bán, vận chuyển ma túy xuyên quốc gia. Ngày 11/3/2014, đối tượng Vũ Thị Thủy, quê quán ở Đồng Hỷ, Thái Nguyên, hiện sinh sống tại Ninh Minh, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc là đối tượng thứ 10 và là mắt xích trong đường dây mua bán ma túy xuyên quốc gia đã bị Công an huyện Cao Lộc bắt giữ khi vừa đặt chân trở về Việt Nam. Trước đó vào ngày 2/3, Công an huyện Cao Lộc đã bắt quả tang Hoàng Đình Hải, SN 1979 trú tại thị trấn Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn và Vi Văn Ứng, SN 1967, trú tại thành phố Lạng Sơn đang trên đường giao 01 bánh heroin cho khách. Từ lời khai của hai đối tượng này kết hợp với các biện pháp nghiệp vụ, vào 16h ngày 4/3, lực lượng công an bắt quả tang đối với Lữ Văn Thoàn, SN 1994, trú tại xã Lâm Phú, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa, tang vật thu giữ 2 bánh heroin. Trong vòng 1 tuần, Công an huyện đã chia thành nhiều mũi trinh sát để truy bắt tiếp 7 đối tượng trong đường dây gồm: Tiêu Văn Khăm, Lý Văn Trưởng, Hà Văn Cường cùng trú tại tỉnh Lạng Sơn; Lương Văn Tý, Lò Thị Thủy, Lữ Thị Thương trú tại tỉnh Thanh Hóa và Vũ Thị Thủy trú tại Quảng Tây, Trung Quốc. Ngoài tang vật 3 bánh heroin còn thu giữ thêm 530 triệu đồng, 3.700 NDT và nhiều vật chứng liên quan. Đến nay, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc đã làm rõ trong đường dây này, nhóm đối tượng ở Thanh Hóa đã trực tiếp sang Lào lấy heroin và thuốc phiện để giao cho các đối tượng ở Lạng Sơn chuyển tiếp cho phía đầu bên kia Trung Quốc, bước đầu bọn chúng khai nhận đã buôn bán chót lọt hơn 20 bánh heroin và 2 kg thuốc phiện. Câu chuyện này được vận dụng vào bài 2: Thực hiện pháp luật. Mục 2c: Các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý. * Cách tiến hành: Sau khi dạy xong mục 2C, giáo viên cung cấp câu chuyện pháp luật cho học sinh cả lớp tìm hiểu và trả lời câu hỏi. 8 1. Hành vi của các bị cáo trên vi phạm pháp luật loại gì? Vì sao?. 2. Trách nhiệm pháp lí của các đối tượng trong câu chuyện là gì? Sau khi học sinh trả lời câu hỏi, giáo viên bổ sung: 1. Các đối tượng trên vi phạm pháp luật loại hình sự. Vì: Đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vì nó góp phần làm băng hoại sức khoẻ con người, ảnh hưởng đến học tập, công tác của công dân, hạnh phúc gia đình và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. 2. Các đối tượng trên phải chịu trách nhiệm pháp lí theo quy định của Pháp luật. Trong bài 4: Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội. Giáo viên đưa câu chuyện pháp luật “9 năm tù cho kẻ ném con 4 ngày tuổi” (theo báo Pháp luật) vào giảng dạy ở mục 1b: Nội dung bình đẳng trong hôn nhân và gia đình (Bình đẳng giữa cha mẹ và con cái) Sáng 8/4, TAND tỉnh Thừa Thiên Huế đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với Hoàng Trọng Bảo, SN 1980, trú thôn Pahy, xã Hồng Hạ, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế về tội “Giết người”. Theo cáo trạng, khoảng 22h30 ngày 27/7/2013, tại thôn Pahy, xã Hồng Hạ, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế, sau khi uống rượu về, giữa Bảo và chị Hồ Thị Hột (vợ đã cưới, nhưng chưa đăng ký kết hôn) đã xảy ra mâu thuẫn dẫn đến cãi vã. Nguyên nhân xuất phát từ việc Bảo muốn được ngủ chung với bé Hồ Thị Nga, con của chị Hột mới sinh 4 ngày tuổi, vì sợ Bảo ngủ đè cháu bé nên chị Hột không đồng ý. Trong lúc tranh cãi chị Hột nói “Con bé đó (bé Nga) không phải là con của mi mô, con của thằng Long đó”. Nghe vậy, Bảo tức giận nói “không