Skkn sử dụng dụng cụ trực quan trong dạy vẽ tranh lớp 6 nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy

  • Số trang: 20 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 39 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

“SỬ DỤNG DỤNG CỤ TRỰC QUAN TRONG DẠY VẼ TRANH LỚP 6 NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY” 1. PHẦN MỞ ĐẦU 1.1. Lý do chọn đề tài Để hình thành nhân cách và phát triển toàn diện cho học sinh về các mặt: ĐỨC, TRÍ, THỂ, MĨ thì việc giáo dục thẩm mĩ cho các em là vô cùng cần thiết. Thông qua môn mĩ thuật, sẽ trang bị cho các em một số kiến thức, kĩ năng cơ bản về hội họa, tiếp thu những tinh hoa của nền mĩ thuật dân tộc. Từ đó, các em biết làm ra cái đẹp và vận dụng vào cuộc sống. Vì vậy nó có vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành nhân cách, lối sống của mỗi con người. Mĩ thuật là môn học thuộc lĩnh vực năng khiếu, mà các em học sinh không phải em nào cũng có năng khiếu về mĩ thuật. Như chúng ta đã biết, dạy Mĩ thuật trong nhà trường phổ thông không nhằm đào tạo các em trở thành họa sĩ mà nhằm giáo dục thẩm mĩ cho các em là chủ yếu. Từ đó tạo điều kiện cho các em tiếp xúc, làm quen và thưởng thức cái đẹp, tập tạo ra cái đẹp và biết vận dụng cái đẹp vào sinh hoạt hằng ngày và những công việc cụ thể mai sau. Môn Mĩ thuật góp phần nâng cao năng lực quan sát, khả năng tư duy hình tượng và tính sáng tạo của các em với một phương pháp làm việc khoa học nhằm hình thành ở các em phẩm chất của con người lao động mới, đáp ứng đòi hỏi của một xã hội phát triển ngày càng cao. Môn Mỹ thuật gồm các phân môn: vẽ tranh, vẽ theo mẫu, vẽ trang trí và thường thức mỹ thuật. Mỗi phân môn đều mang lại cho các em những nét hay riêng ,trong đó phân môn vẽ tranh là một trong những phân môn tương đối khó nhưng lại có vị trí quan trọng của bộ môn. Phân môn vẽ tranh luôn tạo cho các em sự hứng thú bởi đây là một trong những phân môn tổng hợp của các phân môn khác như trang trí, vẽ theo mẫu. Trên cơ sở cung cấp kiến thức và rèn luyện kỹ năng cơ bản về vẽ tranh nhằm phát huy trí tưởng tượng, sáng tạo, làm giàu cảm xúc thẩm mĩ cho học sinh. Từ những kiến thức, kỹ năng cơ bản đó người học Mĩ thuật nói chung và học sinh THCS nói riêng có khả năng cảm thụ được vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống xung 1 quanh và các tác phẩm nghệ thuật thông qua ngôn ngữ của hội họa là bố cục, đường nét, hình khối, đậm nhạt, ánh sáng và màu sắc. Đó chính là những yếu tố cơ bản tạo nên vẻ đẹp cho mỗi bức tranh. Đối với phân môn này, người giáo viên phải thật sự nhiệt tình, có phương pháp dạy mới lôi cuốn được hứng thú và sự sáng tạo học tập của học sinh. Vậy, nhiệm vụ của người giáo viên phải làm thế nào để dạy học sinh đại trà học môn Mĩ thuật có hiệu quả? Đó cũng là điều mà tôi cũng như các đồng chí giáo viên dạy môn Mĩ thuật trăn trở, quan tâm. Xuất phát từ quan điểm cơ bản của lý luận nhận thức “nhận thức đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó là con đường nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan”. Trực quan sinh động là điểm mở đầu cho quá trình tư duy, quá trình nhận thức. Nên quá trình dạy học cần đảm bảo tính “ trực quan" là yếu tố không thể thiếu trong dạy học. Đồ dùng dạy học nói chung với dụng cụ trực quan vẽ tranh nói riêng là rất quan trọng, nó giúp cho nhận thức của học sinh nhanh và hứng thú hơn, “Trăm nghe không bằng một thấy”, vì nó là hiện diện của kiến thức: nội dung, hình ảnh, bố cục, đường nét, màu sắc, là cụ thể của các khái niệm: hài hoà, cân đối, nhịp điệu...và là minh chứng cho cái đẹp. Theo kinh nghiệm của bản thân tôi ngoài việc nắm vững phương pháp giảng dạy còn phải biết sáng tạo ra những cái mới, chủ yếu làm sao gây được không khí hào hứng, say mê để thu hút quá trình học tập của học sinh nhất là đối với học sinh lớp 6 - lớp đầu cấp THCS. Sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học