Skkn skkn mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4 qua phân môn luyện từ và câu

  • Số trang: 34 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 29 |
  • Lượt tải: 1
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

Phòng giáo duc-Đào tạo Mĩ Đức,thành phố Hà Nội . Trường tiểu học Mĩ Thành. Sáng kiến kinh nghiệm lớp 4: Môn Tiếng Việt. Đề tài: MỞ RỘNG VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP 4 QUA PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU Họ và tên:Nguyễn Thị Thu Hiền. Công việc được giao:Chủ tịch công đoàn - Dạy lớp 4. Trình độ chuyên môn: Đại học 1 MỤC LỤC PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài 2.Đối tượng nhiệm vụ nghiên cứu 3.Đối tượng phạm vi nghiên cứu 4.Phương pháp nghiên cứu PHẦN 2:NỘI DUNG Chương I: Những vấn đề lí luận cơ sở cho vịêc dạy mở rộng vốn từ 1.1.cơ sở ngôn ngữ học và việc dạy tiếng việt ở trường tiêủ học 1.2.Từ vựng ngữ nghĩa học và ứng dụng vào daỵ mở rộng vốn từ ở tiểu học 1.3.Từ của tiếng việt và ứng dụng vào dạy mở rộng vốn từ ở tiểu học 1.4.Những vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Việt Chương II: Cơ sở thực tiễn của việc dạy mở rông vốn từ qua phân môn luyện từ và câu ở lớp 4 2.1 Mục tiêu của môn tiếng việt ở lớp 4 2.2 Yêu cầu về kiến thức và kĩ năng 2.3 Nội dung giảng dạy mở rộng vố từ cho học sinh lớp 4 2.4 Phương pháp dạy mở rông vốn từ cho học sinh tiểu học 2.5 Các phương pháp dạy học từ ngữ 2.6 Biện pháp quy trình dạy mở rộng vốn từ cho học sih lớp 4 trong phân môn luyện từ và câu 2.7.Thực trạng dạy học mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4 qua phân môn luyện từ và câu Chương III : Một số biện pháp dạy học mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4 Chương IV : Dạy thực nghiệm 1. Miêu tả thực nghiệm Mục đích thực nghiệm Tổ chức thực nghiệm Giáo án thực nghiệm 2. Kiểm tra đánh giá sau thực nghiệm PHẦN 3: KẾT LUẬN 1.Nội dung chương trình dạy mở rộng vốn từ trong SGK tiếng việt 4 mới có nhiều đổi mới. 2.Một số ý kiến đề xuất . 2 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài : Trong các môn học ở bậc tiểu học,Tiếng việt là môn học có vai trò hết sức quan trọng .Các kiến thức kĩ năng của môn học tiếng việt được ứng dụng nhiều trong đời sống.Với tư cách là môn học công cụ ,môn tiếng việt ở tiểu học bước đầu dạy cho học sinh cách nhận biết được những tri thức sơ giản, cần thiết bao gồm ngữ âm,chữ viết từ vựng,ngữ nghĩa,ngữ pháp ,chính tả.Trên cơ sở đó,rèn luyện các kĩ năng ngôn ngữ :nghe,nói, đọc, viết nhằm giúp học sinh sử dụng tiếng việt có hiệu quả trong suy nghĩ và trong giao tiếp Tiếng Việt giúp học sinh có năng lực sử dụng từ câu nói viết thành câu để nắm bắt ,tiếp nhận kho tàng văn hóa tri thức của nhân loại,rèn luyện cho các em năng lực tư duy phương pháp suy nghĩ giáo dục tư tưởng tình cảm trong sáng lành mạnh góp phần pháp triển trí thông minh,phát huy tính tích cực hoạt động,hình thành và pháp triển ở học sinh những phẩm chất tốt đẹp.Nói cách khác,để học lên lớp trên và phát triển toàn diện . Trong hệ thống ngôn ngữ thì từ có vai trò đặc biệt quan trọng.Từ là đơn vị trung tam của ngôn ngữ.Do đó ngoài việc giúp học sinh biết độc ,biết viết còn phải cung cấp cho học sinh vốn từ ngữ làm giầu vốn từ ngữ cho học sinh để học sinh có vốn từ ngày càng phong phú ,do đó khả năng lựa chọn sử dụng tri thức của học sinh ngày càng lớn,càng chính sác và đặc sắc . Chính vì vậy mà việc dạy mở mang vốn từ cho học sinh ở tiểu học có vị trí,tầm quan trọng rất lớn.Nó góp phần rèn luyện cho hoc sinh năng lực sử dụng tiếng mẹ đẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho các em giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày và học tập các môn khác của môn tiếng việt,cung cấp cho các em một hệ thống các kiến thức kĩ năng mở rộng vốn từ tạo điều kiện cho các em biết lựa chọn và sử dụng từ một cách chính xác,hay để thể hiện các kiến thứic,rèn luyện các kĩ năng một cách linh