phải con tau, tau giết” và chạy đến giường cháu Nga đang nằm, dùng 2 tay bồng cháu bé lên ngang lưng ném vào bếp ăn cách khoảng 2 mét. Rất may, cháu được quấn trong chăn nên đã không nguy hiểm đến tính mạng. Chị Hột liền chạy đến bế cháu Nga và kêu cứu, Bảo vẫn tiếp tục giằng co giành lấy cháu Nga để ném nhưng lúc này được mọi người can ngăn, kịp thời đưa cháu Nga đi cấp cứu. Hành vi nêu trên của Hoàng Trọng Bảo là đặc biệt nguy hiểm, cố ý tước đoạt sinh mạng của cháu Hồ Thị Nga mới sinh được 04 ngày tuổi. Việc cháu Nga không chết là do khách quan, ngoài ý thức chủ quan của Hoàng Trọng Bảo vì cháu Nga được quấn trong 02 lớp chăn, được mẹ, bà con thân thích và người hàng xóm ngăn chặn, bảo vệ, dành lấy, kịp thời đưa vào bệnh viện cấp cứu. Tại phiên tòa xét xử, Bảo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải. Khi được chủ tọa phiên tòa hỏi về hành vi nguy hiểm mà Bảo gây ra, Bảo nói "nhờ ơn trên" nên con mình "tai qua nạn khỏi". Sau khi nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, lời khai nhận tội của bị cáo; xem xét, cân 9 nhắc các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tuyên phạt Hoàng Trọng Bảo 9 năm tù giam. Học sinh: Đọc câu chuyện pháp luật và thảo luận theo nhóm với nội dung: 1. Phân tích những hành vi ngược đãi, hành hạ dã man bé Hồ Thị Nga của ông bố Hoàng Trọng Bảo ? 2. Em có nhận xét gì về hành vi của Bảo và ý kiến của em như thế nào? Học sinh thảo luận theo nhóm và trình bày ý kiến. Giáo viên: Tổng hợp ý kiến và bổ sung Kết luận: Hành vi của Bảo là vi phạm pháp luật (vi phạm quyền bình đẳng giữa cha mẹ và con cái). Học sinh: Bày tỏ được thái độ lên án, tố cáo hành vi dã man, ngược đãi con cái của ông Bảo nói riêng và những gia đình khác mà các em biết trong cuộc sống. Câu chuyện pháp luật: Nƣớc mắt chảy ngƣợc. Sáng 25/4, Trần Văn Nồ (1987, trú thôn 1, Nhị Hà, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận) đang ngồi uống cà - phê thì có vài người hàng xóm đi tới, bàn tán xôn xao về việc mẹ của Nồ là bà Trần Thị Sáu bị cha của Nồ là ông Trần Khai đang đánh ở nhà. Nghe vậy, Nồ vội vàng về nhà, lấy xe chở mẹ tới trạm xá băng vết thương. Thương mẹ, bực bội về hành vi vũ phu của cha, phận làm con, Nồ không biết làm gì, nên đã tìm đến nhà Đặng Lê Sinh (thôn 2, Nhị Hà) uống rượu cùng với Sinh và Nguyễn Văn Dũng. Uống rượu xong, Nồ vẫn rất tỉnh táo, quay về nhà, gặp cha mình, Nồ nói: "Sao ba đánh má ác quá, có chuyện cái bình thuỷ không hà, mà sao ba lại đánh má như vậy, lỡ má chết thì sao?". Ông Khai dằn giọng: "Mày còn nhỏ, không biết chuyện người lớn đâu. Lỡ có chết thì tao đi tù!". Nghe vậy, vừa thương má, vừa tức giận, Nồ thách thức: "Ông có ngon thì giết chết ông Thắng đi, còn không thì để tôi!". "Mày không được làm bậy!" - ông Khai đe con. Nồ trút giận lên chiếc bình thuỷ, cầm cái bình thuỷ đem ra hiên đập vỡ, rồi bỏ sang hàng xóm chơi. Không hiểu sao, lúc này Nồ nảy sinh ý định giết ông Trần Quốc Thắng (hàng xóm của Nồ). Những lời đàm tiếu về mối quan hệ nam nữ bất chính với mẹ Nồ và cả câu chuyện ông Khai bắt quả tang má Nồ với ông Thắng quan hệ bất chính, rồi cảnh cha mẹ Nồ từ đó đến nay thường xuyên mâu thuẫn với nhau ... tất cả đều hiện lên rõ mồn một trong đầu Nồ, làm cho Nồ càng thêm ghét cay, ghét đắng ông Thắng. Nồ suy nghĩ đơn giản nếu giết ông Thắng thì cha mẹ Nồ sẽ không còn mâu thuẫn, cãi vã và ba Nồ cũng sẽ không đánh mẹ Nồ nữa. Những suy nghĩ ấy cứ chồng chất mãi và lên đến đỉnh điểm khi Nồ đi ngang qua nhà ông Thắng, thấy