trong dạy vẽ tranh giúp học sinh thấy được tận mắt cách làm việc, cách phác họa, cách vẽ để các em định hướng được bài vẽ của mình, phát huy tính sáng tạo cho các em. Chính vì vậy mà tôi đã đầu tư nghiên cứu và sử dụng phương pháp giảng dạy mới gây sự hứng thú, say mê của học sinh trong học Mĩ thuật. “ Sử dụng dụng cụ trực quan trong dạy vẽ tranh lớp 6 nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy” là đề tài nghiên cứu của tôi. Tôi xin trình bày để các bạn đồng nghiệp đọc tham khảo và góp ý để sáng kiến của tôi hoàn thiện hơn. 2 1.2. Điểm mới của đề tài - Đối với đề tài " Sử dụng dụng cụ trực quan trong dạy vẽ tranh lớp 6 nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy" cũng đã có nhiều đề tài đề cập tới song vẫn chưa cụ thể và hiệu quả chưa cao. - Với việc sử dụng hiệu quả dụng cụ trực quan trong dạy vẽ tranh sẽ làm cho hoạt động dạy học sinh động và đa dạng hơn. Nhằm tiết kiệm được thời gian trình bày, phân tích, đặc biệt là gây được hứng thú, thích tìm tòi, sáng tạo của học sinh đối với môn học. Qua đó, giúp học sinh dễ tiếp thu, mở rộng thêm kiến thức, hoàn thiện kiến thức và hình thành các kỹ năng, kỹ xảo về nghệ thuật hội họa đặc biệt là trong phân môn vẽ tranh để làm nền tảng học tập về sau. 1.3. Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu * Đối tượng nghiên cứu: - Nghiên cứu về cách thức sử dụng dụng cụ trực quan (đồ dùng dạy học) trong dạy vẽ tranh. - Học sinh lớp 6 trường THCS A * Phạm vi nghiên cứu: - Vì điều kiện không cho phép nên tôi chỉ tập trung nghiên cứu và thử nghiệm đề tài này tại trường THCS A nơi tôi đang công tác và tham khảo các trường trong cụm chuyên môn. - Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy học sinh THCS có những đặc điểm đáng lưu ý, đó là: các em chưa nắm được phương pháp, kỹ năng học tập, khả năng sáng tạo cũng như lĩnh hội tri thức của học sinh còn hạn chế nhất là học sinh lớp 6. * Mục đích nghiên cứu: - Nhằm giúp học sinh lớp 6 - học sinh đầu cấp làm quen với cách thức học của cấp THCS và giúp các em có hứng thú với phân môn Vẽ tranh, giúp các em nắm được kiến thức cơ bản của cách vẽ tranh, khích lệ các em học tập, phát huy tính sáng tạo, năng khiếu của bản thân để bài vẽ có chất lượng cao. - Giúp các em có kĩ năng quan sát, ghi nhớ, tái hiện lại sự vật, hiện tượng từ đó phân tích và nắm được sự vận động của các sự vật, hiện tượng diễn ra xung quanh. Đề tài nghiên cứu “Sö dông dụng cụ trực quan trong d¹y vÏ tranh lớp 6 nhằm 3 nâng cao hiệu quả giảng dạy” trên cơ sở đề xuất một số ý kiến nhằm giúp học sinh học tốt môn Mỹ thuật. Và phải có phương pháp, kỹ năng cụ thể để tạo cho học sinh biết cách vẽ tranh, phát huy tính tích cực, tự giác chủ động sáng tạo của học sinh, kỹ năng vận dụng phù hợp với từng lớp. Học sinh phải tìm ra phương pháp và rèn luyện kỹ năng tự học, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tạo được cảm hứng, yêu thích bộ môn để khỏi e sợ, chán ngán và rụt rè khi học môn Mỹ thuật. Đặc biệt là giúp các em biết phân công công việc và năng lực tự chủ, tạo niềm tin cho các em và giúp các em học tốt môn Mỹ thuật. Từ đó kết quả học Mỹ thuật của các em sẽ được nâng cao hơn, có nghĩa là các em đã được rèn luyện toàn diện Đức - Trí - Thể - Mỹ và đáp ứng nhu cầu của thời đại. * Với đặc điểm tính chất của đề tài tôi sử dụng những phương pháp sau đây để đi sâu nghiên cứu đề tài của mình: - Đọc nghiên cứu tài liệu liên quan đến việc sử dụng đồ dùng day học trong dạy mỹ thuật. - Trao đổi phương pháp với đồng nghiệp, dự giờ thăm lớp cụm chuyên môn. - Khảo sát thực tế. - Rút ra bài học kinh nghiệm từ những tiết dạy của mình và đồng nghiệp. - Kiểm tra đánh giá. 2. NỘI DUNG ĐỀ TÀI 2.1. Thực trạng đề tài: 2.1.1. Khảo sát thực tế: Trước khi nghiên cứu đề tài này, tôi đã tiến hành khảo sát hứng thú học tập bộ môn Mỹ thuật lớp 6 đối với học sinh khối 6 như sau: - Mẫu