hoạt thực tế và có hệ thông hơn .Chính những từ ngữ mà các em sử dụng trong văn bản nói viết có được từ phân môn tập làm văn,các báo cáo,thuyết trình… đã thể hiện những hiểu biết thực tế,những kĩ năng sử dụng từ mà các em 3 đã được học ở việc dạy mở rông vốn từ trong phân môn luyện từ và câu và các môn học khác. Tuy nhiên phải thừa nhận rằng thưc tế hiện nay việc dạy các môn học nói chung và việc dạy mở rộng vốn từ nói riêng còn có rất nhiều hạn chế và chưa đạt kết quả cao như mong muốn. Lí do của hiện tượng này là do đa số giáo viên chưa định hình được phương pháp giảng dạy cũng như dạy thế nào cho phù hợp với mục đích,nội dung của bài học đề ra. Mặt khác học sinh tiểu học là đối tượng mà năng lực tư duy còn hạn chế,vốn từ của cá em còn nghèo nàn,kĩ năng sử dụng ngôn ngữ còn chưa cao .Đồng thời do việc thay đổi nội dung chương trình SGK khiến cho giáo viên còn lúng túng trong việc nắm bắt nội dung ,phương pháp dạy của giáo viên theo SGK mới .Do đó phải tìm hiểu làm sao nâng cao được chất luơng dạy học và mở rộng vốn từ cho học sinh ở tiểu học nói chung và lớp 4 nói riêng . Đây là vấn đề trăn trở của giáo viên dạy tiểu học .Chính bởi vì lí do tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài để dạy mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4 qua phân môn luyện từ và câu. 2. Mục đích ,nhiệm vụ nghiên cứu : Tìm hiểu nội dung,phương pháp dạy mở rộng vốn từ lớp 4 . Tìm hiểu vấn đề đổi mới phương pháp dạy học tiếng việt và vận dụng để soạn giáo án thực nghiệm .Qua đó ,nêu được phương pháp cần thiết cần lưu ý khi dạy mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4 theo nội dung chương trình SGK mới . 3.Đối tượng phạm vi nghiên cứu : 3.1 Sách giáo khoa và sách giáo viên 4. 3.2 Phân môn luyện từ và câu trong chương trình tiếng việt 4. 3.3 Phạm vi nghiên cứu:Dạng bài mở rộngvốn từ giúp học sinh hiểu các từ thao chủ điểm.Biết phân loại từ ngữ và luyện sử dụng từ ngữ. 4. Phương pháp nhiên cứu : 4.1 Tra cứu tài liệu . Phương pháp dạy học Tiếng việt 1,tiếng việt 2,giáo trình Tiếng việt 1,sách giáo khoa ,sách giáo viên lớp 4. 4.2 Phuơng pháp khảo sát thực tế: 4 Dự giờ mở rộng vốn từ lớp 2, 3, 4 để tìm hiểu thực tế dạy mở rộng vốn từ ở các khối lớp này. 4.3-Phương pháp phân tích : Phân tích thực trạng dạ mở rộng vốn từ ở các khối lớp, Phân tích tìm hiểu nội dung phương pháp dạy mở rộng vốn từ qua sách tiếng việt và sách giáo viên. 4.4-Phương pháp thực nghiệm : Soạn giáo án và dạy thực nghiệm ở lớp 4A Trường tiểu học Mỹ Thành – Mỹ Đức – Hà Nội. B-PHẦN THỨ HAI CHƯƠNG I : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LÀM CƠ SỞ CHO VIỆC DẠY MỞ RỘNG VỐN TỪ : 1.1-Cơ sở ngôn ngữ học và việc dạy Tiếng việt ở Trường Tiểu học: Ngôn ngữ là hệ thống các đơn vị ( bao gồm các âm vị, hình vị, từ, câu) và những quy tắc ngôn ngữ được phản ánh trong ý thức của cộng đồng và trừu tượng hoá khỏi bất kỳ một tư tưởng, một cảm xúc và ước muốn cụ thể nào, có thể dễ dàng nhận thận thấy ngôn ngữ học hay nói cách khác ngôn ngữ học là một khoa học về ngôn ngữ . Ngôn ngữ có thể tồn tại ở hai trạng thái , trạng thái động và trạng thái tĩnh. Trạng thái tĩnh là trạng thái tồn tại của ngôn ngữ trong tiềm năng ngôn ngữ của mỗi người. Trạng thái động của ngôn ngữ chính là trạng thái khi ngôn ngữ được sử dụng được hiện thực hoá trong lời nói và lời nói chính là ngôn ngữ đang hành chức, đang được dùng để giao tiếp giữa người với người. Chính vì vai trò quan trọng của ngôn ngữ nên ngôn ngữ học cũng chiếm một vị trí xứng đáng trong nhà trường từ cấp Tiểu học đến cấp Đại học. Trong nhà trường của ta hiện nay những kiến thức về ngôn ngữ được cung cấp trước hết thông qua môn Tiếng việt là môn học tiếng mẹ đẻ và sau đó ở môn học Tiếng nước ngoài. Môn Tiếng việt với tư cách là môn học về ngôn ngữ dân tộc hướng vào các mục tiêu cơ bản sau. Cung cấp cho hcọ sinh tri thức nôn ngữ học về Tiếng việt, những tri thức về hệ thống, cấu trúc và những tri thức về hoạt động ngôn ngữ. 5 -Rèn luyện các kỹ năng sử dụng Tiếng việt bao hàm, các phương diện sản sinh lời nói và lĩnh hội lời nói. -Rèn luyện nâng cao năng lực tư duy và kảh năng thẩm mỹ cho học sinh. Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ bao hàm nhiều phương diện , phương diện sản sinh lời nói ( hoặc bài viết). Việc sản sinh lời nói lại có thể tiến hành dưới hai dạng nói hoặc viết còn việc lĩnh hội cũng có thể diễn ra ở hai dạng nghe và đọc, nói và viết cần đạt đến trình độ thông thạo, còn nghe và đọc cần đạt trình độ thông hiểu, cho nên môn Tiếng việt có mục tiêu rèn luyện và nâng cao kỹ năng sử dụng Tiếng việt cho học sinh cả ở bốn phương diện : Nói, Viết, Nghe, Đọc. Chính mục tiêu này của môn Tiếng Việt gắn môn học này với chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ, chức năng giao tiếp. Dạy và học Tiếng việt là nhằm sử dụng dược ngày một tốt hơn tiếng mẹ đẻ của chính mình vào những hoạt động giao tiếp đa dạng trong xã hội, với ý nghĩa đó, dạy tiếng theo quan điểm giao tiếp trở thành một nguyên tắc chủ đạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Dạy tiếng theo hướng giao tiếp đã kéo theo sự ra đời của lý thuyết hoạt động lời nói ( phát triển ngôn ngữ như là hình thành, phát triển mọi hoạt động) quan điểm hoạt động lời nói đưa hệ thống bài tập dạy tiếng lên hàng đầu. Hệ thống bài tập phải phản ánh được một cách bao quát cơ chế lĩnh hội và sinh sản lời nói tinh thần cơ bản của hệ thống bài tập dạy tiếng ở Tiểu học hiện nay là : chuyển hoạt dộng lời nói của học sinh thành những thao tác vật chất ( dùng các kỹ hiệu để vẽ, tô, nối, đánh dấu...) với sự hỗ trợ của kênh hình các bài tập được xây dựng theo tinh thần trắc nghiệm như : điền, thêm, đối chiếu, cặp đối, lựa chọn kết quả đúng. Điều đó được thể hiểnõ nhất trong hệ thống các bài tập luyện từ và câu ở Tiểu học. Đặc biệt được thể hiện rõ nét nội dung các bài dạy mở rộng vốn từ ở các lớp Tiểu học. Ví dụ : *Kênh hình : Thường đưa ra các bức tranh minh hoạ, nội dung cần dạy với các yêu cầu sau : 6 -Điền các trò chơi, đồ chơi được tả trong các bức tranh sau : ( sách Tiếng việt lớp 4 tập 1 tranh tết). *Dùng ký hiệu : Bài : Mở rộng vốn từ : cái đẹp (Lớp 4 – tuần 23) Chọn nghĩa thích hợp với mỗi từ ngữ sau : -Phẩm chất quý hơn vẻ đẹp bên ngoài. -Tốt gỗ hơn tốt nước sơn -Cái nết đánh chết cái đẹp. -Hình thức thường thống nhất với nội -Người thanh tiếng nói cũng thoát. dung -Chuông kêu khẽ đánh bên thành cũng kêu. -Trông lợn mà bắt hình dong. Con lợn có béo cỗ lòng mới ngon. Những đổi mới này đã góp phần khẳng định tư cách vị trí của môn học Tiếng việt trong nhà trường hiện nay. Những hiểu biết về bản chất của ngôn ngữ các nguyên tắc, nội dung và phương pháp dạy học Tiếng việt. Ví dụ : Từ bản chất tín hiệu của ngôn ngữ dạy tiếng phải làm cho học sinh nắm được giá trị cua từng yếu tố của ngôn ngữ, tính hệ thống của ngôn ngữ là cơ sở để xây dựng các bài tập yêu cầu học sinh tìm các yếu tố khi biết một yếu tố khác và quan hệ hoặc tìm quan hệ khi biết các yếu tố. nỗ cũng là cơ sơ để cung cấp từ theo chủ đề ở Tiểu học. 1.2-Từ vựng - ngữ nghĩa học và ứng dụng vào dạy mở rộng vốn từ ở Tiểu học : 1.2.1-Từ trong ngôn ngữ : Từ là đơn vị cơ bản, đơn vị trung tâm của ngôn ngữ. Đây là đặc trưng có tính chất bao chùm, đặc trưng nổi bật nhất của từ. Bởi vì từ được sử dụng để tạo ra câu nói, câu được sử dụng trong giao tiếp, tư duy. 7 Như vậy : Nếu không có từ thì không có các loại ngôn ngữ, từ là đơn vị tồn tại hiển nhiên và mang tính chất có sẵn. Điều này biểu hiện ở chỗ hầu như người bản ngữ nào cũng cảm nhận được tự tồn tại của từ trong tiếng mẹ đẻ của mình. 1.2.2-Từ vựng – vai trò của từ vựng trong ngôn ngữ : Tập hợp các từ và các đơn vị tương đương với từ ta được từ vựng của một ngôn ngữ. Đơn vị từ vựng gồm các từ như (nhà, cây, đi, chạy, tốt xấu, mặt trời, xe đạp... của Tiếng việt) và các đơn vị tương đương từ còn gọi là các cụm từ cố định như ( các thành ngữ, quán ngữ). Ví