Skkn sử dụng di sản văn hóa ninh bình trong dạy học môn giáo dục công dân cấp thcs nhằm phát triển năng lực của học sinh

  • Số trang: 84 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 35 |
  • Lượt tải: 0
nguyen-thanhbinh

Đã đăng 8358 tài liệu

Mô tả:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM I. Tên sáng kiến kinh nghiệm: “SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA NINH BÌNH TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN CẤP THCS NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH” II. Nhóm tác giả sáng kiến kinh nghiệm: - Họ và tên: Nguyễn Thị Hà Minh Chức vụ: Trưởng phòng Đơn vị: Phòng GD&ĐT huyện Hoa Lư - Ninh Bình Địa chỉ: Ninh Mỹ-Hoa Lư Hộp thư điện tử: nthminh65@gmail.com Số điện thoại: 0916864474 - Họ và tên: Nguyễn Minh Khuê Chức vụ: Cán bộ Đơn vị: Phòng GD&ĐT huyện Hoa Lư - Ninh Bình Địa chỉ: Phường Ninh Sơn-TP Ninh Bình Hộp thư điện tử: khuenguyen688@gmail.com Số điện thoại: 0978253688 - Họ và tên: Trịnh Hồng Lịch Chức vụ: Giáo viên Đơn vị: Trường THCS Ninh Hải - Hoa Lư - Ninh Bình Địa chỉ: Ninh Sơn- TP Ninh Bình Hộp thư điện tử: tungbachnguyen@gmail.com Số điện thoại: 0983695881 III. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm: PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài: Khi nhân loại bước vào thế kỷ 21, xu hướng toàn cầu hoá và cách mạng công nghệ thì “một trong những chìa khoá để vượt qua những thách thức của thế kỷ mới là giáo dục”. Định hướng về giáo dục của UNESCO gồm 4 trụ cột đó là: “ Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”. Hoà cùng xu thế chung của thế giới, Giáo dục Việt nam cũng đang đổi mới một cách toàn diện. Nghị quyết trung ương 8 khoá XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức của người học ; Khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức , kỹ năng, phát triển năng lực.”. Chính vì vậy, người giáo viên sẽ có một vai trò, vị trí mới. Muốn thực hiện tốt vai trò mới của mình thì người giáo viên phải tự học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và phải đổi mới phương pháp giảng dạy. Một trong những 1 phương pháp dạy học hiện đại, đóng vai trò quan trọng trong cải cách giáo dục đó là sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông. Điều đó không chỉ đòi hỏi người giáo viên giảng dạy bộ môn nắm bắt nhuần nhuyễn kiến thức bộ môn mình giảng dạy mà còn cần phải không ngừng trau dồi kiến thức về di sản để giúp học sinh có những hiểu biết về những giá trị của di sản, qua đó giáo dục ý thức giữ gìn, bảo vệ các di sản, đồng thời, góp phần thúc đẩy việc đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện đa dạng hóa các hình thức dạy học trong môn Giáo dục Công dân. Là người quản lý chỉ đạo chuyên môn cấp THCS, giáo viên dạy môn Giáo dục công dân ở trường THCS, chúng tôi luôn suy nghĩ, trăn trở trước mỗi bài dạy. Ngoài việc cung cấp kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa, mỗi bài dạy cần sử dụng di sản như thế nào, đặc biệt là những di sản văn hóa của Ninh Bình, để làm sao có thể thực hiện tốt mục tiêu của giờ dạy, giúp học sinh có thêm những hiểu biết của mình về di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa Ninh Bình nói riêng, có như vậy thì các em mới thực sự làm chủ được kiến thức. Đồng thời giáo dục học sinh những hiểu biết về quê hương, bồi dưỡng lòng tự hào, tình yêu quê hương đất nước. Giúp học sinh ý thức hơn việc học phải đi đôi với hành; rèn luyện các kĩ năng giải quyết tình huống trong cuộc sống và ứng dụng vào đời sống thực tế của học sinh. Qua thực tế quá trình dạy học, nhất là khi dạy các bài có tính thực tiễn trong SGK môn GDCD và một số tiết thực hành ngoại khóa các vấn đề địa phương, chúng tôi thấy rằng việc sử dụng di sản văn hóa Ninh Bình trong một số tiết học môn GDCD và một số tiết thực hành ngoại khoá các vấn đề địa phương Ninh Bình nhằm phát triển năng lực học sinh là hết sức cần thiết, giúp học sinh hiểu rộng hơn về quê hương Ninh Bình, hiểu về lịch sử, thiên nhiên, văn hóa, các vấn đề về khoa học, xã hội của tỉnh ta. Từ đó giáo dục học sinh lòng tự hào, yêu mến quê hương, thấy được nghĩa vụ, trách nhiệm của bản thân phải làm gì để đóng góp công sức xây dựng quê hương Ninh Bình ngày càng giàu đẹp. Xuất phát từ những lý do trên, để góp phần nâng cao chất lượng dạy học, chúng tôi đã chọn vấn đề: “Sử dụng di sản văn hóa Ninh Bình trong dạy môn Giáo dục Công dân nhằm phát triển năng lực của học sinh” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình. Sáng kiến góp một số kinh nghiệm trong việc chỉ đạo nâng cao hiệu quả việc dạy học theo di sản môn GDCD đối với các trường THCS trong toàn huyện, giúp cho việc nghiên cứu lí luận vào thực tiễn mà còn có khả năng vận dụng vào thực tiễn giảng dạy của giáo viên trong quá trình công tác. Hy vọng kết quả nghiên cứu cũng sẽ là một tài liệu để các đồng nghiệp tham khảo, góp phần đổi mới phương pháp dạy học trong các tiết thực hành ngoại khoá các vấn đề địa phương Ninh Bình. 2. Cơ sở lý luận Khái niệm về di sản văn hóa: Di sản văn hóa Việt Nam bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể (bao gồm di sản văn hóa và di sản thiên nhiên) là sản phẩm tinh thần, 2 vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Đặc điểm của di sản văn hóa Việt Nam: Di sản văn hóa Việt Nam là những giá trị kết tinh từ sự sáng tạo văn hóa của cộng đồng 54 dân tộc, trải qua một quá trình lịch sử lâu đời, được trao truyền, kế thừa và tái sáng tạo từ nhiều thế hệ cho tới ngày nay. Di sản văn hóa Việt Nam là bức tranh đa dạng văn hóa, là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại. Di sản văn hóa Việt Nam