khảo sát: 1. Thái độ học tập bộ môn mỹ thuật của em là: A. Rất thích B. Thích C. bình thường D. Không thích 2. Khi học phân môn vẽ tranh thái độ của em như thế nào? A. Tham gia vẽ tích cực B. Theo dõi bạn vẽ C. Ngồi chơi Hãy vòng chữ cái đứng trước câu trả lời của em. 4 - Kết quả: Tổng Rất thích Thích Bình thường Không thích 60 6 16 25 13 Tổng Tham gia tích cực Theo dỏi bạn vẽ Ngồi chơi 60 15 25 20 - Kết quả khảo sát bộ môn Mỹ thuật của khối 6 tại trường THCS A trước khi vận dụng sáng kiến kinh nghiệm như sau: Tæng sè HS 6A 30 6B 30 T¬ng øng víi: Lớp Giái SL TL 02 6.7 02 6.7 Lớp Kh¸ SL TL 06 20.0 07 23.3 Tæng sè Häc sinh 6A Trung B×nh SL TL 15 50.0 14 46.7 Lo¹i §¹t SL TL 30 23 23 6B 30 2.1.2. Nguyên nhân dẫn đến kết quả trên 76.7 76.7 YÕu SL TL 07 23.3 07 23.3 Lo¹i Cha ®¹t SL TL 07 07 23.3 23.3 * Về giáo viên: - Giáo viên có sử dụng đồ dùng dạy học trong tiết dạy, có thể là đồ dùng sẵn có trong thiết bị hay đồ dùng do giáo viên tự làm. - Sử dụng đồ dùng chưa linh hoạt, còn mang tính hình thức, đối phó trong các tiết thực tập thao giảng. - Sử dụng đồ dùng chưa đa dạng về nội dung đề tài, kích thước không đủ lớn để học sinh quan sát. - Hướng dẫn học sinh quan sát chưa cụ thể. 5 - Hệ thống câu hỏi chưa gây được hứng thú; hình hoặc tranh, ảnh chưa sinh động. - Chưa lôi cuốn được các đối tượng học sinh tham gia quan sát. * Về học sinh trường THCS A - Việc chuẩn bị đồ dùng học tập của các em chưa được tốt: giấy vẽ chưa đúng tiêu chuẩn, dụng cụ học tập cũng thiếu thốn . - Học sinh ít quan sát cảnh vật, các hiện tượng xung quanh. - Các em còn ngại sử dụng màu vẽ. - Các em chưa chủ động trong học tập, chưa phát huy được tính sáng tạo trong thực hành bài vẽ tranh, kĩ năng quan sát và xây dựng hình ảnh, bố cục cũng như vẽ màu còn yếu. (vẽ tự do, chưa theo đúng trình tự các bước tiến hành một bài vẽ tranh). - Có sự phân hóa đối tượng học sinh: Giỏi, khá, trung bình, yếu, kém khá rõ (tất cả các môn). - Chưa tích cực quan sát để ghi nhớ, các em không có năng khiếu thường e ngại hoặc quan sát cho có. - Khả năng tưởng tượng của các em có phần hạn chế, thậm chí nhiều em chưa hình dung ra được nội dung của một bức tranh đề tài. - Chưa có phòng học chức năng để đáp ứng cho đặc thù bộ môn. - Phụ huynh học sinh còn xem đây là môn học phụ nên chưa thực sự quan tâm đến việc học của các em. 2.2. Cơ sở nghiên cứu: Nghề dạy học là một trong những nghề khó, bởi đối tượng và sản phẩm của nó là con người. Con người vốn có diễn biến tâm lí phức tạp, sự nhận thức ở mỗi con người không giống nhau. Nếu dạy học khó thì dạy nghệ thuật càng khó hơn. Song khó không có nghĩa là không dạy được vì học mĩ thuật đem lại niềm vui cho mọi người, làm cho mọi người thấy cuộc sống tươi đẹp. Qua các bài vẽ tranh, người vẽ nhận thấy được vẻ đẹp của cuộc sống xung quanh mình thông qua hình ảnh, đường nét, bố cục, màu sắc. Từ đó tái tạo ra cái đẹp theo ý mình để tự do thưởng ngoạn nó ngay trong sinh hoạt hàng ngày. 6 Đối tượng của phân môn vẽ tranh là những gì có thể nhìn thấy hoặc thông qua suy nghĩ, nghe thấy, tự cảm nhận được cái hay cảnh vật, con người, con vật, rồi các đồ vật biết nói,... những thứ đó hết sức giản dị, gần gũi và quen thuộc với đời sống của chúng ta. Do đó, dạy Vẽ tranh là dạy trên trực quan. Đồ dùng dạy học được coi là nội dung, kiến thức của bài học và không thể thiếu trong mỗi tiết học. Từ đồ dùng dạy học, học sinh sẽ dễ dàng tìm ra kiến thức, nắm và vận dụng kiến thức một cách linh hoạt trong học tập cũng như trong cuộc sống. Từ đồ dùng dạy học, học sinh có thể thấy ngay, thấy một cách rõ ràng, cụ thể các sự vật từ đó các em hiểu nhanh, nhớ lâu những gì ẩn chứa trong hình ảnh, bố cục, đường nét và màu sắc. Trên cơ sở các trực quan đã có, giáo viên sử dụng triệt để các đồ dùng đã chuẩn bị, hướng dẫn học sinh quan sát từ bao quát tới chi tiết. Quan sát giúp học sinh nắm được, hiểu được đối tượng về nội