dụ : Một số cụm từ cố định được giới thiệu trong sách giáo khoa Tiếng việt Tiểu học. Chôn rau cắt rốn, mưa thuận gió hoà, chân cứng đá mềm, chân lấm tay bùn, đồng chua nước mặn,hai sương một nắng, lên thác xuống ghềnh, môi hở răng lạnh, thẳng cánh cò bay... Hệ thống từ vựng là sự tập hợp một cách có hệ thống các đơn vị từ vựng là sự tập hợp một các có hệ thống các đơn vị từ vựng nói trên. Hệ thống từ vựng cũng có tính cấp bậc, tầng bậc. Cụ thể, từ vựng của một ngôn ngữ là một hệ thống lớn, bao hàm trong lòng nó những hệ thống nhỏ thuộc các tầng, cấp bậc khác nhau. Ví dụ : Trong sách giáo khoa Tiếng việt ở phân môn LTVC phần mở rộng vốn từ, một trong những chủ đề từ ngữ được dạy cho học sinh là chủ đề “Du lịch, thám hiểm” (Sách giáo khoa – Tiếng việt 4 – Tập 2). Hệ thống từ ngữ này lại bao hàm những hệ thống nhỏ hơn như : -Hệ thống nhỏ 1 : Các từ chỉ đồ dùng cần cho chuyến du lịch như va li, cần câu, máy ảnh, lều trại, đèn pin... -Hệ thống nhỏ 2 : các từ chỉ phương tiện giao thông và những sự vật có liên quan đến phương tiện giao thông như tàu thuỷ, bến tàu, máy bay, sân bay, ô tô, bãi đỗ, xe, bên xe, tàu hoả, nhà ga. -Hệ thống nhỏ 3 : Các từ chỉ tổ chức nhân viên phục vụ du lịch. 8 Khách sạn, hướng dẫn viên, nhà nghỉ, người dân đường, công tu du lịch, nhà hàng... -Hệ thống nhỏ 4 : Các từ chỉ địa điểm du lịch phố cổ, bãi biển, bảo tàng, công trình kiến trúc, chùa triền, di tích lịch sử, di tích văn hoá, danh lam thắng cảnh... Như vậy vai trò quan trọng trước hết của từ vựng là phản ánh biểu thị hiện thực khách quan giúp con người nhận thức, khám phá hiện thực khách quan một cách gián tiếp thông qua ngôn ngữ. Chính vì vai trò quan trọng đó của từ vựng mà ở Tiểu học dạy mở rộng vốn từ cho học sinh nhằm cung cấp các từ cho các em để các em biết sử dụng chúng trong học tập và giao tiếp. 1.3-Từ của Tiếng việt và ứng dụng vào dạy MRVT ở Tiểu học : 1.3.1-Từ của Tiếng việt là một hoặc một số âm tiết cố định bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất, trong Tiếng việt và nhỏ nhất để tạo câu, mọi quan hệ và chức năng trong câu không thay đổi, bất biến đổi vị trí, từ ở trong từ điển và từ ở trong câu nói . Ví dụ : +Trong từ điển : Sách. +Trong câu nói : Sách này của tôi Tôi đọc sách. Không có sách thì không có trí thức. 1.3.2-Nghĩa của từ Tiếng việt là khái niệm về sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan được phản ánh vào ngôn ngữ. *Các hình thành phần ý nghĩa trong từ: NGHĨA TỪ Ý nghĩa từ vựng ý nghĩa biểu niệm ý nghĩa biểu vật Ý nghĩa ngữ pháp ý nghĩa biểu cảm 9 -Ý nghĩa biểu niệmlà những hiểu biết mà từ gợi ra về sự vật hiện tượng hoạt động, tính chất được gọi lên. -Ý nghĩa biểu vật là những sự vật hiện tượng trong thực tế khách quan mà từ gọi lên. -Ý nghĩa biểu cảm là thành phần ý nghĩa phản ánh tình cảm nhận thức, thái độ của người sử dụng ngôn ngữ. 1.3.3-ứng dụng của từ Tiếng việt nào dạy mở rộng vốn từ ở Tiểu học : Đặc điểm của từ trong hệ thống ngôn ngữ là cơ sở để xây dựng các bài tập từ ngữ làm giầu vốn từ cho học sinh. Sự hiểu biết về nghĩa từ, đặc điểm của từ sẽ giúp cho người giáo viên xác lập được mục đích, nội dung cũng như kỹ thuật xây dựng từng bài tập từ ngữ cụ thể. Sách giáo khoa Tiếng việt ở Tiểu học rất trú trọng việc dạy cho học sinh tính đa nghĩa của từ trong việc dạy mở rộng vốn từ cho học sinh Tiểu học thông qua các dạng bài tập sau : *Phân loại nghĩa của từ : Ví dụ : Bài mở rộng vốn từ: Trung thực, tự trọng (SGK Tiếng việt 4 – Tập 1) có bài tập Xếp các từ ghép trong ngoặc đơn thành hai nhóm dựa theo nghĩa của tiếng “Trung” (trung bình, trung thành, trung nghĩa, trung thực, trung thu, trung hậu, trung kiên, trung tâm). a-Trung có nghĩa là “ở giữa” M : Trung thu. b-Trung có nghĩa là “Một lòng một dạ” M: trung thành - điền từ. Ví dụ : Chọn từ thích hợp trong ngoặc đơn để điền vào ô trồng trong đoạn văn . 