có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Di sản văn hóa Việt Nam là những giá trị sáng tạo từ việc học hỏi, giao lưu và kế thừa từ các nền văn hóa và văn minh của nhân loại. Những giá trị đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa văn hóa và văn minh của nhân loại với nền văn hóa bản địa lâu đời của các dân tộc Việt Nam. Di sản văn hóa Việt Nam, đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể có sức sống mạnh mẽ, đang được bảo tồn và phát huy trong đời sống của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa thông qua Luật di sản văn hóa năm 2001 (có hiệu lực từ 01/01/2002), được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Phân loại di sản: Di sản văn hóa Việt Nam được chia thành hai loại: Di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia. Di sản văn hóa vật thể bao gồm: - Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. - Danh lam thắng cảnh còn gọi là di sản thiên nhiên là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử thẩm mỹ, khoa học. - Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. - Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên. - Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học. Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, 3 thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác. Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: Tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt Nam; Ngữ văn dân gian, bao gồm: Sử thi, ca dao, dân ca, tục ngữ, hò, vè, câu đố, truyện cổ tích, truyện trạng, truyện cười, truyện ngụ ngôn, hát ru và các biểu đạt khác được chuyển tải bằng lời nói hoặc ghi chép bằng chữ viết; Nghệ thuật trình diễn dân gian, bao gồm: Âm nhạc, múa, hát, sân khấu và các hình thức trình diễn dân gian khác; Tập quán xã hội, bao gồm luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ và các phong tục khác; Lễ hội truyền thống; Nghề thủ công truyền thống; Tri thức dân gian. Di sản văn hoá Việt Nam là những giá trị kết tinh từ sự sáng tạo văn hoá của cộng đồng các dân tộc anh em. Trải qua một quá trình lịch sử lâu đời, các di sản được kế thừa và sáng tạo từ nhiều thế hệ cho tới ngày nay tạo nên bức tranh văn hoá đa dạng. Mục đích của nền giáo dục của chúng ta luôn hướng tới việc phát triển toàn diện cho HS vì vậy những hiểu biết về di sản văn hóa sẽ làm dầy thêm vồn kiến thức của các em và đặc biệt giúp HS phát triển về trí tuệ. Khi cho HS tiếp cận với di sản đúng mục đích, với phương pháp dạy học phù hợp và sự hướng dẫn chi tiết mang tính định hướng, kích thích tư duy, GV sẽ giúp HS phát triển khả năng quan sát, khả năng xử lý thông tin, khả năng phân tích, tổng hợp và so sánh, qua đó phát triển trí tuệ của các em. Di sản văn hóa chính là một trong những phương tiện dạy học đa dạng sống động nhất. Ẩn chứa trong di sản là những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, nên nó có khả năng tác động mạnh tới tình cảm, đạo đức, tới việc hình thành nhân cách của HS. Khai thác được những giá trị ẩn chứa trong các di sản và chuyển giao cho HS để các em cũng nhận thức được những giá trị đó thì GV sẽ giúp HS nhận thức thế giới xung quanh, đồng thời giúp các em có cơ sở giải thích một cách khoa học các sự vật, hiện tượng liên quan đến di sản, giúp học sinh có khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống. Trong quá trình học tập với di sản, HS được rèn luyện cách trình bày, diễn đạt suy nghĩ, quan điểm, mong muốn, cảm xúc của bản thân dưới hình thức nói, viết một cách phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh và văn hóa giao tiếp. Đồng thời các em cũng biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan 4 điểm. Kỹ năng này giúp HS có mối quan hệ tích cực với nguời khác, đồng thời biết cách xây dựng mối quan hệ với bạn bè mới. Làm việc với di sản, HS có được môi trường giao tiếp cởi mở với bạn bè không chỉ trong phạm vi lớp học mà cả với những đối tượng khác mà các em gặp gỡ. Trong quá trình tiếp cận với di sản, GV lưu ý cách thức giao tiếp phù hợp cũng chính là góp phần phát triển ở các em một loại kỹ năng sống cần thiết. Trong quá trình dạy học thông qua việc tiếp cận di sản, GV không chỉ thuyết trình về các hiện tượng, sự vật mà cần tìm hiểu, hướng dẫn HS tự quan sát, thu thập thông tin, trao đổi trong nhóm để xử lý các thông tin. Qua đó các em sẽ có những kiến thức về di sản và có thể trình bày lại những hiểu biết của cá nhân mình hoặc của nhóm mà mình đã thu lượm được. Đối với giáo viên , để làm cho hoạt động phong phú và hiệu quả, GV có thể phát động, hướng dẫn các em tổ chức triển lãm những hiện vật, bài viết giới thiệu về di sản do các em sưu tầm được. Môi trường làm việc thay đổi đòi hỏi GV phải có phương pháp dạy học, cách thức tổ chức dạy học phù hợp, sao cho tập thể HS được lôi cuốn vào công việc tìm hiểu, nghiên cứu di sản; đòi hỏi từng HS phải làm việc thực sự và phải biết hợp tác với bạn để cùng hoàn thành nhiệm vụ được giao. Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển: “Nhà trường phổ thông vừa có trách nhiệm giáo dục nâng cao nhận thức cho học sinh về di sản văn hoá, vừa có trách nhiệm sử dụng di sản văn hoá để dạy học. Việc sử dụng di sản văn hoá để dạy học sẽ mang lại những kết quả tích cực vừa có giá trị ở phương pháp giáo dục kiến thức phổ thông theo quy định của chương trình, vừa nâng cao nhận thức và trách nhiệm của HS đối với di sản văn hoá”. Thực tế, các hoạt động gắn kết giữa di sản, bảo tàng với hoạt động giáo dục bấy lâu đã được triển khai thông qua các hoạt động ngoại khóa, tham quan, đặc biệt là qua phong trào Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực được triển khai rộng rãi vài năm nay... Song theo Trung tâm Nghiên cứu và Phát huy giá trị di sản văn hóa thuộc Hội Di sản văn hóa, công tác giáo dục di sản trong nhà trường còn nhỏ lẻ, chưa được tiến hành một cách bài bản và thường xuyên. Còn phong trào Xây dựng nhà trường thân thiện, học sinh tích cực mặc dù có những kết quả tích cực, nhưng nó chỉ mang tính phong trào, chưa thực sự đi vào đời sống giáo dục... Mới đây nhất, Bộ GD - ĐT được sự hỗ trợ của UNESCO Hà Nội đã biên soạn cuốn tài liệu “Sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông”. Phần nội dung của tài liệu là thiết kế bài học (giáo án) sử dụng di sản trong dạy học theo cấp THCS và THPT của các môn lịch sử, địa lý, âm nhạc. Sáng kiến kinh nghiệm: “Sử dụng di sản văn hóa Ninh Bình trong dạy môn Giáo dục Công dân nhằm phát triển năng lực của học sinh” hy vọng góp phần nâng cao hiệu quả của việc sử dụng di sản trong giảng dạy nói chung và trong dạy môn GDCD nói riêng. 3. Cơ sở thực tiễn. 3.1. Thuận lợi: 5 Sử dụng di sản trong dạy học đang là xu thế chung của giáo dục Việt Nam nên được sự ủng hộ từ các cấp: Bộ Giáo dục, Sở Giáo dục, Phòng Giáo dục và các tổ chức xã hội, phụ huynh, học sinh… Chương trình môn Giáo dục công dân nói chung và chương trình thực hành ngoại khoá các vấn đề địa phương Ninh Bình nói riêng có nhiều bài, nhiều nội dung phù hợp với việc sử dụng di sản làm phương tiện dạy học. Trước đây hoạt động gắn kết giữa di sản, bảo tàng với hoạt động giáo dục bấy lâu đã được triển khai thông qua các hoạt động ngoại khóa, tham quan, đặc biệt là qua phong trào Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực. Về cơ sở vật chất đã có một số đổi mới, tạo điều kiện cho việc thực hiện các phương pháp mới, tạo hứng thú cho học sinh như: phòng CNTT, Máy chiếu, bảng phụ, cách bố trí bàn ghế, chỗ ngồi cho học sinh… Trong những năm học qua, phòng GD&ĐT Hoa đã chỉ đạo các trường THCS trong địa bàn huyện thực hiện tốt phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Học sinh trong toàn huyện đã được tìm hiểu, chăm sóc, bảo vệ một số di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh ở địa phương. Coi trọng bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, tuyên truyền học tập nâng cao nhận thức cho giáo viên về dạy học gắn kết với di sản. Thường xuyên tổ chức hoạt động chuyên đề, các tiết dạy có sử dụng di sản trong những đợt hội giảng. Tổ chức các tiết học thực địa, hoạt động ngoại khóa, tham gia đầy đủ các cuộc thi do Sở GD&ĐT Ninh Bình tổ chức, đặc biệt là cuộc thi: “Em yêu Lịch sử Việt Nam” với ý thức nghiêm túc và tinh thần trách nhiệm cao. Xã hội hiện nay với sự đa dạng về các kênh thông tin tạo điều kiện cho con người (giáo viên và học sinh) có điều kiện tiếp cận nhiều nguồn kiến thức về di sản từ nhiều phương tiện khác nhau từ đó mở rộng nâng cao hiểu biết về di sản. 3.2. Khó khăn Ở một số nhà trường, vẫn còn có những cán bộ quản lý chưa thật quan tâm thường xuyên đến vấn đề này, giao khoán cho toàn bộ giáo viên; một số giáo viên còn thụ động trong việc nghiên cứu, thiết kế nội dung và tiến trình sử dụng di sản trong dạy học, chưa thật chủ động trong việc sưu tầm tư liệu, tranh ảnh về di sản để sử dụng trong dạy học. Việc hiểu và sử dụng di sản trong dạy học ở giáo viên còn chưa thống nhất; một số giáo viên chưa vận dụng thành thục tiến trình sư phạm của bài giảng sử dụng di sản trong dạy học dẫn đến việc áp dụng khiên cưỡng, thiếu hiệu quả. Việc xây dựng nguồn tài liệu giới thiệu về các di sản còn thiếu do đó giáo viên gặp khó khăn về nội dung các di sản có liên quan đến bài học. Bên cạnh đó, còn gặp một số khó khăn nữa liên quan đến vấn đề kinh phí và thời gian. Học sinh ít đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu, học tập bộ môn (bộ môn khoa học xã hội) do lối sống thực dụng như hiện nay, do áp lực thi cử, áp lực từ phía gia đình. 6 Cơ sở vật chất có đổi mới nhưng chưa thực sự phù hợp với một số phương pháp dạy học tích hợp như số học sinh trên một lớp đông, không gian lớp học còn hẹp, trang thiết bị, đồ dùng dạy học còn sơ sài, thời gian tiết học còn hạn chế... PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. 1. Giải pháp cũ thường làm. Trước đây, theo phương pháp dạy học truyền thống, hoạt động “dạy” là trung tâm, dạy học hướng đến nội dung, giáo viên giữ vai trò là người truyền thụ kiến thức, học trò là người thụ động tiếp thu kiến thức theo sự giảng giải của giáo viên. Tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh bị hạn chế rất nhiều. Trong môn Giáo dục công dân, lối dạy học cũ chủ yếu là phương pháp thuyết trình, đàm thoại, giảng giải, giáo viên đọc, học sinh nghe rồi ghi chép...Dạy học môn GDCD trước đây thường thiên về giải thích cho học sinh hiểu khái niệm, các giá trị và chuẩn mực, sau đó buộc các em phải chấp nhận. Cụ thể là: đối với các bài học thuộc chuẩn mực đạo đức thì giáo viên yêu cầu học sinh trình bày khái niệm đã có sẵn trong sách giáo khoa, sau đó giáo viên lấy ví dụ minh họa rồi học sinh có thể dựa vào đó lấy thêm ví dụ. Trên cở sở tìm hiểu đó, học sinh áp dụng vào làm bài tập liên quan. Còn đối với các bài học thuộc quy phạm pháp luật, thông thường trước đây giáo viên thường dựa chủ yếu vào các qui định có sẵn trong sách giáo khoa để phổ biến cho học sinh. Ngoài ra giáo viên có thể phân tích, giải thích tại sao lại phải qui định như vậy. Tuy nhiên, bài học chỉ dừng lại ở mức hiểu những qui định trong một phạm vi nhất định chứ không có nhiều liên hệ thực tế. Trong các tiết dạy GDCD ở trường THCS nói chung đã có sử dụng di sản. Tuy nhiên, số bài có sử dụng di sản còn ít, nặng tính lí thuyết trong các bài dạy, kiến thức