dung, hình ảnh, bố cục, đường nét, màu sắc của các bức tranh, cảnh vật. Giúp người vẽ có ý thức sắp xếp về bố cục, hình ảnh một cách hài hoà, cân đối phù hợp với khổ giấy. Từ đó, tạo cho bố cục bài vẽ chặt chẽ, hình vẽ cân đối. Quan sát giúp người vẽ thu nhận được nhiều thông tin, quan sát thường xuyên để đối chiếu so sánh, rút ra nhận xét , kết luận một cách khách quan. Trong giờ học Vẽ tranh, ngoài liên hệ thực tế, tham quan để học sinh mở rộng tầm quan sát, giáo viên còn sử dụng đồ dùng trực quan dạy học để học sinh nhận ra cách vẽ tranh bằng hình minh họa hoặc giáo viên trực tiếp vẽ trên bảng để học sinh theo dõi. Giáo viên sử dụng trực quan để minh hoạ về hình mảng, bố cục, đường nét và màu sắc. Trong thời gian trực tiếp giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy việc sử dụng đồ dùng trong dạy học là không thể thiếu để minh hoạ cho bài dạy và sẽ giúp học sinh có được các bài vẽ tranh đẹp và thêm yêu thích phân môn vẽ tranh hơn. 2.3. Các giải pháp thực hiện: 2.3.1 Nhóm giải pháp cho việc chuẩn bị trực quan Đối với phân môn Vẽ tranh công việc chuẩn bị của giáo viên và học sinh là rất cần thiết. Giáo viên phải chuẩn bị về tranh, ảnh mẫu, phải biết lựa chọn những tranh 7 có nội dung sát với đề tài; hình ảnh rõ ràng, sinh động, hấp dẫn; bố cục cân đối, có mảng chính, mảng phụ; màu sắc hài hòa, phù hợp với nội dung đề tài. Giáo viên nên chuẩn bị trước hình minh hoạ các bước vẽ một cách cụ thể hoặc vẽ minh hoạ trên bảng để học sinh quan sát. Ví dụ như đối với đề tài học tập nên chọn loại tranh, ảnh mẫu sát với thực tế tình hình học tập của học sinh để các em nhận biết được nội dung, hình ảnh, bố cục, màu sắc. Cụ thể: + Nội dung: Học nhóm, Giáo viên cùng hướng dẫn học sinh học tập, Học sinh ôn bài, …. + Hình ảnh: có hình ảnh chính là học sinh, giáo viên; các hình ảnh phụ bổ trợ thêm như trường học, cây cối, sách vở,… + Bố cục: Sử dụng nhiều hình dạng bố cục để học sinh quan sát như: hình tháp, hình tròn, hình vuông,… + Màu sắc: tươi sáng, vui tươi, …. phù hợp với nội dung đề tài Khi đưa tranh, ảnh mẫu để học sinh quan sát thì phải sát nội dung đề tài, dễ nhận biết vì học sinh lớp đầu cấp tư duy của các em còn hạn chế các em cần phải quan sát và và nhìn thấy thực tế thì các em mới cảm nhận được và hiểu được nội dung đề tài cần vẽ. - Về trực quan, cần chuẩn bị đẹp, cần khái quát được nội dung cần minh họa. - Ngoài việc chuẩn bị đồ dùng ra, giáo viên cũng có thể cho học sinh ra ngoài thực tế, quan sát thiên nhiên, cảnh vật, cuộc sống xung quanh mình để các em ghi nhớ, tăng thêm tính sáng tạo và sự hiểu biết về thực tế - Về phía học sinh cũng phải cần chuẩn bị và sưu tầm một số tranh, ảnh mẫu trước khi lên lớp vì khi học sinh đã chuẩn bị đồ dùng thì các em đã nắm bắt được nội dung của đề tài một cách khái quát trong khi tìm kiếm. 2. 3.2 Nhóm giải pháp trong việc sử dụng trực quan 8 Trong quá trình học sinh quan sát đối tượng (tranh, ảnh mẫu) trước khi vẽ, giáo viên cần phải treo tranh, ảnh mẫu ở góc độ cả lớp quan sát tốt, rồi cho học sinh tìm hiểu về tranh, ảnh mẫu, sau đó giáo viên kết luận lại những nội dung chính. Mục đích làm cho học sinh có thể tự biết nhận ra nội dung, hình ảnh, bố cục, …. dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Đây là một bước rất quan trọng trong phân môn vì yêu cầu của vẽ tranh là phải quan sát bằng hình vẽ hay quan sát cảnh thực tế để ghi nhớ thông tin và thông qua cảm xúc và suy nghĩ cũng như năng khiếu của người vẽ để diễn tả hình ảnh, bố cục, màu sắc,... Qua đó, ta thấy học sinh cần phải được quan sát dụng cụ trực quan một cách tinh tế để thể hiện bài vẽ của mình có chất lượng hơn. Vì vậy giáo viên cần phải đặt ra những câu hỏi cụ thể và cô đọng để gợi ý, gợi mở cho học sinh.Ví dụ: + Bức tranh này vẽ về nội dung gì? + Trong thực tế những hình ảnh nào gợi cho em liên tưởng đến nội dung đề tài này? + Làm thế nào để có một bức