ông đang nằm ngủ trên chiếc giường xếp ở giữa nhà, Nồ quyết định đi về nhà lấy dao qua giết "kẻ thù" của gia đình mình. Về đến nhà, thấy cha đang ngồi hàn nồi ở giữa nhà, Nồ lẳng lặng xuống nhà bếp lấy 2 con dao nhọn đút vào 2 túi quần, rồi lầm lũi đi ra đường, sang nhà ông Thắng. Khi ra đến mép đường cái, Nồ thọc tay vào túi quần lấy 2 con dao ra, nhưng con dao bên túi quần trái đã bị rơi lúc nào, chỉ còn lại con dao ở túi quần bên phải. Nồ cầm dao chạy thật nhanh vào chỗ ông Thắng đang nằm ngủ, đâm liên tiếp 2 nhát vào ngực ông. Ông Thắng chỉ kịp á lên một tiếng đầy kinh hãi, con gái ông là Trần Thị Ngọc Yến đang ngồi gần đó thấy vậy hoảng hốt la thất thanh. Nồ rút dao ra khỏi ngực ông 10 Thắng, nhưng con dao gãy cán nên Nồ vứt cán dao lại hiện trường rồi bỏ chạy ra đường, xuống Phú Quý đón xe đi Cà Ná và đã bị lực lượng công an xã Nhị Hà và công an huyện Ninh Phước truy đuổi, bắt giữ... Thật đau lòng khi một thanh niên hiền như Nồ, chỉ vì thương mẹ, mong muốn cho gia đình minh được sống trong bình thường, yên ổn như bao gia đình khác, cha mẹ mình hết cãi nhau và mẹ không còn bị cha đánh ... mà trong phút giây nông nổi đã phạm tội ác giết người. Bi kịch nước mắt chảy ... ngược này càng làm cho cha mẹ Nồ đau khổ đến tột cùng, nhất là ông Khai sẽ phải ân hận suốt đời, nhưng tất cả đều quá muộn, cái giá mà họ phải trả cho cảnh nhà "cơm không ngon canh không ngọt" là quá đắt... Câu chuyện này được vận dụng vào bài 4: Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội. Mục 1b: Nội dung bình đẳng trong hôn nhân và gia đình. * Cách tiến hành: Giáo viên chia học sinh theo nhóm (2 bàn/nhóm) đọc, thảo luận nội dung câu chuyện và trả lời các câu hỏi sau: 1. Hành động của ông Khai đã vi phạm quan hệ gì trong quyền bình đẳng giữa vợ và chồng? 2. Nếu em là con ông Khai em có hành động như vậy không? Tại sao? Học sinh thảo luận theo nhóm và đại diện nhóm trả lời, nhóm khác nhận xét. Giáo viên: Bổ sung nội dung còn thiếu: - Em không hành động như con ông Khai vì làm như vậy là vi phạm pháp luật. - Em sẽ khuyên can cha mẹ nên bình tĩnh để giải quyết mọi chuyện và đồng thời nhờ can thiệp của chính quyền địa phương. Câu chuyện pháp luật: Thể hiện đẳng cấp Tiếng trống tan trường điểm rộn rã, học sinh trong các lớp ùa ra như bầy ong vỡ tổ. Tôi cũng nhanh chóng thu vội sách vở, bút thước vào cặp và nhảy 2 bậc cầu thang, đi thật nhanh xuống nhà xe. Lấy chiếc xe đạp, tôi lao nhanh ra cổng, đã thấy Hùng đứng chờ, chưa thấy Hằng và Lan. Tôi phanh kít xe trước mặt Hùng, quay lại nhìn đám đông đang ùa ra cổng. Đây rồi, Hằng và Lan lẫn trong đám đông đi băng qua chỗ tôi và nháy mắt ra hiệu. Tôi và Hùng liền đạp xe theo, 12 giờ trời nắng chang chang, vậy mà chẳng đứa nào có mũ nón gì, cứ thế vừa đi vừa rôm rả bàn luận về thầy Tuấn dạy tin học, cô Bích dạy văn và cả về lớp trưởng lớp tôi. Gần đến lối rẽ đường về nhà tôi, Lan quay lại nói với tôi và Hùng: “Dừng lại, tớ có chuyện cần các cậu giúp”. Chúng tôi cùng tạt vào lề đường và dừng xe lại. Tôi hỏi ngay: “Có chuyện gì thế? Nhanh lên, đói lắm rồi”. Hình như, Hằng đã biết chuyện nên đứng im re. Lan nhìn hai đứa tôi đầy dò xét hỏi: “Hai cậu có dám đánh nhau không?”. Hùng: “Đánh nhau với ai? Vì sao lại đánh nhau?”. 11 Tôi lẩm bẩm: “Tớ không đánh nhau đâu, bố tớ mà biết được thì tớ no đòn”. Cái Lan: “Chán các cậu quá, bảo đánh thì cứ đánh, đồ nhát như thỏ đế. Thôi về đi, chiều bàn tiếp.” Cả lũ đạp xe về nhà. Bứt rứt về chuyện của Lan, sau khi ăn cơm trưa xong, tôi liền gọi điện thoại cho Hằng để khai thác thông tin. Đầu dây bên kia, giọng Hằng vẻ ngái ngủ “Có chuyện gì đấy? Không ngủ trưa à?”