1.3.4-Cụm từ cố định ( còn được gọi là ngữ cố định, nhóm từ cố định, từ tố cố định) là những đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ, được hình thành trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội. Có nhiều cách phân loại cụm từ cố định, dựa trên những tiêu chí khác nhau, cách phân loại được người nhắc tới là phân loại căn cứ vào đặc điểm về cấu tạo về ngữ nghĩa và về sự vận dụng từ đó cụm từ cố định được chia thành quán ngữ và thành ngữ. 10 -Quán ngữ là những cụm từ cố định có những đặc trưng rất gần với cụm từ tự do. Đó là những cách nói, cách diễn đạt nhằm mục đích đưa đẩy, để mở đề hoặc gây chú ý tạo tình huống giao tiếp, không khó giao tiếp. -Thành ngữ là những cụm từ cố định có kết cấu chặt chẽ bền vững và có ý nghĩa ổn định, hoàn chỉnh cụm từ cố định là một mảng không thể thiếu được trong từ vựng của một ngôn ngữ , nó góp phần đáng kể trong việc mang lại tính phong phú , sinh động, đa dạng, nhiều màu vẻ, sự giàu có của từ vựng nói riêng. Ngôn ngữ nói chung nó góp phần tạo ra sức sống luôn luôn xanh tươi cho ngôn ngữ. 1.4-Những vấn đề đổi mớiphương pháp dạy học Tiếng việt : Tinh thần cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học Tiếng việt, đổi mới phương pháp dạy học của các môn học nói chung và ở môn Tiếng việt nói riêng thực chất là tìm cách chyển hoá những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật và khoa học giáo dục vào trong thực tiễn dạy học . Vì vậy đòi hỏi sự đổi mới đồng bộ từ nội dung phương pháp dạy học đến phương tiện, hình thức tổ chức dạy học. Trong dạy mở rộng vốn từ cho hcọ sinh giáo viên không chỉ quan tâm đến cung cấp, mở rộng thêm vốn từ cho học sinh mà còn phải quan tâm đến quá trình học sinh sử dụng từ ngữ đã học trong nói, viết, trong cuộc sống hàng ngày. CHƯƠNG II CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY MỞ RỘNG VỐN TỪ QUA PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU Ở TIỂU HỌC 2.1-Mục tiêu của môn học Tiếng việt ở Tiểu học là : -Hình hành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng việt (nghe,nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy và học , góp phần rèn luyện các thao tác tư duy. -Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giảng về Tiếng việt và những hiểu biết sơ giảng về xã hội tự nhiên và con người , về văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài. 11 -Bồi dưỡng tình yêu Tiếng việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng giàu đẹp của Tiếng việt, góp phần hình thành nhên cách con người Việt Nam. 2.2-Yêu cầu về kiến thức và kỹ năng của việc dạy mở rộng vốn từ ở lớp 4 : *Về từ vựng : -Có vốn từ thông dụng về thiên nhiên, xã hội và con người ( bao gồm một số thành ngữ, tục ngữ và từ Hán Việt). -Học thêm khoảng 700 từ, thành ngữ, tục ngữ theo chủ điểm, nắm được ngữ nghĩa của một số yếu tố Hán Việt, một số thành ngữ, tục ngữ thông dụng, nắm được nghĩa bóng của một số từ trong tác phẩm văn học. -Nắm được cấu tạo của tiếng (âm đầu, vần, thanh) và cấu tạo của từ ( từ đơn, từ phức, từ ghép và từ láy). -Bước đầu biết vận dụng các kiến thức đã học về từ và câu vào hoạt động nói, viết. -Học sinh có thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu và ý thức sử dụng Tiếng việt trong giao tiếp phù hợp với các chuẩn mực văn hoá. 2.3-Nội dung dạy mở rộng vốn từ cho học sinh ở lớp 4 : Phần luyện từ và câu ở lớp 4 có (62 tiết , trong đó học kỳ I : 32 và tiết học kỳ II ; 30 tiết ). Trong đó dạy mở rộng vốn từ gồm 19 tiết, các từ ngữ được mở rộng và hệ thống hoá theo các chủ điểm. -Học kỳ I : 9 tiết được bố trí như sau. -Học kỳ II : 10 tiết. Học kỳ Kỳ I Kỳ II Tuần học Tuần 2 và 2. Chủ điểm Nhân hậu - Đoàn kết Tuần 5 và 6. Trung thực, tự trọng Tuần 9. Ước mơ. Tuần 12 và 13. Ý chí, nghị lực. Tuần 15 và 16. Tài năng, sức khoẻ Đồ chơi, trò chơi. Tuần 19 và 20 Cái đẹp Tuần 22 và 23 Dũng cảm 12 Tuần 25 và 26 Du lịch, thám hiểm Tuần 29 và 30 Lạc quan, yêu đời Tuần 33 và 34 Các từ ngữ được mở rộng và hệ thống hoá thông qua các bài tập. +Tìm từ ngữ theo chủ điểm. -Tìm hiểu , nắm nghĩa của từ ngữ. -Phân loại từ ngữ. -Tìm hiểu nghĩa của thành ngữ, tục ngữ theo chủ điểm. -Luyện sử dụng từ ngữ. Như vậy dạy mở rộng vốn từ ở chương trình lớp 4, chính là công việc làm giàu vốn từ cho học sinh. Nó bao gồm các việc có liên quan mật thiết với nhau. -Dạy nghĩa từ là làm cho học sinh hiểu nghĩa từ bao gồm việc thêm vào vốn từ của học sinh những từ mới và những nghĩa mới của từ đã biết, làm cho các em hiểu được tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ. Ví dụ minh hoạ : Trong hầu hết các bài dạy mở rộng vốn từ đều được thiết kế các bài tập thực hành để thông qua các bài tập thực hành đó dạy nghĩa từ cho học sinh như bài : Mở rộng vốn từ nhân hậu, đoàn kết (SGK Tiếng việt 4 tập 1) có hai bài tập sau thể hiện điều đó. Bài 1 : Tìm các từ ngữ. a-Thể hiện lòng nhân hậu tình cảm yêu thương đồng loại. M : Lòng thương người. b-Trái nghĩa với nhân hậu hoặc yêu thương. M: Độc ác. c-Thể hiện tinh thần đùm bọc, giúp đỡ đồng loại. M : Cưu mang. d-Trái nghĩa với đùm bọc hoặc giúp đỡ . M : Ức hiếp. Bài 2 : Cho các từ sau : Nhân dân, nhân hậu, nhân ái, công nhân, nhân loại, nhân đức, nhân từ, nhân tài. 13 Hãy cho biết : a-Trong những từ nào tiếng “Nhẫn” có nghĩa là “Người. b-Trong những từ nào tiếng “Nhẫn” có nghĩa là “Thương người”. Như vậy : Bài 1 : là cung cấp vốn từ cho học sinh thêm vào vốn từ của học sinh những từ mới. Bài 2 : Là cung cấp cho học sinh những nghĩa mới của từ làm cho các em hiểu được tính nhiều nghĩa của từ “ Nhân” và sự chuyên nghĩa của từ “Nhân”. Từ đó ta có thể gọi nhiệm vụ đầu tiên này của việc dạy từ là nhiệm vụ chính xác hoá vốn từ. Hệ thống hoá hay trật tự hoá vốn từ nghĩa là dạy học sinh biết cách sắp xếp các từ một cách có hệ thống trong trí nhớ của mình để tích luỹ từ được nhanh chóng và tạo ra tính thường tình của từ, tạo điều kiện cho các từ đi vào hoạt động lời nói được thuận lợi. -Tích cực hoá vốn từ nghĩa là dạy học sinh sửdụng từ phát triển kỹ năng sử dụng từ trong khi nói viết đưa vào trong vốn từ tích cực, được học sinh dùng thường xuyên, thông qua các bài tập đặt câu, viết đoạn văn có sử dụng các từ vừa học. -Văn hoá vốn từ nghĩa là đưa ra khỏi vốn từ tích cực của học sinh những từ ngữ không văn hoá, dạy học sinh biết cách dùng từ đúng phong cách làm trong sáng, làm đẹp vốn từ của học sinh. 2.4-Phương pháp dạy mở rộng vốn từ cho học sinh trong phân môn Luyện từ và câu : 2.4.1-Bản chất của phương pháp dạy học mới : a-Nội dung và phương pháp dạy học mới : Nội dung và phương pháp dạy học bao giờ cũng gắn bó với nhau, mỗi nội dung đòi hỏi một phương pháp thích hợp các kỹ năng giao tiếp không thể được hình thành và phát triển bằng con đường truyền giảng thụ động. Muốn phát triển những kỹ năng này, học sinh phải được hoạt động trong môi trường giao tiếp dưới sự hướng dẫn của thầy, cô các kiến thức về ngôn ngữ, văn học, văn hoá, tự nhiên và xã hội có thể được tiếp thu qua lời giảng, nhưng học sinh chỉ làm chủ 14 được những kiến thức này khi các em chiếm lĩnh chúng bằng chính hoạt động có ý thức của mình. Cũng như vậy những tư tưởng, tình cảm, nhân cách tốt đẹp chỉ có thể được hình thành chắc chắn thông qua sự rèn luyện trong thực tế. Đó là những lý do cắt nghĩa sự ra đời của phương pháp dạy học mới, phương pháo tích cực hoá hoạt động của người học. Tích cực hoá hoạt động của người học được hiểu là phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm. Trong đó thầy, cô đóng vai trò người tổ chức hoạt động , mỗi học sinh đều được bộc lộ mình và được phát triển. b-Hoạt động của học sinh trong giờ học theo phương pháp dạy học mới : Trong môn Tiếng việt, hoạt động của học sinh có thể là : -Hoạt động gián tiếp ( đặc thù của môn Tiếng việt). -Hoạt động phân tích, tổng hợp,thực hành lý thuyết( như ở các môn học khác). Cả 2 loại hoạt động trên có thể được tổ chức theo nhiều hình thức khác nhau. -Làm việc độc lập. -Làm việc theo nhóm. -Làm việc theo lớp. Trong trường hợp câu hỏi bài tập đề ra