tranh đề tài đẹp ? + Với nội dung đề tài này chúng ta nên sử dụng màu sắc như thế nào? Giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách lựa chọn màu sắc để có bài vẽ đẹp và hài hòa. - Bước giới thiệu cho các em cách vẽ tranh. + Trước hết cho các em nắm bắt được nội dung đề tài muốn thể hiện là gì ? Vì đây là yếu tố quyết định bài vẽ có sát với đề tài yêu cầu hay không, sau đó mới lựa chọn hình ảnh, sắp xếp bố cục theo ý muốn. Vậy, để làm được điều đó giáo viên cần gợi ý để học sinh biết được nội dung đề tài là đề tài gì ? Để khắc sâu và nắm bắt được nội dung, giáo viên yêu cầu một số học sinh nêu nhiều nội dung khác nhau trong đề tài để học sinh trong lớp biết lựa chọn nhiều nội dung chứ không chỉ có một nội dung để vẽ. Khi học sinh nắm được nội dung rồi nhưng để làm sao sắp xếp bài vẽ trong trang giấy cho hợp lý là một vấn đề rất phức tạp, trong thức tế học sinh 9 thường vẽ quá nhỏ hoặc vẽ quá to hay không phân biệt được bố cục chính - phụ. Đối với vấn đề này giáo viên cần phải minh hoạ lên bảng hoặc chuẩn bị bộ đồ dùng, phải làm như thế nào để học sinh biết được vẽ bố cục chính - phụ vào vị trí nào và vẽ bằng chừng nào để cho vừa với trang giấy. - Giáo viên lần lượt minh họa trên cùng một trang giấy với nhiều cách bố cục khác nhau. - Khi minh hoạ từng cách sắp xếp bố cục giáo viên cho học sinh nêu nhận xét và nói rõ bố cục hợp lý hay chưa. Từ đó học sinh khắc sâu và tìm ra cách sắp xếp bố cục trong trang giấy hợp lý. Khi hướng dẫn học sinh vẽ tranh giáo viên nên dùng phương pháp hỏi đáp khi đó mới có hiệu quả cao vì học sinh đầu cấp tư duy và tính tưởng tượng cũng như nét vẽ rất vụng về, các em thường sợ xấu, vẽ không đẹp nên thường dùng thước kẻ, lúc này giáo viên cần gợi ý học sinh vẽ bằng tay mới đẹp, vẽ bằng tay khi đó nét vẽ mới tự nhiên và sẽ làm cho bài vẽ thêm sinh động và hấp dẫn hơn. - Trong quá trình học sinh làm bài giáo viên cần đến từng đối tượng học sinh vừa gợi ý, vừa chỉ ra các vấn đề còn hạn chế, những vấn đề học sinh thường mắc phải để học sinh so sánh giữa bài của mình với bài của các bạn, giáo viên nên chỉ ra ở bài vẽ của học sinh và để học sinh tự nhận ra và tự sửa chữa theo gợi ý của giáo viên, có nghĩa là khi học sinh làm bài lúc đó giáo viên cần bám sát học sinh. Khi đánh giá bài vẽ học sinh cần phải treo các bài vẽ lên bảng để học sinh tự nhận xét, so sánh giữa bài vẽ của mình và của các bạn, từ đó học sinh nhận ra được những bức tranh đẹp hay chưa đẹp trên từng bài vẽ và nhận ra được vẻ đẹp của bài vẽ cũng như vẻ đẹp thực tế mà mình đã thu nhỏ lại vào trong tranh vẽ của mình. Ví dụ cụ thể: Tiết 23 - Bài 22: Vẽ tranh - Đề tài ngày tết và mùa xuân a. Chuẩn bị đồ dùng dạy học * Học sinh: - Chuẩn bị một số tranh, ảnh mẫu, quan sát thực tế 10 * Giáo viên: - Chuẩn bị một số tranh, ảnh mẫu về đề tài ngày tết và mùa xuân - Hình minh hoạ: + Hình minh hoạ cho Tìm và chọn nội dung đề tài: Hình 1a: Đi chợ Tết Hình 1b: Đón giao thừa Hỡnh 1c: Gói bánh chưng Hình 1d: Hội làng + Hình minh hoạ cho cách sắp xếp hình vẽ so với khổ giấy Hình 2a: Bố cục một bài vẽ quá to so với khổ giấy Hình 2b: Bố cục một bài vẽ phù hợp với khổ giấy Hình 2c: Bố cục một bài vẽ quá nhỏ so với khổ giấy + Hình minh hoạ các bước tiến hành bài vẽ tranh. (GV vẽ trên giấy hoặc vẽ trực tiếp trên bảng) Hình 3a: Bước 1- Tìm và chọn nội dung đề tài Hình 3b: Bước 2- Tìm bố cục, phác mảng chính - phụ Hình 3c: Bước 3- Vẽ hình Hình 3d: Bước 4- Vẽ màu + Bài vẽ theo mẫu của học sinh khoá trước (bài vẽ đẹp và chưa đẹp về nội dung, bố cục, hình vẽ, màu sắc) b. Cách thức sử dụng đồ dùng dạy học Hoạt động 1: Hướng dẫn học sinh Tìm và chọn nội dung đề tài Giáo viên giới thiệu về đề tài 11 Giáo viên treo hình minh hoạ H.1a -> H.1d, hướng dẫn học sinh cách tìm nội dung đề tài cho hợp lí. Giáo viên treo các bài vẽ của học sinh năm trước, học sinh quan sát và tìm ra bài vẽ có nội dung phù hợp với đề