. - Không ngủ được, bà dậy đi, cháy nhà, chết người đến nơi rồi mà còn ngủ. - Ai cháy nhà, ai chết người, mặc kệ người ta… Tôi hét vào ống nghe: “Dậy”, hiệu quả thật, cái Hằng tỉnh ngủ ngay “Có chuyện gì, nói nhanh lên”. - Thì… chuyện cái Lan, chứ còn gì nữa. Giọng Hằng bên kia nghe bí mật “Tôi nói, ông không được kể cho ai nghe đấy nhé”. - Ừ, tôi có phải là kẻ ngồi lê đôi mách đâu mà…, kể đi. - Cái Ngọc lớp D2, biết nó chứ? - Ừ, cũng biết mặt, thế thì sao? - Nó nói cái Lan là lăng nhăng, thả câu một lúc ba, bốn thằng. - Hừm! - Cái Lan bảo, phải dạy cho nó một bài học để chừa thói nói xấu, vu vạ người khác. - Thế à! Có thế mà cũng đánh nhau à. Kệ nó, muốn nói thế nào thì nói, mình có phải người như thế đâu mà lo. Bà khuyên cái Lan thôi đi, đừng chấp nó làm gì cho mệt. - Ừ, cũng khuyên rồi, nhưng nó chưa nghe, cứ nhất quyết phải xử lý cái Ngọc. Cái Lan bảo, là người có đẳng cấp phải dạy cho cái Ngọc một bài học. Trưa thứ Năm, tiết trời oi ả, vẫn như mọi khi, tan học, chúng tôi chờ nhau ngoài cổng trường. Nhưng sao hôm nay cái Lan ra chậm thế không biết. Cổng trường đã vắng thì cái Lan mới xuất hiện, chúng tôi chưa kịp lên xe đạp đi thì nó đã bảo: “Chờ tao một tý”. Nó vừa gạt chân chống xe đạp xuống, rồi quay ngoắt về phía cổng trường. Đúng lúc này, cái Ngọc xuất hiện, Lan chống nạnh giữa đường “Con kia” rồi lao vào túm tóc, cấu xé Ngọc. Chúng tôi chẳng kịp trở tay, vội chạy đến can ngăn. Lúc này bác bảo vệ cũng có mặt, kịp thời lôi cái Lan ra, mấy thầy cô cũng xuất hiện. Cả lũ bị đưa vào Phòng Hội đồng. Trong phòng có thầy Hiệu trưởng, cô chủ nhiệm lớp và một số thầy cô giáo khác trong trường. Cả lũ đứng rúm lại một góc, cúi mặt xuống đất. Cái Ngọc khóc thút thít, cái Lan văn văn tà áo. Thầy Hiệu trưởng quát “Còn khóc lóc gì, đánh nhau là vi phạm pháp luật, gây rối trật tự công cộng”. Cái Ngọc nói trong nước mắt, phân bua: Thưa thầy, em bị đánh ạ. Thầy Hiệu trưởng: Ai đánh? 12 Ngọc: Bạn Lan ạ. Thầy: Lan, tại sao đánh bạn? Lan: Dạ, vì Ngọc nói xấu em. Thầy: Nói xấu như thế nào? Lan, nói lí nhí: Nói là em có tính lăng nhăng… Thầy: Có đúng thế không Ngọc? Ngọc: Em chỉ đùa thôi ạ. Thầy: Đùa à, nhân phẩm của người khác mà em mang ra đùa được à! Xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác là hành vi vi phạm pháp luật. Lan: Đúng đấy ạ. Thầy Hiệu trưởng quay ra nhìn Lan: Còn em, đánh bạn thì phạm tội gì? Lan, nói lí nhí: Em… Im lặng một lúc, thầy Hiệu trưởng giảng giải: Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể và được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Bất kỳ hành vi nào xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của người khác đều là hành vi vi phạm pháp luật và phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy sự việc xảy ra vừa rồi chưa đến mức phải báo cơ quan chức năng xử lý theo pháp luật hành chính hoặc hình sự nhưng việc làm đó của các em đã vi phạm nội quy của nhà trường, do đó nhà trường sẽ đưa ra biện pháp xử lý thích hợp đối với các em. Bây giờ, tất cả các em viết ngay bản kiểm điểm, tường thuật lại sự việc. Chúng tôi lục đục ngồi xuống, lấy giấy bút trong cặp ra và bắt đầu viết kiểm điểm. Sau khi viết xong, đồng hồ đã chỉ quá 01 giờ chiều, thầy Hiệu trưởng cho về, mặt đứa nào đứa ấy buồn thiu, uể oải, vừa đói, vừa mệt. Dọc đường đi chúng tôi chẳng ai nói với ai lời nào. Sáng thứ Hai, tại buổi lễ chào