về di sản còn chung chung, mang tính hình thức, sơ sài, ít kiến thức thực tế. Phần bài tập chủ yếu là nhận biết, chưa tập trung phát triển năng lực của học sinh.Vì vậy việc sử dụng di sản trong dạy học môn GDCD chưa đạt kết quả cao. Ví dụ: Khi dạy bài 15: “Bảo vệ di sản văn hóa”- GDCD lớp 7. Giáo viên mới chỉ đơn thuần cho học sinh nắm được: Kiến thức: -Nêu được thế nào là di sản văn hóa. -Kể được tên một số di sản văn hóa của nước ta. -Hiểu được ý nghĩa của di sản văn hóa. -Kể được những quy định của pháp luật về bảo vệ di sản văn hóa. Kĩ năng: -Nhận biết được các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ di sản văn hóa; biết đấu tranh, ngăn chặn những hành vi đó hoặc báo cho những người có trách nhiệm biết để xử lí. -Tham gia các hoạt động giữ gìn, bảo vệ, tôn tạo các di sản văn hóa phù hợp với lứa tuổi. Thái độ: Tôn trọng và tự hào về các di sản văn hóa của quê hương, đất nước. 7 Với các tiết thực hành ngoại khoá các vấn đề địa phương Ninh Bình, người giáo viên mới chỉ cung cấp những kiến thức về văn hoá, lịch sử, con người Ninh Bình ở các bài riêng biệt. Giáo viên có tích hợp nhưng nội dung tích hợp còn hạn chế và chủ yếu là tích hợp “đơn môn” Ví dụ khi dạy bài: “Thiên nhiên Ninh Bình”- GDCD địa phương lớp 6. GV chỉ cần cung cấp đủ cho học sinh các kiến thức cơ bản, trọng tâm sau: Sự tươi đẹp, đa dạng của cảnh quan thiên và bản sắc văn hóa Ninh Bình. Sự đoàn kết giữa các dân tộc, giữa đồng bào tôn giáo và không theo tôn giáo. Những tiềm năng phát triển của quê hương: vị trí địa lý, rừng biển, công nghiệp, du lịch và dịch vụ. Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần giúp học sinh thấy được những nguy cơ mà tỉnh ta đang phải đối mặt như vấn đề môi trường bị ô nhiễm (đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước và không khí...); cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên; nạn khai thác gỗ trái phép, săn bắt động vật quý hiếm; ... Từ đó học sinh thấy yêu quê hương và ý thức được trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ, gìn giữ những nét đẹp của quê hương Ninh Bình. Nhưng học sinh mới chỉ nắm được kiến thức cơ bản, chưa có sự liên hệ kiến thức thực tế và chưa phát huy hết năng lực của người học. Nếu học sinh được học tại di sản thì học sinh sẽ hiểu kiến thức sâu rộng hơn, học sinh sẽ học tập tích cực, sáng tạo hơn. Qua thực tế các tiết dạy GDCD nói chung và các tiết có sử dụng di sản làm phương tiện dạy học, tôi nhận thấy dạy học trước đây có ưu điểm, nhược điểm sau: * Ưu điểm: Kiến thức giáo viên cung cấp cho học sinh đầy đủ, đơn giản nên học sinh dễ nắm kiến thức trọng tâm của bài. Đối với giáo viên: Dạy theo phương pháp này khiến cho giáo viên đỡ tốn thời gian, công sức tìm hiểu để soạn giáo án, thiết kế bài giảng, sưu tầm tư liệu phục vụ bài giảng. Bởi lẽ, chỉ cần dựa chủ yếu vào sách giáo khoa, sách giáo viên là đã đảm bảo được nội dung kiến thức, không phải tìm hiểu kiến thức ở các môn học khác để tìm ra mối liên hệ giữa chúng. Đối với học sinh: Việc học theo phương pháp này không đòi hỏi học sinh phải chuẩn bị, tìm hiểu nhiều về các kiến thức, vấn đề có liên quan đến nội dung bài học. Bởi lẽ nội dung bài học chủ yếu là dựa vào cái đã có sẵn, câu hỏi trong bài học cũng đơn giản, thường là học gì, hỏi nấy. Thậm chí, khi kiểm tra cũng chỉ dập khuôn trong những vấn đề đã học, trong bộ đề cương giáo viên đã hướng dẫn sẵn cho học sinh. Chính vì thế kiến thức của môn GDCD đối với học sinh là rất đơn giản, nhẹ nhàng, các em chỉ coi đây là môn phụ, không phải quan tâm, dành nhiều thời gian học. * Nhược điểm: Kiến thức mà học sinh nắm được đầy đủ nhưng không sâu, không có sự đa dạng, không có sự mở rộng và liên hệ thực tế nhiều. Dạy học sử dụng di sản trước đây chủ yếu cho học sinh tìm hiểu nội dung, không quan tâm đến hình thành năng lực gì cho học sinh nên việc giáo dục các em 8 hiểu biết sâu sắc về giá trị của di sản , giáo dục các em ý thức giữ gìn, bảo vệ các di sản chưa cao. Đặc biệt đối với các tiết học thực hành ngoại khoá các vấn đề địa phương Ninh Bình nếu chỉ dạy theo kiến thức SGK thì học sinh sẽ dễ nhàm chán vì kiến thức đã có ở các bài GDCD chính khoá, giờ chỉ áp dụng vào địa phương Ninh Bình. Không phát huy hết được năng lực sáng tạo, tích cực chủ động của người học. 2. Giải pháp mới cải tiến. Sử dụng di sản văn hóa Ninh Bình trong dạy học môn GDCD góp phần xóa bỏ được lối dạy học khép kín tách biệt nhà trường với thế giới bên ngoài, cô lập kiến thức, kỹ năng vốn có liên hệ với nhau, bổ sung cho nhau. Trong quá trình chỉ đạo và trực tiếp giảng dạy chúng tôi thấy cần phải sử dụng di sản văn hóa Ninh Bình một cách có hiệu quả. Kết hợp với phương pháp dạy học tích hợp, như tích hợp với các môn: văn học, lịch sử, địa lý, sinh học, âm nhạc, mỹ thuật.... nhằm phát triển các năng lực tự học, tự trải nghiệm và khám phá kiến thức của học sinh giúp học sinh vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tế. Đồng thời, giúp học sinh hiểu rộng hơn về quê hương Ninh Bình, hiểu về lịch sử, thiên nhiên, văn hóa, các vấn đề về khoa học, xã hội của tỉnh ta. Từ đó giáo dục học sinh lòng tự hào, yêu mến quê hương, thấy được nghĩa vụ, trách nhiệm của bản thân phải làm gì để đóng góp công sức xây dựng quê hương Ninh Bình ngày càng giàu đẹp. Vì vậy tôi đã tiến hành nghiên cứu, thực hiện theo một số giải pháp sau. 2.1. Quá trình và giải pháp thực hiện. 2.1.1. Tìm hiểu tổng quan về di sản văn hóa Ninh Bình Lịch sử - Địa lý Ninh Bình nằm ở vị trí ranh giới 3 khu vực địa lý: Tây Bắc, châu thổ sông Hồng và Bắc Trung Bộ. Phía bắc giáp với Hòa Bình, Hà Nam, phía đông giáp Nam Định qua sông Đáy, phía tây