tài. Giáo viên hướng dẫn học sinh cách tìm nội dung sát với đề tài yêu cầu. Giáo viên treo H.2a -> H.2c hướng dẫn học sinh cách sắp xếp hình vẽ sao cho phù hợp với khổ giấy. Học sinh quan sát tranh, ảnh mẫu và tìm ra bố cục cho bài vẽ của mình với Đề tài học tập. Hoạt động 2: Hướng dẫn học sinh cách vẽ tranh (đây là phần trọng tâm của bài) Giáo viên kết hợp giữa sử dụng trực quan, vấn đáp và thuyết trình. Giáo viên sử dụng H.3a –> H.3d để không đúng trình tự, yêu cầu học sinh lên bảng sắp các hình vẽ theo đúng trình tự các bước của bài vẽ tranh. Giáo viên vẽ trực tiếp minh hoạ trên bảng (hoặc sử dụng hình vẽ mô tả các bước đã sắp xếp theo đúng trình tự) hướng dẫn học sinh từng bước cụ thể. Hoạt động 3: Hướng dẫn học sinh thực hành Giáo viên sử dụng trực quan là một số bài vẽ về đề tài ngày tết và mùa xuân . Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát, chỉ ra nội dung, hình ảnh, … các yếu tố tạo nên một bức tranh đẹp. Từ đó, học sinh thấy được các lỗi hay mắc phải khi vẽ để tránh lặp lại và học tập điểm tốt ở các bài vẽ trên. Giáo viên nhấn mạnh cách vẽ và phải thường xuyên tìm hiểu và quan sát thực tế. Giáo viên bao quát, hướng dẫn học sinh vẽ theo đúng trình tự các bước. (giáo viên yêu cầu học sinh gấp SGK, thu các hình minh hoạ trên bảng.) Hoạt động 4: Đánh giá kết quả học tập Nhận xét, đánh giá là khâu cần thiết để biết được kết quả học tập của học sinh, nhận biết được những nguyên nhân thiếu sót và tìm cách bổ khuyết, thúc đẩy tinh thần học tập của học sinh. 12 Đánh giá cần phải xuất phát từ mục tiêu, nội dung và phương pháp học tập. Cần tổ chức cho học sinh tự đánh giá kết quả học tập của bản thân và của bạn. Giáo viên chọn bài: chọn bài vẽ đẹp (nội dung sát với đề tài, hình ảnh sinh động, bố cục cân đối, màu sắc đẹp, hài hòa) và bài vẽ chưa đẹp. Giáo viên treo bài để học sinh cả lớp dễ quan sát, hướng dẫn học sinh tự đánh giá, xếp loại bài vẽ. Giáo viên nhận xét cụ thể bài vẽ trên tinh thần góp ý và động viên học sinh. Học sinh rút kinh nghiệm và khắc sâu kiến thức về cách vẽ tranh. 3. KẾT LUẬN 3.1. Ý nghĩa: Tranh của các em học sinh phản ánh sự vật khách quan một cách hồn nhiên, ngộ nghĩnh và đầy chất thơ. Bằng sự mô phỏng tự nhiên, không chút câu nệ theo thực tế, các em thể hiện bài vẽ một cách phóng khoáng, táo bạo, tung hoành. Nhiều nghệ sĩ đã mê tranh của các em vì ở đó có mọi giá trị chân thực của ngọn nguồn sáng tạo nghệ thuật hội hoạ. Nghệ thuật hội hoạ ở lứa tuổi thơ cần phải bảo vệ hơn hết sự hồn nhiên, cái bản năng đặc biệt của mỗi em. Đó là biểu hiện những tâm hồn sáng tạo không ngừng. Một cái nhìn không đúng thực tế lại hết sức tế nhị, có duyên làm sao. Một mảng màu bôi không đều lại mềm mại, dễ yêu và vô cùng gợi cảm cho người thưởng thức. Trong đó có yếu tố ngẫu nhiên mà lại ăn ý, đúng chỗ, rất thực và đáng yêu, táo bạo mà nhuần nhuyễn. Xem tranh các em, ta như bắt gặp cái gì đó trong tâm hồn mình, cái chân thực trên tác phẩm tuổi thơ hồ hởi của các em. Trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành đề tài đã đem đến cho bản thân tôi nhiều kinh nghiệm quý báu cho giảng dạy. Là giáo viên trực tiếp đứng lớp và trực tiếp giảng dạy môn mỹ thuật, tôi thấy được kinh nghiệm sử dụng đồ dùng dạy học để dạy vẽ tranh như trên đưa lại hiệu quả thiết thực nhất. Qua từng bài dạy người giáo viên biết tìm ra những điểm nhấn mạnh cần luyện tập kỹ càng để có được những phương pháp truyền thụ kiến thức đến học sinh một cách tốt nhất và có hiệu quả nhất, không nhất thiết hoàn toàn phụ thuộc vào sách giáo khoa. Đề tài nghiên cứu 13 chỉ là một khía cạnh nhỏ trong việc dạy và vẽ của học sinh nhưng qua đó ta cũng thấy được nhiều điều quan trọng. Đối với tôi, sau khi hoàn thành đề tài ngoài việc mở rộng hiểu biết về phương pháp dạy tôi còn rút ra những kinh nghiệm trong các bài học cho bản thân, những hiểu biết còn quá ít so với trách nhiệm của mình đối với việc giáo dục thẩm mỹ. Do đó, tôi thấy mình cần phải học hỏi nhiều hơn, tiến hành thực nghiệm nhiều để phục vụ cho công tác giảng dạy được tốt hơn, có hiệu quả hơn. Rất mong được sự góp ý của các đồng nghiệp. 