cờ, sau phần chào cờ hát quốc ca, đoàn ca và điểm qua các hoạt động trong tuần đến phần xử lý kỷ luật, cái Lan bị gọi lên đứng trước toàn trường, bị kỷ luật cảnh cáo và hạ một bậc hạnh kiểm, đồng thời nếu còn tiếp tục vi phạm thì sẽ bị buộc thôi học có thời hạn. Cái Ngọc cũng bị phạt cảnh cáo vì nói xấu người khác. Tôi, Hùng và Hằng bị nhận hình thức khiển trách vì biết mà không thông báo cho thầy cô giáo biết để ngăn cản sự việc. Bài học của Lan cũng là bài học chung cho tất cả học sinh trong trường, đặc biệt là nhóm chúng tôi. Hóa ra, pháp luật không phải là điều gì xa lạ mà chúng tôi vẫn mơ hồ. Pháp luật là khuôn mẫu, là qui định chúng ta phải tuân theo khi xử sự trong cuộc sống hàng ngày. Câu chuyện này được vận dụng vào bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản. Mục 1b: Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm của công dân. * Cách tiến hành: 13 Giáo viên gọi một học sinh đọc to, rõ ràng câu chuyện pháp luật này và yêu cầu học sinh: 1. Phân tích hành vi xâm phạm đến tính mạng của người khác của các bị cáo. 2. Hậu quả và trách nhiệm pháp lí? Sau khi học sinh trả lời, giáo viên chốt lại các ý chính liên quan đến nội dung câu chuyện và bài học. Câu chuyện pháp luật: Một phụ nữ bị làm nhục suốt 3 tiếng đồng hồ Câu chuyện này cũng được vận dụng vào bài 6 Mục 1b * Cách tiến hành: Giáo viên phát câu chuyện pháp luật cho học sinh đọc và trả lời câu hỏi. 1. Hành vi xâm phạm chỗ ở của người khác của Sơn và Tuấn có vi phạm pháp luật không? 2. Hậu quả gây ra? Sau khi học sinh trả lời, giáo viên chốt lại nội dung về quyền bất khả xâm phạm chỗ ở của công dân. Câu chuyện pháp luật: "Đàn ông nổi máu hoạn thƣ" Câu chuyện này cũng được vận dụng vào bài 6. Mục 1c Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân. * Cách tiến hành: Cả lớp đọc câu chuyện pháp luật và trả lời các câu hỏi: 1. Phân tích những hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm và danh dự đối với chị Hải của những người trong gia đình Lại Thế Nhân? 2. Bên cạnh việc vi phạm pháp luật những người trong gia đình Lại Thế Nhân còn vi phạm chuẩn mực gì? Giáo viên chốt lại ý học sinh trả lời và nhấn mạnh: Những người trong gia đình Lại Thế Nhân đã vi phạm chuẩn mực đạo đức, làm những việc trái với đạo đức con người. Câu chuyện pháp luật: Ngƣời tố cáo tham nhũng có thể đƣợc thƣởng 10 tỷ đồng: Người tố cáo tham nhũng được tặng Huân chương Dũng cảm còn được trích thưởng thêm 20% tài sản thu hồi được trong vụ việc mình tố cáo, nhưng tiền thưởng không vượt quá 10 tỷ đồng. Đó là một nội dung trong dự thảo Thông tư liên tịch quy định việc trích lập, quản lý và sử dụng quỹ khen thưởng về phòng, chống tham nhũng, được Thanh tra Chính phủ (TTCP) thông báo ngày 4/4, tại hội thảo lấy ý kiến đóng góp xây dựng dự thảo thông tư này. Theo dự thảo thông tư, những người có thành tích tố cáo tham nhũng có thể được khen thưởng theo các mức: Bằng khen của Tổng TTCP kèm tiền thưởng 30 lần mức lương cơ sở; bằng khen của Thủ tướng Chính phủ kèm tiền thưởng 60 lần mức lương cơ sở và Huân chương Dũng cảm kèm tiền thưởng 90 lần mức lương cơ sở. Khi cần thiết thì có thể khen thưởng bí mật. Đặc biệt, người tố cáo tham nhũng được tặng 14 Huân chương Dũng cảm còn được trích thưởng thêm 20% tài sản thu hồi được trong vụ việc mình tố cáo, nhưng tiền thưởng không vượt quá 10 tỷ đồng. Câu chuyện này được vận dụng vào bài 7: Công dân với các quyền dân chủ. Mục 3: Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân. * Cách tiến hành: Sau khi học xong mục 3, giáo viên cung cấp câu chuyện pháp luật cho học sinh tìm hiểu, giúp học sinh củng cố kiến thức đã học về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân. Câu chuyện pháp luật: Tập đoàn Sanlu (Tam Lộc) ém thông tin (Báo Tuổi trẻ ngày 24/9/2008) Ngày 23/9, Tân Hoa xã dẫn nguồn thông tin từ tổ điều tra sự kiện sữa bột Sanlu xác nhận kết quả điều tra ban đầu cho thấy Tập đoàn Sanlu đã liên tục nhận được phản ảnh từ người tiêu dùng về tình trạng trẻ nhập viên sau khi sử dụng sữa của tập đoàn này từ tháng 12/2007, chứ không phải từ tháng 3/2008 như báo chí đưa tin trong những ngày qua. Động thái này đặt ra mối nghi ngờ lớn về vấn đề bưng bít thông tin. Theo đài truyền hình CCTV, ngay từ tháng 6/2008 Tập đoàn Sanlu đã tự kiểm tra và phát hiện sữa của họ nhiễm melamine, tuy nhiên vẫn không chịu lên tiếng báo với các cơ quan chức năng ngay lúc đó mà đợi đến hai tháng sau (2-8) mới báo lên chính quyền thành phố Thạch Gia Trang. Chính quyền TP Thạch Gia Trang sau khi tiếp nhận thông tin, 38 ngày sau (9-9) mới báo lên cấp tỉnh nhưng không báo cho quốc vụ viện cũng như các cơ quan chức năng của quốc vụ viện theo quy định. Đã có thêm nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ cấm hoặc thu hồi sản phẩm sữa từ Trung Quốc. Ngày 22/9, lãnh thổ Đài Loan, Hong Kong, Canada, Indonesia, Phillippines, Bờ Biển Ngà, Burundi, Tanzania,... đã ra lệnh cấm nhập khẩu hoặc bán các sản phẩm sữa có xuất xứ từ Trung Quốc. Theo CCTV, ông Lý Trường Giang - tổng cục tưởng Tổng cục Giám sát, quản lý và kiểm dịch và Bí thư Thành uỷ Thạch Gia Trang – Ngô Hiển Quốc đã bị cách chức vì liên đới trách nhiệm trong vụ bê bối sữa. Theo Thông tấn xã Việt Nam, phát biểu trong cuộc phỏng vấn ngày 23/9 phó giáo sư sinh hoá Trần Kính Minh thuộc trường đại học Trung Quốc (Hong Kong) cho biết chất melamine đã được sử dụng làm thuốc trừ sâu ở Trung Quốc và có thể có trong nhiều loại loại thực phẩm trên thị trường từ lâu. Theo phó giáo sư Trần Kính Minh, việc sử dụng cyromazine, một dẫn xuất của chất melamine, làm thuốc trừ sâu rất thông dụng tại Trung Quốc. Vận dụng câu chuyện pháp luật trên vào bài 9: Pháp luật với sự phát triển bền vững của đất nước. Mục 2: Nội dung cơ bản của pháp luật về sự phát triển bền vững của đất nước. a. Một số nội dung cơ bản của pháp luật về phát triển kinh tế. * Cách tiến hành: 15 Sau khi dạy xong mục 2a, giáo viên cung cấp câu chuyện pháp luật Tập đoàn Sanlu (Tam Lộc) ém thông tin cho học sinh tham khảo, thảo luận lớp và trả lời các câu hỏi sau: 1. Theo em, tập đoàn Sanlu đã vi phạm nghĩa vụ gì trong kinh doanh? 2. Hậu quả của những vi phạm đó là gì? Sau khi học sinh đọc câu chuyện, trả lời câu hỏi, giáo viên cũng cố và bổ sung: 1. Tập đoàn Sanlu đã không bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, bưng bít thông tin, sử dụng chất độc hại trong chế biến sữa. 2. Hậu quả là nhiều trẻ em phải nhập viện do nhiễm độc. Câu chuyện pháp luật: Hỗn chiến trên Trƣờng Giang (Báo Tuổi trẻ - thứ 4 ngày 24/9/2008) Trong ngày 21 và đêm 22/9, hàng trăm người dân làng hến Tân Phú (xã Tam Phú, TP Tam Kỳ) và thôn Phú Tân (xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành) đã có hai cuộc hỗn chiến dữ dội khiến nhiều người phải vào bệnh viện cấp cứu. Nguyên nhân vụ việc theo người dân làng hến Tân Phú, là do dân thôn Phú Tân thường xuyên hút cát ở khu vực làm hến của dân làng Tân Phú, ảnh hưởng đến môi trường sống của hến khiến hàng trăm hộ làm hến có nguy cơ mất nghề. Theo