giáp Thanh Hóa, phía đông nam giáp biển (vịnh Bắc Bộ). Trung tâm tỉnh là thành phố Ninh Bình cách thủ đô Hà Nội 93 km về phía nam. Ninh Bình xưa thuộc bộ Quân Ninh, nước Văn Lang. Qua thời thuộc Hán, Lương, vùng đất này thuộc Giao Chỉ, thời thuộc Đường, bắt đầu hình thànhTrường Châu. Năm 968, vua Đinh Tiên Hoàng dẹp xong loạn 12 sứ quân lên ngôi hoàng đế đóng đô tại Hoa Lư và đổi tên gọi Trường Châu thành Trường An. Năm 1010, Lý Thái Tổ dời kinh đô về Thăng Long, Ninh Bình nằm trong phủ Trường An, sau đổi là châu Đại Hoàng vào cuối thế kỷ 12. Đời nhà Trần đổi thành lộ, rồi lại đổi thành trấn Thiên Quan. Đời Lê Thái Tông, Ninh Bình sáp nhập vào Thanh Hóa; đời vua Lê Thánh Tông trở thành thủ phủ trấn trấn Sơn Nam xong rồi lại thuộc về Thanh Hóa cho tới đời vua Minh Mạng nhà Nguyễn. Thời nhà Nguyễn, địa bàn Ninh Bình là 2 phủ Trường Yên và Thiên Quan. Năm 1831, Ninh Bình trở thành một trong số 13 tỉnh ở Bắc Kỳ với 6 huyện Yên Khánh, Nho Quan, Kim Sơn, Gia Khánh, Gia Viễn và Yên Mô, 9 thuộc Liên khu 3. Ngày 27 tháng 12 năm 1975, Ninh Bình hợp nhất với các tỉnh Nam Định và Hà Nam thành tỉnh Hà Nam Ninh rồi lại tái lập ngày 12 tháng 8 năm 1991. Ở vị trí điểm mút của cạnh đáy tam giác châu thổ sông Hồng, Ninh Bình bao gồm cả ba loại địa hình. Vùng đồi núi và bán sơn địa ở phía tây bắc có đỉnh Mây Bạc với độ cao 648 m là đỉnh núi cao nhất Ninh Bình. Vùng đồng bằng ven biển ở phía đông nam thuộc 2 huyện Kim Sơn và Yên Khánh. Xen giữa 2 vùng lớn là vùng chiêm trũng chuyển tiếp. Rừng ở Ninh Bình có đủ cả rừng sản xuất và rừng đặc dụng các loại. Có 4 khu rừng đặc dụng gồm rừng Cúc Phương, rừng môi trường Vân Long, rừng văn hóa lịch sử môi trường Hoa Lư và rừng phòng hộ ven biển Kim Sơn. Ninh Bình có bờ biển dài 18 km. Bờ biển Ninh Bình hàng năm được phù sa bồi đắp lấn ra trên 100m. Vùng ven biển và biển Ninh Bình đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Hiện 2 đảo thuộc Ninh Bình là đảo Cồn Nổi và Cồn Mờ. Văn hóa Ninh Bình nằm ở vùng giao thoa giữa các khu vực: Tây Bắc, đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ. Đặc điểm đó đã tạo ra một nền văn hóa Ninh Bìnhtương đối năng động, mang đặc trưng khác biệt trên nền tảng văn minh châu thổ sông Hồng. Đây là vùng đất phù sa cổ ven chân núi có con người cư trú từ rất sớm. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện trầm tích có xương răng đười ươi và các động vật trên cạn ở núi Ba (Tam Điệp) thuộc nền văn hóa Tràng Ansơ kỳ đồ đá cũ; động Người Xưa (Cúc Phương) và một số hang động ở Tam Điệp, Nho Quan có di chỉ cư trú của con người thời văn hoá Hoà Bình. Sau thời kỳ văn hoá Hoà Bình, vùng đồng bằng ven biển Ninh Bình là nơi định cư của con người thời đại đồ đá mới Việt Nam. Di chỉ Đồng Vườn (Yên Mô) đã được định niên đại muộn hơn di chỉ Gò Trũng. Cư dân cổ di chỉ Đồng Vườn đã phát triển lên cư dân cổ di chỉ Mán Bạc (Yên Thành, Yên Mô) ở giai đoạn văn hoá đồ đồng từ cuối Phùng Nguyên đến đầu Đồng Đậu. Vùng đất Ninh Bình là kinh đô Hoa Lư của Việt Nam thế kỷ X, mảnh đất gắn với sự nghiệp của 6 vị vua thuộc ba triều đại Đinh - Lê – Lý với các dấu ấn lịch sử: Thống nhất giang sơn, đánh Tống - dẹp Chiêm và phát tích quá trình định đô Hà Nội. Do ở vào vị trí chiến lược ra Bắc vào Nam, vùng đất này đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử oai hùng của dân tộc mà dấu tích lịch sử còn để lại trong các đình, chùa, đền, miếu, từng ngọn núi, con sông. Đây còn là vùng đất chiến lược để bảo vệ Thăng Long của triều đại Tây Sơn với phòng tuyến Tam Điệp, là căn cứ để nhà Trần 2 lần chiến thắng giặc Nguyên - Mông vớihành cung Vũ Lâm, đất dựng nghiệp của nhà Hậu Trần với đế đô ở Yên Mô... Thế kỷ XVI - XVII, đạo Thiên Chúa được truyền vào Ninh Bình, dần dần hình thành trung tâm Thiên Chúa Giáo Phát Diệm, nay là giáo phận Phát Diệm đặt tại Kim Sơn với 60% tổng số giáo dân toàn tỉnh. Bên cạnh văn hoá của cư dân Việt cổ, Ninh Bình còn có "văn hoá mới" của cư dân ven biển. Dấu ấn về biển tiến còn 10 in đậm trên đất Ninh Bình. Những địa danh cửa biển như: Phúc Thành, Đại An, Con Mèo Yên Mô, cửa Càn, cửa biển Thần Phù cùng với các con đê lịch sử như đê Hồng Đức, đê Hồng Lĩnh, đê Đường Quan, đê Hồng Ân, đê Hoành Trực, đê Văn Hải, đê Bình Minh I, đê Bình Minh II... Cho đến nay vùng đất Ninh Bình vẫn tiến ra biển mỗi năm gần 100 m. Ninh Bình là một tỉnh mở rộng không gian văn hoá Việt xuống biển Đông, đón nhận các luồng dân cư, các yếu tố văn hoá từ Bắc vào Nam, từ biển vào. Kinh tế biển đóng vai trò quan trọng nổi bật như nghề đánh bắt cá biển, nuôi tôm sú, tôm rảo, nuôi cua... Nếp sống của cư dân lấn biển mang tính chất động trong vùng văn hoá môi trường đất mở. Danh thắng Dãy núi đá vôi ngập nước tạo ra nhiều hang động kỳ thú như: Tam Cốc, Bích Động, động Vân Trình, động Tiên, động Thiên Hà, Tràng An, động Mã Tiên...Bích Động được mệnh danh là "Nam thiên đệ nhị động", Địch Lộng là "Nam thiên đệ tam động". Ở phía nam thành phố Ninh Bình có một quả núi giống hình một người thiếu nữ nằm ngửa nhìn trời gọi là núi Ngọc Mỹ Nhân. Một yếu tố khác vô cùng quan trọng, góp phần không nhỏ làm nên diện mạo đa dạng, phong phú của văn hoá Ninh Bình, đó là sự lưu lại dấu ấn văn hoá của các tao nhân mặc khách khi qua vùng sơn thanh thuỷ tú này. Các đế vương, công hầu, khanh tướng, danh nhân văn hoá lớn như Trương Hán Siêu, Trần Thái Tông, Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Tản Đà, Xuân Quỳnh về đây, xếp gương, đề bút, sông núi hoá thành thi ca. Nhân cách bác học và phẩm cách văn hoá lớn của các danh nhân đó đã thấm đẫm vào tầng văn hoá địa phương, được nhân dân tiếp thụ, sáng tạo, làm giàu thêm sắc thái