đẫ rất cụ thể, học sinh được tổ chức làm việc độc lập trong trường hợp câu hỏi và bài tập tương đối trừu tượng hoặc đòi hỏi một sự khái quát nhất định và trong trường hợp nên làm việc chung theo đơn vị lớp sẽ có ít học sinh được hoạt động thì làm việc theo nhóm là giải pháp tốt nhất. c-Hoạt động của giáo viên trong giờ học theo phương pháp dạy học mới : *Các hoạt động chủ yếu là : -Giáo viên cho học sinh thông qua các hình thức ; +Cho học sinh trình bày yêu cầu của câu hỏi, bài tập. +Cho học sinh làm mẫu một phần. +Tóm tắt nhiệm vụ, dặn dò học sinh. -Kiểm tra học sinh : +Xem học sinh có làm việc không ? 15 +Xem học sinh có hiểu việc phải làm không ? +Trả lời thắc mắc của học sinh. -Tổ chức báo cáo kết quả làm việc thông qua các hình thức và biện pháp báo cáo. +Báo cáo trước lớp: +Biện pháp báo cáo (bằng miệng, bảng con, phiếu học tập) thi đua giữa các nhóm, trình bày cá nhân. -Tổ chức đánh giá: +Các hình thức đánh giá: Tự đánh giá, đánh giá trong nhóm,trước lớp. +Các biện pháp đánh giá: khen, chê (định tính) cho điểm (định lượng). 2.4.2-Các phương pháp dạy học chủ yếu: Để phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo của học sinh người giáo viên phải sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học để giờ học diễn ra nhịp nhàng và hiệu quả. Đặc biệt trong tiết dạy mở rộng vốn từ (theo chương trình mới) không có bảng từ đưa ra sẵn (như chương trình năm 2000) mà bao gồm các dạng bài tập thực hành về từ nên việc lựa chọn các phương pháp dạy học, tổ chức dạy học của giáo viên càng trở nên quan trọng. Các phương pháp dạy học chủ yếu thường sử dụng khi dạy mở rộng vốn từ là: -Phương pháp quan sát -Phương pháp vấn đáp gợi mở -Phương pháp luyện tập, thực hành 2.5-Các nguyên tắc dạy học từ ngữ ở Tiểu học: Để dạy từ một cách có mục đích, có kế hoạch, cần tuân thủ một số nguyên tắc sau: +Nguyên tắc đồng bộ. +Nguyên tắc thực hành. +Nguyên tắc trực quan. +Nguyên tắc tính đến đặc điểm của từ trong hệ thống ngôn ngữ. 16 2.6-Biện pháp quy trình dạy mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4 trong phân môn LTVC : 2.6.1-Biện pháp dạy học chủ yếu: Giáo viên thường cho học sinh nêu lại một số kiến thức có liên quan đến bài học, rồi tổ chức cho học sinh làm bài tập. Chú ý: +Hướng dẫn học sinh tìm hiểu kỹ yêu cầu của bài tập. +Chữa mẫu cho học sinh một phần hoặc một bài. +Hướng dẫn học sinh làm vào vở (hoặc bảng con hoặc vở bài tập). +Hướng dẫn học sinh tự kiểm tra kết quả luyện tập. Ví dụ: Khi dạy mở rộng vốn từ dũng cảm (tiết 2). (SGK tiếng Việt 4 – Tập 2) Bài 1: Yêu cầu tìm những từ cùng nghĩa và trái nghĩa với từ “dũng cảm”. Giáo viên thường tiến hành như sau: + Cho học sinh đọc yêu cầu của đề tài. +Hỏi đề bài yêu cầu gì?. Hai câu hỏi trên nhằm mục đích hướng dẫn học sinh tìm hiểu kỹ yêu cầu bài tập. Sau đó, giáo viên gọi học sinh khá giỏi làm mẫu rồi cho học sinh nhận xét và cuối cùng là giáo viên chốt lại kết quả đúng (bước này mục đích chữa mẫu cho học sinh một phần của bài). Tiếp theo giáo viên cho học sinh thảo luận trong nhóm thực hiện yêu cầu của đề tài. Bước tiếp theo giáo viên cho học sinh trình bày ý kiến đã thảo luận trong nhóm. Các bạn khác nhận xét bổ sung. Thực hiện điều đó chính là giáo viên đã hướng dẫn học sinh thực hành luyện tập và tự kiểm tra kết quả luyện tập. 2.6.2-Quy trình giảng dạy. a-Kiểm tra bài cũ: Có thể thực hiện một hoặc hai câu hỏi (tuỳ thời gian). 17 Giáo viên yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi hoặc cho ví dụ mình hoạ hoặc chữa bài tập về nhà chữa nhận xét cho điểm. Giáo viên kiểm tra chấm điểm bài làm ở nhà của một số học sinh. b-Dạy bài mới: 1-Giới thiệu bài. 2-Hướng dẫn thực hành. Học sinh đọc và xác định yêu cầu của bài tập. Giáo viên (có thể cùng học sinh) làm mẫu một phần hoặc một bài. Giáo viên tổ chức cách hình thức khác nhau cho học sinh làm bài tập. Giáo viên tổ chức cho học sinh trao đổi, nhận xét kết quả giải bài tập. 3-Giáo viên cho học sinh rút ra những điều cần ghi nhớ. 4-Giáo viên tiếp tục cho học sinh luyện tập (có thể kết hợp chấm chữa một số bài làm của học sinh để rút kinh nghiệm). 