lời kể của người dân Tân Phú, sáng 21/9 thấy bốn ghe hút cát ở khu vực cấm khai thác cát và nhiều người trên ghi này có hành vi khiêu khích, vài phút sau hàng trăm người dân của cả hai thôn này lên ghe, xông ra giữa sông Trường Giang tấn công nhau bằng gạch đá. Cuộc xô xát kéo dài đến trưa thì ngưng. Khoảng 14 giờ, dân hai làng lúc này tụ tập đông hơn, mang cả trống lớn lên ghe đánh để thị uy. Khoảng 17 giờ, khi cảnh sát 113 xuất hiện đám đông mới giải tán. Nhưng đến 20 giờ ngày 22/9 lúc dân làng hến Tân Phú đi cào hến thì bất ngờ bị tấn công, nhiều người dân bị thương vì bị ném, hất từ trên ghe xuống sông, bị tấn công bằng gạch. Tuy vụ việc xảy ra khá nghiêm trọng song chính quyền địa phương không hề hay biết. Câu chuyện pháp luật này được vận dụng vào bài 9. Mục 2d: Nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ môi trường (hoạt động củng cố) * Cách tiến hành: Học sinh: Đọc câu chuyện pháp luật và trả lời các câu hỏi. 1. Hoạt động hút cát của người dân thôn Phú Tân gây hậu quả gì? 2. Nếu em biết được hậu quả của việc hút cát em có giải quyết giống người trong chuyện không? Vì sao? Giáo viên chốt lại một số ý chính sau khi học sinh đã giải quyết. 1. Hậu quả của hoạt động hút cát - Ảnh hưởng đến môi trường sống của sinh vật (hến). - Ảnh hưởng đến công việc của nhiều người (gián tiếp) 16 2. Em sẽ trình báo sự việc với chính quyền địa phương nhờ người can thiệp theo quy định của pháp luật. 1.3. Hiệu quả đạt đƣợc Trên cơ sở nắm vững mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông, phát huy những thuận lợi của phương pháp dạy học tích cực và khắc phục những khó khăn chúng tôi đã thu được những kết quả nhất định. Có rất nhiều phương pháp dạy học đưa lại hiệu quả cho tiết dạy. Việc lựa chọn một hoặc một số phương pháp phù hợp cho nội dung bài học là rất cần thiết. Sau một thời gian giảng dạy bộ môn Giáo dục công dân lớp 12 chúng tôi nhận thấy việc đưa câu chuyện pháp luật vào dạy học là rất cần thiết và phù hợp. Khi đưa phương tiện là những câu chuyện pháp luật vào bài học thì hiệu quả của phương pháp liên hệ thực tiễn đã được phát huy tích cực. Học sinh học theo cách lồng ghép câu chuyện pháp luật vào từng mục bài sẽ cảm thấy hứng thú và tăng tính liên hệ thực tiễn. Hầu hết học sinh ở các lớp 12 đã cảm thấy hứng thú và thích học bộ môn vì nó giảm đi tính khô khan. Những câu chuyện pháp luật có thật đã tạo cơ hội cho các em nắm bắt thực tế vào nội dung bài học dễ dàng hơn rất nhiều. Đa số học sinh chịu khó tìm tòi câu chuyện pháp luật làm tư liệu, phân loại theo nội dung bài học và nắm kiến thức vững vàng hơn. Các em có cơ hội trao đổi với nhau về nội dung câu chuyện pháp luật giáo viên cung cấp hoặc mình tự tìm được. Thông qua việc trao đổi, bàn luận nhóm, lớp các em đã đưa ra những thắc mắc, câu hỏi với giáo viên hoặc bạn bè mình. Các em đã mở rộng tầm nhận thức là tự học hỏi được nhiều kinh nghiệm từ những câu chuyện thực tế đó. Như vậy câu chuyện pháp luật đã phát huy tác dụng, góp phần giáo dục ý thức pháp luật cho các em. Trong quá trình giảng dạy một số bài cụ thể có vận dụng phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật chúng tôi có nhận xét đánh giá lại kết quả thông qua hình thức trắc nghiệm, kiểm tra bài 15 phút, 1 tiết, tự luận, điều tra bằng phiếu... Với tổng số lớp 12 của trường là 4 lớp chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng phiếu của 4 lớp và thu được kết quả như sau: Lớp Số học sinh Thích học Không thích học Hiểu bài Không hiểu