văn hoá Ninh Bình. Danh nhân Vùng đất Ninh Bình còn là quê hương của nhiều danh nhân đất Việt tiêu biểu như: Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Trương Hán Siêu, Lý Quốc Sư, Vũ Duy Thanh, Lương Văn Tụy, Ninh Tốn, Nguyễn Bặc, Đinh Điền... Hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa ở Ninh Bình gắn liền với tín ngưỡng của vùng đất sinh Vua, sinh Thánh, sinh Thần thông qua các đền thờ Vua (đặc biệt là các Vua Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Trần Thái Tông, Quang Trung và Triệu Quang Phục với số lượng vài chục đền thờ mỗi vị); thờ Thánh (Nguyễn Minh Không và các tổ nghề); thờ Thần (phổ biến là các vị thần Thiên Tôn, thần Cao Sơn và thần Quý Minh trong không gian văn hóa Hoa Lư tứ trấn). Một số di tích tiêu biểu: Di tích lịch sử văn hóa Khu di tích lịch sử văn hoá Cố đô Hoa Lư được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt quan trọng với 47 di tích trong đó nổi bật là: Đền Vua Đinh Tiên Hoàng, lăng mộ Vua Đinh, đền thờ và lăng mộ Vua Lê Đại Hành, nhà bia tưởng niệm Vua Lý Thái Tổ, đền thờ Công chúa Phất Kim, đền thờ thần Quý Minh, phủ 11 Khống, phủ Đột, động Hoa Lư, núi Mã Yên, bia Câu Dền, sông Sào Khê, phủ Đông Vương, phủ Vườn Thiên, hệ thống chùa cổ Hoa Lư... Khu di tích lịch sử phòng tuyến Tam Điệp gắn liền với triều đại Tây Sơn có các địa danh đèo Ba Dội, Kẽm Đó, lũy Quang Trung, núi Cắm Gươm, núi Cắm Cờ, núi Chong Đèn, núi Hầu Vua, Vương Ngự, đền Dâu, đền Quán Cháo, luỹ Quèn Thờ, đền Quèn Thờ, động Trà Tu, hồ Yên Thắng, hồ Mừng,hồ Đoòng Đèn. Hệ thống các di tích thờ Vua Đinh Tiên Hoàng ở Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư nằm ở phía bắc tỉnh, gắn với các giai thoại tuổi thơ và sự nghiệp lên ngôi, lập đô kinh đô Hoa Lư của Vua. Hệ thống các đền thờ Vua Lê Đại Hành ở Hoa Lư, Tp Ninh Bình, Yên Mô, Kim Sơn phía nam tỉnh, gắn với sự kiện lập đô và những dòng sông nơi Vua đánh giặc đi qua. Hệ thống các đền thờ Vua Triệu Quang Phục ở Yên Khánh, Kim Sơn, Yên Mô gắn với sự kiện Vua tự vẫn ở cửa biển những vẫn hiển linh giúp đỡ nhân dân. Hệ thống các đền thờ danh nhân khác: Trương Hán Siêu, Nguyễn Công Trứ, đền Thái Vi, cửa Thần Phù,, v.v. Di tích lịch sử cách mạng: Khu căn cứ cách mạng Quỳnh Lưu, núi Non Nước, di tích chiến dịch Hà Nam Ninh.v.v. Di tích kiến trúc nghệ thuật Đền Vua Đinh Tiên Hoàng và Đền Vua Lê Đại Hành là những công trình kiến trúc nổi tiếng với nghệ thuật trạm khắc đá. Khu văn hóa tâm linh núi chùa Bái Đính mới với 5 toà lớn hội tụ nhiều kỷ lục châu Á và Việt Nam dọc theo sườn núi. Quần thể nhà thờ Phát Diệm với 9 nhà thờ có kiến trúc độc đáo kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại được ví như kinh đô công giáo của Việt Nam, là kỳ quan thiên chúa giáo hấp dẫn ở Ninh Bình. Di tích tâm linh nho giáo: chùa Bích Động, chùa Nhất Trụ, chùa Đồng Đắc, chùa Địch Lộng, chùa Bàn Long, chùa Bái Đính, chùa Kim Ngân, chùa Duyên Ninh, chùa Non Nước v.v. Quần thể kiến trúc nhà cổ Cố Viên Lầu với nhiều ngôi nhà cổ đặc trưng ở đồng bằng Bắc Bộ. Di tích thắng cảnh Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động với nhiều tuyến du thuyền trên sông và các điểm hang động, di tích lịch sử như Tam Cốc, chùa Bích Động, đền Thái Vi, động Thiên Hà... Khu du lịch sinh thái Tràng An với hệ thống rừng đặc dụng trên núi đá vôi, các hang động và hệ thống hồ, đầm. Các ngọn núi, hang động đẹp: núi Ngọc Mỹ Nhân, núi Non Nước, núi Kỳ Lân, động Địch Lộng, động Vân Trình, động Thiên Hà, động Mã Tiên, động Bích 12 Động, động Tam Giao, động Vái Giời, động Trà Tu, động Thiên Tôn, động Tiên, hang Sinh Dược, hang Múa... Các di tích khảo cổ Ninh Bình là địa bàn có nhiều di tích khảo cổ học thuộc các thời kỳ văn hóa Tràng An, Hòa Bình, Bắc Sơn, Đa Bút và Đông Sơn: Di tích núi Ba (Bắc Sơn - Tam Điệp) là nơi xuất lộ những khối trầm tích cổ sinh cách đây khoảng 30.000 năm thuộc nền văn hóa Tràng An cùng một số hang động có dấu ấn của cư dân văn hóa Hòa Bình cách ngày nay trên dưới 10.000 năm. Di tích Thung Lang (Nam Sơn - Tam Điệp) tại đây đã tìm thấy răng người Homo Erectus cách đây khoảng 30.000 năm thuộc nền văn hóa Tràng An cùng một số dấu ấn cho thấy có sự xuất hiện của cư dân văn hóa Hòa Bình cách đây trên dưới 10.000 năm. Di tích hang Đắng hay còn gọi là động Người Xưa thuộc vườn quốc gia Cúc Phương nơi đây là một di chỉ cư trú thuộc giai đoạn văn hóa Hòa Bìnhcách đây từ 7.000 đến 8.000 năm. Di tích hang Đáo (Đông Sơn - Tam Điệp) nơi đây có tìm thấy những công cụ đồ đá của cư dân văn hóa Hòa Bình. Di tích hang Yên Ngựa (Trung Sơn - Tam Điệp) xuất lộ dấu ấn cư dân văn hóa Hòa Bình. Di tích động Mã Tiên xuất lộ tầng vỏ nhuyễn thể cùng công cụ cuội thuộc Văn hóa Hòa Bình. Di tích hang Bói thuộc khu hang động Tràng An nằm giáp ranh giữa hai xã Trường Yên và Gia Sinh nơi đây có dấu ấn của cư dân cổ văn hóa Tràng Ansống cách đây từ 5.000 năm đến 30.000 năm. Di tích hang Bụt (Lạc Vân - Nho Quan) là địa điểm cư trú của con người cổ sống cách đây từ 2.000 đến 10.000 năm. Di tích hang Dẹ (Nam Sơn - Tam Điệp) có dấu ấn của cư dân văn hóa Hòa Bình ở giai đoạn sớm trên 10.000 năm. Di tích núi hang Sáo (Quang Sơn - Tam Điệp) với nhiều hang động và mái đá có dấu ấn của cư dân văn hóa Hòa Bình và cư dân văn hóa Đa Bút sống cách ngày nay từ 5.000 đến 10.000 năm. Di tích Mái đá Thung Bình (Gia Sinh - Gia Viễn) xuất lộ dấu tích cư dân văn hóa Hòa Bình. Cụm di tích hang ốc; Núi ốp (Yên Sơn - Tam Điệp) xuất lộ dấu ấn cư dân văn hóa Đa Bút và cư dân văn hóa Đông Sơn. Cụm di tích hang Mo; hang Cò; hang Trâu; hang Hũ Ngoài; hang Hũ Trong; mái đá Thung Bình (hang động Tràng An) có dấu ấn văn hóa Hòa Bình, văn