3.2. Kết quả đặt được sau khi nghiên cứu: Sau khi vận dụng phương pháp minh họa trực quan để giảng dạy phân môn Vẽ tranh, kết quả thu được như sau: - Kết quả hứng thú học tập bộ môn: Tổng Rất thích Thích Bình thường Không thích 60 27 20 9 4 - Kết quả học tập: Tæng sè HS 6A 30 6B 30 T¬ng øng víi: Lớp Giái SL TL 05 16.7 04 13.3 Lớp Kh¸ SL TL 15 50.0 16 53.3 Tæng sè Häc sinh 6A 6B 30 30 Trung B×nh SL TL 08 26.7 08 26.7 Lo¹i §¹t SL TL 28 28 93.3 93.3 YÕu SL TL 02 6.6 02 6.6 Lo¹i Cha ®¹t SL TL 02 02 6.7 6.7 Qua khảo sát tôi thấy kết quả học sinh được nâng lên một mức rõ rệt. * Kết quả thu được: 14 - Qua các bài học, các em vẽ đẹp hơn nhiều, học sinh có những biểu hiện nhận biết nội dung đề tài nhanh hơn, hình ảnh vẽ có sự sáng tao, sinh động; bố cục sắp xếp cân đối, thuận mắt; biết sử dụng màu sắc phù hợp với nội dung đề tài và cảm xúc của mình. Bài vẽ thể hiện được không gian, có xa có gần. - Có ý thức và biết cách vẽ cái gì trước, cái gì sau và biết sắp xếp bố cục như thế nào là hợp lý. - Điều nhận thấy rõ ràng nhất là không khí học tập của học sinh trong trường đối với môn Mỹ thuật, ngày càng có nhiều em thích học, bộc lộ thêm nhiều năng khiếu đáng quý giúp tôi đạt được kết quả giáo dục thẩm mỹ đại trà và có được kế hoạch bồi dưỡng, dự nguồn đối tượng học sinh dự thi học sinh giỏi các cấp môn Mỹ thuật sau này - Từ đó học sinh có thể vận dụng vào phân môn vẽ theo mẫu, vẽ trang trí cũng như các môn học khác hay những công việc hàng ngày trong cuộc sống cần phải biết làm gì trước và làm gì sau và phải làm như thế nào mới có hiệu quả. 3.3. Bài học kinh nghiệm: Qua đi sâu nghiên cứu bằng nhiều phương pháp, nghiên cứu lý thuyết và áp dụng thực tế, bản thân rút ra một số bài học kinh nghiệm sau: 3.3.1. Về khâu chuẩn bị trực quan: - Giáo viên cần chuẩn bị trực quan thật chu đáo, lường trước một số tình huống xảy ra để xử lý. - Về trực quan, cần chuẩn bị đẹp, cần khái quát được chỗ cần minh họa. - Đối với lớp 6 có thể cho học sinh quan sát nhiều tranh, ảnh và cho học sinh quan sát thực tế. - Cho học sinh thảo luận và rút ra kết luận khi quan sát trực quan. 15 - Học sinh cũng phải cần chuẩn bị và sưu tầm một số tranh, ảnh mẫu trước khi lên lớp vì khi học sinh đã chuẩn bị đồ dùng thì các em đã nắm bắt được nội dung một cách khái quát trong khi tìm kiếm. 3. 3.2 Về khâu sử dụng trực quan * Hoạt động 1: Tìm chọn nội dung đề tài. - Giới thiệu về đồ dùng dạy học - Giáo viên giới thiệu tranh mẫu cùng với các câu hỏi gợi ý để học sinh quan sát, suy nghĩ nhận ra khái niệm, so sánh, phân tích tìm ra đặc điểm về đề tài sẽ vẽ, thấy được những mảng chính, mảng phụ, những hình tượng tiêu biểu về hình dáng , màu sắc. - Sử dụng đồ dùng phù hợp với từng nội dung bài học * Hoạt động 2: Cách vẽ tranh. - Hướng dẫn học sinh tìm hiểu, khai thác đề tài bằng lời nói sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn các em “nhập cuộc”. Cách khơi gợi khi hướng dẫn cách vẽ tranh một đề tài nào là “dựng lên” trước mắt học sinh một “khung cảnh bằng lời” rõ ràng có hình ảnh, màu sắc; có sự hoạt động nhằm giúp các em nhớ lại những gì đã quan sát được và hình dung ra tranh mình định vẽ về bố cục, hình tượng, màu sắc thế nào? Lời nói của giáo viên cũng mang lại hiệu quả như đồ dùng dạy học. - Vẽ màu tự do theo ý thích, không nhất thiết phải theo màu sắc thực, miễn sao tranh vẽ có màu đậm, màu nhạt, tươi sáng phù hợp với đề tài và rõ trọng tâm. Hai hoạt động trên tiến hành khoảng 8 – 10 phút. Nên dành nhiều thời gian cho thực hành là chính. * Hoạt động 3: Thực hành. Cũng như vẽ theo mẫu, vẽ trang trí. Thời gian vẽ tranh giáo viên cần đến từng bàn theo dõi, gợi ý, có thể cung cấp những thông tin cần thiết