5-Củng cố – dặn dò: Giáo viên nhận xét triết học, nhấn mạnh những điều cần nhớ về nội dung kiến thức. Giáo viên nêu yêu cầu chuẩn bị cho tiết học sau. 2.7-Thực trạng dạy MRVT cho học sinh lớp 4 qua phân môn LTVC: 2.7.1-Khảo sát thực tế khi dạy MRVT cho học sinh lớp 4 ở trường tiểu học Mỹ Thành – Thành phố Hà Nội. Qua thực tế dự giờ thăm lớp của các bạn đồng nghiệp và các buổi hội thảo tôi nêu ra một số câu hỏi và thu được kết quả như sau: Hỏi: Dạy MRVT cho hóc inh lớp 4 khó hay dễ. Trả lời: Dạy MRVT cho học sinh lớp 4 khó nhưng tìm hiểu kĩ chủ đề và có phương pháp dạy phù hợp thì lên lớp rất nhiều thuận lợi. Hỏi: Đồng chí có thích dạy môn này không? vì sao? Trả lời: Khi dạy phân môn này, học sinh được tích cực học tập, được sử dụng thêm từ vào vốn từ đã có của các em. Các em học rất sôi nổi nên tôi rất thích dạy môn này. 18 Hỏi : ở lớp 4 , các từ ngữ được cung cấp cho học sinh chú ý thuộc các chủ điểm nói về tính cách, năng lực sở thích. Theo bạn với nội dung dạy học như vậy thì dạy MRVT có cần đồ dùng dạy học hay không ? Trả lời : Giờ dạy sẽ phong phú nếu có tranh minh hoạ, phiếu học tập sẽ giúp học sinh tiếp thu nhanh hơn. Tuy nhiên tuỳ từng bài mà có sự lựa chọn hình thức sử dụng đồ dùng dạy học hay không. Hỏi : Khi dạy MRVT cho học sinh lớp 4 đồng chí có điều chỉnh nội dung bài học không ? Trả lời : Không chỉ làm đúng các bài tập trong sách. Hỏi : Giờ học như hiện nay có phát huy được tính tích cực của học sinh ? Trả lời : Đã phát huy được tính tích cực của học sinh nhưng đôi khi giáo viên vẫn còn lúng túng khi xử lý các tình huống. Cuộc trao đổi trên phàn nào đã giúp chúng ta hiểu được thực trạng dạy MRVT cho học sinh lớp 4 hiện nay. Một số giáo viên chưa thực sự quan tâm đến việc hình thành khái niệm từ vựng cho học sinh, có những giáo viên còn gặp khó khăn khi lựa chọn phương pháp dạy học. 2.7.2-Khảo sát hứng thú học MRVT của học sinh : Để tìm hiểu trong thực tế tiết dạy MRVT có được các em đón nhận với tâm trạng hào hứng thoải mãi hay không và đã giúp các em RMVT cho bản thân như thế nào ? Tôi đã tiến hành khảo sát 23 học sinh lớp 4A trường tiểu học Mỹ Thành – Mỹ Đức – TP. Hà Nội bằng nhiều thí nghiệm sau : Đánh dấu X vào trước ý kiến em cho là đúng. 1-Em có thích học mở rộng vốn từ không ? vì sao? Có Vì : Không -Tìm các từ trong một chủ đề rất khó -RMVT giúp em học tốt các môn khác -MPVT là môn học thú vị bổ ích -Các từ được học cần thiết trong cuộc sống hàng ngày 2-Theo em mở rộng vốn từ là gì ? 19 -Là khắc sâu kiến thức về từ ngữ -Là hình thành kỹ năng sử dụng tiếng việt -Là cung cấp thêm từ cho học sinh -Là mở rộng sự hiểu biết 3-Em thích các bài tập mở rộng vốn từ theo cách nào ? -Làm bài tập theo nhóm -Tự bản thân mình làm bài tập -Làm bài tập bằng cách chơi trò chơi *Kết quả điều tra cho thấy : -90% học sinh thích học MRVT với lý do rất thú vị, bổ ích. -4% thích học với lý do khác. -6% không thích học vì lý do tìm các từ trong chủ đề rất khó và lý do khác. -77% học sinh trả lời đúng định nghĩa, các em đều cho rằng : MRVT là khắc sâu kiến thứct về từ ngữ hình thành kỹ năng sử dụng tiếng việt, cung cấp thêm từ cho học sinh làm cho mỗi người mở rộng hiểu biết. -33% học sinh trả lời thiếu. 2.7.3-Kết luận : Phân tích các kết quả thu được qua việc dự giờ thăm lớp, trao đổi với lãnh đạo giáo viên và khảo sát kết quả học tập của học sinh lớp 4 Trường Tiểu học Mỹ Thành – Mỹ Đức – TP. Hà Nội. Về cơ bản đã đáp ứng được so với yêu cầu dạy học hiện nay, song cũng còn có những nhược điểm cần có biện pháp khắc phục. *Ưu điểm : -Lãnh đạo Phòng giáo dục và Ban giám hiệu Nhà trường đã có sự chỉ đạo chuyên môn rất sáo sao, tổ chứ các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học giúp giáo viên thuận lợi trong việc học tậ, bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn. 20
- Xem thêm -