hóa Tràng An và văn hóa Đa Bút. Di tích hang Khỉ (Đông Sơn - Tam Điệp) xuất lộ một số mảnh gốm cùng vỏ nhuyễn thể trên bề mặt nơi đây có dấu ấn văn hóa Đa Bút. 13 Di tích Đồng Vườn (Yên Thành - Yên Mô) là một di chỉ thuộc thời đại văn hóa Đa Bút. Đây là di chỉ cư trú ngoài trời ở Ninh Bình. Di tích hang Chợ Ghềnh hay còn gọi là hang Núi Một (Bắc Sơn - Tam Điệp) thuộc nền văn hóa Đông Sơn cách đây từ 2.000 đến 3.000 năm. Di tích núi Hai (Bắc Sơn - Tam Điệp) xuất lộ rất nhiều gốm và xương động vật thuộc nền văn hóa Đông Sơn cách đây khoảng 3.000 năm. Di tích Mán Bạc (Yên Thành - Yên Mô) là một làng của người cổ sống cách đây từ 3.000 đến 4.000 năm thuộc nền văn hóa Phùng Nguyên. Nơi đây con lưu giữ được nhiều di cốt của tiền nhân còn nguyên vẹn được các nhà nhân chủng học hết sức chú ý. Di tích mái đá Hang Chợ (Ninh Hải - Hoa Lư) thuộc quần thể hang động Tràng An có tầng văn hóa Hòa Bình cách đây trên 10.000 năm. Di sản thế giới Quần thể danh thắng Tràng An là một địa danh du lịch tổng hợp gồm các di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới đã được UNESCO công nhận ở Ninh Bình, Việt Nam. Nhiều di tích danh thắng nơi đây đã được Chính phủ Việt Nam xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt quan trọng như Khu du lịch sinh thái Tràng An, khu du lịch Tam Cốc - Bích Động, chùa Bái Đính, cố đô Hoa Lư... Liên kết giữa các khu du lịch này là khu rừng đặc dụng Hoa Lư trên núi đá vôi và hệ thống sông, hồ, đầm với diện tích khoảng 12.000 ha. Quần thể danh thắng Tràng An nằm ở khu vực ranh giới giữa huyện Hoa Lư với các huyện Gia Viễn, Nho Quan, thành phố Tam Điệp và thành phố Ninh Bình. Về mặt hành chính, Tràng An nằm trên 12 xã: Trường Yên, Ninh Hải, Ninh Hòa, Ninh Xuân, Ninh Vân (Hoa Lư); Ninh Nhất, phường Tân Thành (Tp Ninh Bình); Gia Sinh (Gia Viễn); Yên Bình, Yên Sơn (Tam Điệp) và Sơn Hà, Sơn Lai, (Nho Quan) nhưng Tràng An không bao trùm hoàn toàn lên 1 xã nào. Vùng lõi Tràng An có diện tích hơn 4.000 ha, là vùng bảo vệ đặc biệt của danh thắng. Vùng bảo vệ đặc biệt này nằm trọn trong quy hoạch khu du lịch Tràng An với diện tích 12.000 ha. Quần thể danh thắng Tràng An nằm gần các quốc lộ 1A, QL38B, QL12B và trong tứ giác nước được giới hạn bởi các sông:sông Hoàng Long ở phía Bắc; sông Chanh ở phía Đông; sông Hệ ở phía Nam và sông Bến Đang ở phía Tây. Lễ hội – Làng nghề. Ninh Bình là vùng đất phong phú các lễ hội văn hóa đặc sắc như Lễ hội cố đô Hoa Lư, lễ hội chùa Bái Đính, lễ hội đền Nguyễn Công Trứ, lễ hội đền Thái Vi... Các lễ hội khác: Lễ hội Báo bản làng Nộn Khê, lễ hội Yên Cư, hội thôn Tập Minh, lễ hội động Hoa Lư, đền Thánh Nguyễn, đền Dâu, hội vật Yên Vệ, lễ hội đền Trần Ninh Bình... Ninh Bình là đất tổ của nghệ thuật hát Chèo, là quê hương các làn điệu hát xẩm, ca trù và của nhiều làng nghề truyền thống như nghề điêu 14 khắc đá Ninh Vân - Hệ Dưỡng, Xuân Vũ, nghề mộc Phúc Lộc, nghề thêu ren Văn Lâm, nghề chiếu cói ở Kim Sơn... Theo thống kê, Ninh Bình có 443 lễ hội truyền thống, trong đó quản lý cấp tỉnh 2 lễ hội, cấp huyện 13 lễ hội, cấp xã 428 lễ hội. Các lễ hội văn hóa ở Ninh Bình chủ yếu diễn ra ở mùa xuân, trừ số ít các lễ hội tưởng niệm ngày mất của các vị danh nhân. Di tích cấp quốc gia Núi Non Nước - Thanh Bình - Tp Ninh Bình Núi Cánh Diều - Thanh Bình - Tp Ninh Bình Quần thể hang động Tràng An - Tp Ninh Bình, Hoa Lư, Gia Viễn Chùa A Nậu - phường Ninh Khánh - Tp Ninh Bình Chùa Đẩu Long - Tân Thành - Tp Ninh Bình Động Thiên Tôn - Thiên Tôn - Hoa Lư Khu vực núi đá Trường Yên và đền Đinh - Lê Hang Muối - xã Trường Yên - huyện Hoa Lư Hang Quàn - xã Trường Yên - huyện Hoa Lư Núi Chùa Am - xã Trường Yên - huyện Hoa Lư Chùa Trung Trữ - xã Ninh Giang - Hoa Lư Đền Cả La Mai - xã Ninh Giang - Hoa Lư Chùa Phong Phú - xã Ninh Giang - Hoa Lư Đền Đông Hội - xã Ninh An - Hoa Lư Nhà thờ họ Đào - xã Ninh An - Hoa Lư Tam Cốc - xã Ninh Hải - huyện Hoa Lư Đền Thái Vi - xã Ninh Hải - Hoa Lư Động và chùa Bích Động - Ninh Hải - Hoa Lư Đền Kê Thượng, Kê Hạ, Miếu Sơn - Ninh Vân - Hoa Lư Chùa và động Bàn Long - Ninh Xuân - huyện Hoa Lư Chùa và động Hoa Sơn - Ninh Hoà - Hoa Lư Đình Ngô Khê Hạ - xã Ninh Hoà - huyện Hoa Lư Chùa Nhất Trụ - xã Trường Yên - huyện Hoa Lư Động Am Tiên - xã Trường Yên - huyện Hoa Lư Đình Yên Trạch - xã Trường Yên - huyện Hoa Lư Chùa Kim Ngân - xã Trường Yên - huyện Hoa Lư Phủ Đông Vương - xã Trường Yên - huyện Hoa Lư Phủ Vườn Thiên - xã Trường Yên - huyện Hoa Lư Đền thờ Công chúa Phất Kim - Trường Yên - Hoa Lư Bia Cửa Đông - Trường Yên - huyện Hoa Lư Lăng vua Đinh và lăng vua Lê - Trường Yên - Hoa Lư Đền Thánh Nguyễn - Gia Tiến, Gia Thắng - Gia Viễn 15 Chùa và động Địch Lộng - Gia Thanh - Gia Viễn Đền thờ Đinh Bộ Lĩnh - Gia Phương - Gia Viễn Động Hoa Lư - xã Gia Hưng - huyện Gia Viễn Núi chùa Bái Đính - xã Gia Sinh - huyện Gia Viễn Đình Trùng Hạ - xã Gia Tân - huyện Gia Viễn Đình Trùng Thượng - xã Gia Tân - huyện Gia Viễn Chùa Lỗi Sơn - xã Gia Phong - huyện Gia Viễn Chùa Lạc Khoái - Gia Lạc - Gia Viễn Nhà thờ và mộ Nguyễn Bặc - Gia Phương - Gia Viễn Nhà thờ Đinh Huy Đạo - xã Gia Phong - huyện Gia Viễn Khu vực núi Kiếp Lĩnh - xã Gia Tiến - huyện Gia Viễn Đình Vân Thị - xã Gia Tân - huyện Gia Viễn Những địa điểm của khu căn cứ cách mạng Quỳnh Lưu Dốc Giang - xã Phú Long - huyện Nho Quan Thung Lóng - xã Phú Long - huyện Nho Quan Khu Trũng, Đồng Báng - xã Sơn Lai - huyện Nho Quan Đền Sầy - xã Sơn Thành - huyện Nho Quan Đình Mỹ Hạ - xã Gia Thuỷ - huyện Nho Quan Đình Ác - xã Sơn Thành - huyện Nho Quan Phòng tuyến Tam Điệp - Tam Điệp Đền Năn - xã Yên Thắng - huyện Yên Mô Đền Bình Hải - xã Yên Nhân - huyện Yên Mô Nhà thờ Vũ Phạm Khải, đền