bài 12A1 29 24 5 29 0 12A2 22 20 0 19 0 12A3 27 24 3 27 0 12A4 31 31 0 31 0 17 KẾT LUẬN Có rất nhiều phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân , bao gồm các phương pháp dạy học truyền thống (Trực quan, giảng giải, vấn đáp...) và các phương pháp hiện đại ( như đóng vai, liên hệ thực tiễn, dự án...). Mỗi phương pháp dạy học đều có mặt mạnh và mặt hạn chế riêng. Các phương pháp sẽ phù hợp với từng loại bài riêng, từng hoạt động trong tiết dạy. Do đặc trưng của môn học Giáo dục công dân lớp 12 nên việc sử dụng phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật là rất cần thiết. Thông qua những câu chuyện pháp luật các em được tiếp xúc với thực tiễn nhiều hơn và phân tích để hiểu sâu sắc nội dung bài học. Học sinh biết vận dụng kiến thức và thực tiễn biết đánh giá thực tiễn và phát huy được tính tích cực trong học tập. Quá trình vận dụng phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12 đã đạt được những kết quả nhất định. Đa số học sinh trong lớp thấy hứng thú với phương pháp học mới này và thấy hiểu bài. Lớp học sôi nổi, học sinh phát huy được tính chủ động, sáng tạo trong học tập. Học sinh cũng được tạo cơ hội tìm tòi các kiến thức mới và khó có liên quan đến nội dung bài học. Bên cạnh những thuận lợi vận dụng phương pháp này giáo viên và học sinh còn gặp phải một số khó khăn nhất định như: Quỹ thời gian hạn chế, tài liệu tham khảo trong nhà trường chưa nhiều, một số học sinh còn thờ ơ với môn học... Như vậy để phát huy được tính tích cực của phương pháp liên hệ thực tiễn thông qua câu chuyện pháp luật và khắc phục được những hạn chế là yêu cầu đặt ra cho mỗi giáo viên khi vận dụng vào bài dạy. Muốn phát huy tính tích cực cũng như khắc phục hạn chế của phương pháp này đòi hỏi cả giáo viên và học sinh phải nỗ lực hết mình trong quá trình dạy và học. Đây cũng là yêu cầu trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học nói chung và của bộ môn Giáo dục công dân lớp 12 nói riêng. Cuối cùng tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường cùng các thầy cô trong tổ chuyên môn đã đọc, góp ý và giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này. Bảo Yên, ngày 20 tháng 4 năm 2014 Ngƣời viết Trần Thị Kim Oanh 18 TÀI LIỆU THAM KHẢO ---***--1. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 Trung học Phổ thông môn Giáo dục công dân, Nhà xuất bản Giáo dục – 2006. 2. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 11 môn Giáo dục công dân, Nhà xuất bản Giáo dục - 2007. 3. TS. Nguyễn Đăng Bằng (Chủ biên): Góp phần dạy tốt - học tốt môn Giáo dục công dân ở trường Trung học Phổ thông, Nhà xuất bản Giáo dục – 2001. 4. Trần Quốc Cảnh - Nguyễn Xuân Khoát – Lê Thị Hải Ngọc: Giáo trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên Trung học phổ thông chu kỳ 3 môn Giáo dục công dân, Nhà xuất bản Giáo dục – 2005. 5. Nguyễn Nghĩa Dân: Đổi mới phương pháp dạy học môn Đạo đức và Giáo dục công dân, Nhà xuất bản Giáo dục – 2001. 6. Hồ Thanh Diện - Nguyễn Văn Cát: Thiết kế bài giảng Giáo dục công dân 12, Nhà xuất bản Hà Nội – 2008. 7. Báo Vietnamnet: Các câu chuyện Pháp luật 8. Nguyễn Hữu Khải (Chủ biên) : Hướng dẫn thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 12 môn Giáo dục công dân, Nhà xuất bản Giáo dục – 2008. 9. Lê Đức Quảng: Phương pháp và tư liệu giảng dạy môn Giáo dục công dân, Nhà xuất bản Giáo dục – 1998. 10. Nguyễn Văn Tuyến (Chủ biên) - Nguyễn Đức Ngọc: Tư liệu Giáo dục công dân 12, Nhà xuất bản Giáo dục – 2008. 19
- Xem thêm -