hoặc bổ sung những kiến thức học sinh còn lúng túng. Nhưng chủ yếu là học sinh làm tự làm bài, giúp 16 học sinh nhận ra những gì hợp lý, chưa hợp lý để điều chỉnh làm cho bài vẽ rõ nội dung, sinh động hơn. Đồng thời góp ý học sinh thấy độ đậm nhạt trong tranh thế nào là hợp lý…Tóm lại: Giáo viên dựa vào thực tế để nhận xét, góp ý hay gợi mở một cách cụ thể cho phù hợp, phát huy khả năng tìm tòi, sáng tạo của học sinh. Động viên học sinh tự suy nghĩ tìm tòi là chủ yếu, không nên gò bó các em làm bài theo ý giáo viên. Tạo điều kiện cho các em vui vẻ học tập mà bài vẽ sẽ sinh động, có nét riêng và đẹp hơn. * Hoạt động 4: Nhận xét, đánh giá - Nhận xét, đánh giá là khâu cần thiết để biết được kết quả học tập của học sinh, nhận biết được những nguyên nhân thiếu sót và tìm cách bổ khuyết, thúc đẩy tinh thần học tập của học sinh. - Đánh giá cần phải xuất phát từ mục tiêu, nôi dung và phương pháp học tập. Cần tổ chức cho học sinh tự đánh giá kết quả học tập của bản thân và của bạn. - Sau cùng giáo viên bổ sung, xếp loại bài vẽ và động viên khích lệ học sinh. Tóm lai, Trong mỗi khâu dạy học, cần thừa kế, chọn lọc những mặt tích cực trong hệ thống các phương pháp dạy học. Đồng thời phải vận dụng các khâu dạy học một cách khoa học, phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Sử dụng hiệu quả dụng cụ trực quan trong dạy học sẽ mang lại hiệu quả cao trong vấn đề nâng cao chất lượng giờ dạy. Đặc biệt nó có thể giải quyết một lúc nhiều nội dung trong thời gian ngắn và phát huy được tính tích cực, sáng tạo của học sinh, học sinh lĩnh hội kiến thức một cách chủ động hơn. Với sáng kiến kinh nhiệm này, tôi mong muốn góp phần thúc đẩy công tác sử dụng hiệu quả dụng cụ trực quan trong dạy vẽ tranh sớm thành công, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, chất lượng quản lý, thiết thực góp vào sự nghiệp giáo dục. 3.4. Kiến nghị, đề xuất: 3.4.1. Đối với nhà trường: 17 Để có hiệu quả cao trong phân môn vẽ tranh, cần phải có một phòng học đủ độ rộng, có giá vẽ, có tranh, ảnh mẫu nhiều hơn nữa để thuận tiện cho công tác dạy và học. Có kế hoạch tham mưu với Phòng Giáo dục để bổ sung thêm thiết bị dạy học, một số loại sách để tham khảo. Duy trì đều lịch sinh hoạt chuyên môn liên cụm để trao đổi về phương pháp phương pháp giảng dạy bộ môn 3.4.2. Đối với Phòng giáo dục và Sở giáo dục: Các cấp quản lí giáo dục đầu tư thêm phương tiện dạy học hiện đại, cơ sở vật chất, phòng học bộ môn, dụng cụ trực quan cho các khối lớp. Cung cấp thêm các loại sách, tài liệu có liên quan đến môn mĩ thuật để giáo viên tự bồi dưỡng thêm về chuyên môn nghiệp vụ. Cần tổ chức các chuyên đề về phương pháp giảng dạy bộ môn, phương pháp kiểm tra đánh giá tạo ra tính đồng bộ trong quá trình giáo dục của bộ môn giữa các đơn vị . Để nâng cao trình độ thực chất của giáo viên, ngành giáo dục nên có biện pháp bồi dưỡng cho giáo viên có nhu cầu nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, không nên tự hài lòng với trình độ Đại học của giáo viên THCS, tổ chức các hội thảo để giáo viên có thể trao đổi kinh nghiệm, học tập nhau trong quá trình công tác. 4. CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Sách giáo khoa Mĩ thuật lớp 6 - NXB giáo dục. 2. Sách giáo viên lớp 6 - NXB giáo dục. 3. Tâm lí lứa tuổi - giáo trình đào tạo giáo viên THCS - NXB giáo dục. 18 4. Phương pháp giảng dạy mĩ thuật- giáo trình đào tạo giáo viên THCS - NXB giáo dục. 5. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kì III (20042007) môn Mĩ thuật - NXB Giáo dục. 6. Các bài vẽ tranh của HS HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TRƯỜNG 19 Điểm:........................... Xếp loại:............ Ngày 04 tháng 11 năm 2013 CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG KHOA HỌC PHÒNG GD-ĐT Điểm:........................... Xếp loại:............ Quảng Trạch, ngày 04 tháng 11 năm 2013 CHỦ TỊCH 20
- Xem thêm -