họ Vũ - Yên Mạc - Yên Mô Đền thờ Ninh Tốn - xã Yên Mỹ - huyện Yên Mô Đền, chùa Khương Dụ - xã Yên Phong - huyện Yên Mô Đền Quảng Phúc - xã Yên Phong - huyện Yên Mô Đền La - xã Yên Thành - huyện Yên Mô Chùa Tháp - xã Khánh Thịnh - huyện Yên Mô Đình Phù Sa - xã Yên Lâm - huyện Yên Mô Đền Trung Lận Khê - xã Khánh Thượng - Yên Mô Đền thờ Thái Phó - Lê Niệm - Yên Mạc - Yên Mô Nhà thờ và mộ Vũ Duy Thanh - Khánh Hải - Yên Khánh Đền Văn Giáp - xã Khánh An - huyện Yên Khánh Đền Thượng, chùa Phúc Long - Khánh Phú - Yên Khánh Đình thôn Đỗ - xã Khánh Nhạc - huyện Yên Khánh Đền chùa thôn Năm - xã Khánh Tiên - huyện Yên Khánh Chùa Dầu - xã Khánh Hoà - huyện Yên Khánh Đền Kiến Ốc - xã Khánh Trung - huyện Yên Khánh Đền Tiên Viên, chùa Kim Rong - Khánh Lợi - Yên Khánh Chùa Phúc Nhạc - xã Khánh Nhạc - huyện Yên Khánh 16 Đền Tam Thánh và chùa Yên Lữ - Khánh An - Yên Khánh Đền thờ Nguyễn Công Trứ - Quang Thiện - Kim Sơn Nhà thờ đá Phát Diệm - Lưu Phương - Kim Sơn Đình Thượng Kiệm - xã Thượng Kiệm - Kim Sơn Đền Chất Thành - xã Chất Bình - Kim Sơn Di tích cấp tỉnh Ninh Bình hiện có 210 di tích cấp tỉnh. Dưới đây là danh sách chưa đầy đủ các di tích cấp tỉnh ở Ninh Bình: Thành phố Ninh Bình 1. Đình Cam Giá- xã Ninh Khánh. 2. Đền Đồng Bến- phường Đông Thành. 3. Đền thờ Quý Minh Đại Vương và hang Đền - xã Ninh Nhất. 4. Đền Thượng- Thôn Thiện Trạo- phường Ninh Sơn. 5. Nhà thờ quận công Phạm Đức Thành - phường Nam Bình. 6. Đền làng Phương Đình - phường Ninh Sơn. 7. Nhà thờ Nguyễn Tử Tương- thôn Đề Lộc, xã Ninh Nhất. 8. Nhà thờ Lê Đạo Trung- phố Phúc Lộc, phường Ninh Phong. 9. Đền thờ Đức Thánh Trần- tại thôn Hoàng Sơn, xã Ninh Tiến. 10. chùa Yên Khoái - thôn Yên Khoái -xã Ninh Phúc. Huyện Hoa Lư 1. Đình Các - xã Ninh Hải. 2. Đền làng La Phù - xã Ninh Khang. 3. Đền làng Đa Giá - thị trấn Thiên Tôn. 4. Đình làng Yên Thành - xã Trường Yên. 5. Đình Sen thôn Hành Cung - xã Ninh Thắng. 6. Đền và miếu làng Bãi Trữ- xã Ninh Giang. 7. Đền và chùa Khả Lương - xã Ninh Thắng. Huyện Gia Viễn 1. Đình và chùa Giá Thượng - xã Gia Hoà. 2. Chùa Phúc Hưng và núi Hang Toàn - xã Gia Minh. 3. Chùa Hưng Quốc - xã Gia Hưng. 4. Chùa Linh Viên - xã Gia Hưng. 17 5. Đình Đông Khê- xã Gia Trung. 6. Đình, đền chùa Tập Ninh - xã Gia Vân. 7. Đền Thượng - xã Gia Phú. 8. Đình Núi Thiệu, xã Gia Tân. 9. Đền làng Đoan Bình- xã Gia Phú. 10. Đình Trai- xã Gia Hưng. 11. Đền và chùa Me - thị trấn Me. 12. Đền Vò làng Lỗi Sơn - xã Gia Phong. 13. Đình làng Đồng Xuân- xã Gia Xuân. 14. Đình và chùa Liên Huy- xã Gia Thịnh. 15. Đình Kính Chúc - xã Gia Phú. 16. Đình thôn Ngô Đồng - xã Gia Phú. 17. Nhà thờ Lê Khả Lãng- xã Gia Vân. 18. Đình Vũ Nhì làng Vũ Nhì - xã Gia Trấn. 19. Miếu Quan Nghè- tại xã Gia Tân. Huyện Nho Quan 1. Đền làng Kho- xã Phú Lộc. 2. Đình Mống - xã Yên Quang. 3. Đình Lá - xã Yên Quang. 4. Chùa Duy Khánh - xã Thanh Lạc. 5. Đình làng Bái Ngọc - xã Phú Lộc. 6. Phủ Đồi Ngang - xã Phú Long. 7. Đình và chùa làng Chàng- xã Sơn Lai. 8. Đình Hương Thịnh, làng Chạ- xã Phú Lộc. 9. Đền Thượng, đền Hạ thôn Thái Sơn- xã Sơn Lai. 10. Đình Tân Phong, thôn Sào Thượng - xã Lạng Phong. 11. Đình làng Vạn Sào - xã Lạng Phong. 12. Đình, phủ và chùa làng Đồi- xã Quỳnh Lưu. 13. Đình và chùa làng Quỳnh- xã Quỳnh Lưu. 14. Đình Hàng Xã- xã Thanh Lạc. Thành phố Tam Điệp 18 1. Đền Dâu, phường Nam Sơn. 2. Đền Quán Cháo, phường Bắc Sơn. 3. Đình làng Quang Hiển, phường Yên Bình. 4. Chùa Quang Sơn, xã Quang Sơn. 5. Đền Mẫu Thượng, xã Quang Sơn. 6. Đền Thượng, phường Trung Sơn. Huyện Yên Mô 1. Đình làng Nộn Khê - xã Yên Từ. 2. Đền Phụng Ban- xã Yên Hưng. 3. Đền Trung Thạch Lỗi- xã Khánh Dương. 4. Đền làng Yên Mô Càn- xã Yên Mạc. 5. Đền Ninh Thượng- xã Yên Thịnh. 6. Đình Thượng làng Yên Tế- xã Yên Đồng. 7. Cụm di tích Đền Vua Đôi thôn Cổ Đà- xã Yên Phú. 8. Đền và chùa Hoàng Kim- xã Yên Phong. 9. Đền Vân Mộng- xã Yên Phong. 10. Đình làng Trinh Nữ- xã Yên Hoà. 11. Chùa Hang làng Phượng Trì - xã Yên Mạc. 12. Miếu Quảng Từ - xã Yên Từ. 13. Đình Trung Sơn - xã Mai Sơn. 14. Chùa Cổ Linh thôn Yên Liêu Thượng- xã Khánh Thịnh. 15. Đình làng Tiên Hưng - xã Yên Phú. 16. Đền Thượng Tịch Toàn - xã Khánh Thượng. 17. Đình Lôi Thanh - xã Khánh Thượng. 18. Đền núi Ngự Hầu - xã Yên Thắng. 19. Đền thờ Trần Nhật Duật - xã Yên Thắng. 20. Đền Nhân Phẩm - xã Yên Lâm. 21. Đình Hậu Thôn - xã Yên Thái. Huyện Yên Khánh 1. Đền Đôi – xã Khánh Thuỷ. 2. Đền Đông Bình Hoà- xã Khánh Hồng. 19 3. Đền Duyên Phúc - xã Khánh Hồng. 4. Đền và chùa thôn Tân- xã Khánh Hội. 5. Đền Quyết Trung- xã Khánh Trung. 6. Đền Thánh Tứ- xã Khánh Mậu. 7. Đền Lưu Mỹ- xã Khánh Vân. 8. Đình Tiên Tiến- xã Khánh Tiên. 9. Đền Thánh Cả và đền Đức Ba- xã Khánh An. 10. Nhà thờ và mộ Bùi Thiện Tính- xã Khánh Cư. 11. Đền Đông Thổ Mật- xã Khánh Hồng. 12. Nhà thờ Đỗ Thế Diệu- xã Khánh Hồng. 13. Đền thôn Ba- xã Khánh Hồng. 14. Đền thôn Đồng- xã Khánh Nhạc. 15. Đền thôn Lê- xã Khánh Phú. 16. Đền thờ Phạm Văn Ngoạn- xã Khánh Cường. 17. Đền thôn Phạm- xã Khánh Nhạc. 18. Nhà thờ Thiên Hộ Giản- xã Khánh Thiện. 19. Đền Thánh Cả, làng Yên Cư- xã Khánh Cư. 20. Đình làng Xuân Dương- xã Khánh Cư. 21. Nhà thờ tiến sỹ Đinh Đình Thụy, thôn Yên Khê Thượng, xã Khánh Cư. 22. Đền thờ Triệu Việt Vương, thôn Khu Đông, thị trấn Yên Ninh. 23. Đền Nội- thị trấn Yên Ninh. 24. Nhà thờ Nguyễn Văn Đức- thôn Phú Sơn, xã Khánh Phú. 25. Đình làng Thượng và chùa Đống Tháp- xã Khánh Lợi Huyện Kim Sơn 1. Miếu Thủ Trung- xã Kim Chính. 2. Đền Trì Chính- xã Kim Chính. 3. Nhà thờ Vũ Văn Kế- xã Như Hoà. 4. Đền Hành Khiển - xã Như Hoà. 5. Đền, chùa Tuy Định- xã Định Hoá. 6. Đền làng Yên Thổ- xã Định Hoá. 7. Đền Lưu Phương- xã Lưu Phương. 20
- Xem thêm -