Skkn-sinh học phần di truyền học, phép lai

  • Số trang: 10 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 75 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Đã đăng 43027 tài liệu

Mô tả:

Phần thứ nhất đặt vấn đề Trong các hoạt động trong nhà trường, chất lượng giáo dục là một trong những hoạt động quan trọng, chất lượng nâng cao, chất lượng cao chính là phản ánh vị thế của nhà trường với các cấp học trong xã hội. Đặc biệt trong đó có chất lượng học sinh giỏi các cấp. Qua những năm gần đây tỷ lệ học sinh dự thi học sinh giỏi cấp huyện môn sinh thường đạt kết quả chưa được cao ở các vùng khó khăn như vùng Cộng hoà trong đó có trường THCS Tân Lập - Lạc Sơn. Sở dĩ như như vậy một mặt tâm lý các em còn cho rằng môn sinh học không phải là một môn học chính, trong giờ học của các em chưa thực sự chú trọng, nên khi được lựa chọn vào đội tuyển ôn luyện học sinh giỏi cấp huyện các em còn bộc lộ rỗng kiến thức nhiều. Mặt khác các em chưa nắm rõ được các dạng bài tập sinh học đặc biệt sinh 9, một trong các dạng bài tập đó là "Lai một cặp tính trạng". Khi được tiếp cận các em rất lúng túng để tìm ra hướng giải quyết. Được sự tín nhiệm của Ban giám hiệu và hội đồng nhà trường, được sự cổ vũ của bạn bè, đồng nghiệp nên trong hai năm 2011 – 2012 và 2013 - 2014, ôn luyện học sinh giỏi môn Sinh học cấp huyện Tôi đã có một số sáng kiến và thu được một số kết quả. Phần thứ hai Nội dung I - Cơ sở khoa học để đề xuất sáng kiến. - Để có được học sinh giỏi người dạy cần phải có khả năng phát hiện, sau đó có kế hoạch bồi dưỡng "Nhân tài" theo đúng phương pháp. ở bậc THCS, học sinh có năng lực học môn Sinh thường có những biểu hiện: 1 + Có hứng thú học tập môn học: trong những tiết giảng của Thầy các em luôn tỏ thái độ thích thú mỗi khi đọc, nghiên cứu thông tin, quan sát tranh ảnh, hay đi thực tế thiên nhiên các em luôn tỏ rõ có óc quan sát, nhận xét tinh tế các sinh vật xung quanh. Trong những câu hỏi các em luôn hăng hái phát biểu xây dựng bài. + Các em có khả năng tư duy tốt, tính suy luận, sáng tạo cao, tính chủ động nắm bắt kiến thức và biến kiến thức học tập được vận dụng vào đời sống, bài kiểm tra một cách trung thực khách quan. + Tính so sánh, đối chứng giữa kiến thức bài học, giữa sinh vật với nhau. + Các em có lòng yêu thích thiên nhiên, có lối sống hoà đồng với thiên nhiên. Qua nghiên cứu tôi thấy, việc học tập sinh học của mỗi em không hoàn toàn giống nhau, việc phát hiện những em học tốt môn sinh học cũng không phải là điều đơn giản bởi các em do hoàn cảnh sống khác nhau, mức độ tiếp cận xã hội khác nhau. Bởi vậy, bồi dưỡng được học sinh giỏi cấp huyện môn Sinh học cũng tương đối khó khăn. Vì thế trong rất nhiều dạng ôn luyện môn sinh học lớp 9 có dạng: Giải bài tập "Lai một cặp tính trạng" của Menden. II - Nội dung cụ thể của sáng kiến. Như Tôi đã đặt vấn đề ở trên, việc ôn luyện học sinh giỏi môn Sinh học có rất nhiều dạng bài tập. Song một trong những dạng bài quen thuộc và không thể thiếu được trong thi học sinh giỏi là dạng bài tập : "Lai một cặp tính trạng" của Men den, cụ thể là : A- Vấn đề 1: Xác định kết quả F1, F2 (trội hoàn toàn và trội không hoàn toàn). a. Phương pháp giải: - Bước 1 : Xác định trội - lặn. - Bước 2 : Quy ước gen. 2 - Bước 3 : Xác định kiểu gen. - Bước 4 : Viết sơ đồ lai và kết quả. P : Mẹ x Bố. B. Các bài tập. 1. Bài 1: ở đậu Hà lan, tính trạng hạt màu vàng trội hoàn toàn so với hạt màu xanh xác định kết quả ở F1, F2 khi đem thụ phấn 2 cây đậu thuần chủng hạt vàng và hạt xanh. 2. Bài 2: ở cây không phấn, tính trạng hoa đỏ trội không hoàn toàn so với hoa trắng, hoa hồng là tính trạng trung gian. Xác định kết quả ở F1, F2 khi đem thụ phấn 2 cây bông phấn hoa đỏ và hoa trắng. Đáp án 1. Bài 1: - Màu vàng trội hoàn toàn so với hạt xanh (theo gt). - Gọi: Màu hạt Vàng - gen A. Màu hạt xanh - gen a. - Cây mẹ : hạt vàng thuần chủng : A A - Cây bố : hạt xanh thuần chủng : a a - Ta có sơ đồ lai và kết quả : P:  Hạt vàng (AA) x  Hạt xanh (aa) GP: A F1: a Aa Kết quả : Tỷ lệ KG : 100% Aa Tỷ lệ KH : 100% hạt vàng. - Cho F1 x F2:  Hạt vàng (Aa) GF1 : x  Hạt vàng (A a). A,a A,a F2 : A A a AA 3 Aa Aa a aa Kết quả : Tỉ lệ KG : 1A A : 2A a : 1a a Tỉ lệ KH : 3 hạt vàng : 1 hạt xanh. 2. Bài 2 : - Màu hoa đỏ trội không hoàn toàn so với màu hoa trắng (theo đề bài). - Ta có : Màu hoa đỏ  A A. Màu hoa trắng  a a. Màu hoa hồng  A a. - Cây bố : Hoa đỏ (A A). - Cây mẹ : Hoa trắng (a a). - Sơ đồ lai : P:  Hoa trắng (aa) GP: x  Hoa đỏ (AA) a F1: A Aa - Kết quả : Tỉ lệ KG : 100% A a. Tỉ lệ KH :100% Hoa màu hồng. B1 - Bài luyện tập áp dụng: Bài 1 : ở Đậu Hà Lan, tính trạng hoa đỏ trội hoàn toàn so với hoa trắng. a. Xác định kết quả thu được ở F 1 khi đem lai 2 cây đậu thuần chủng hoa đỏ và hoa trắng . b. Xác định kết quả thu được ở F 2 khi đem lai cây đậu F 1 với cây đậu hoa trắng. Đáp số: a. Rt (100% đỏ ); b. 1Rt : 1rr (50% đỏ : 50% trắng). 4 Bài 2: Đem giao phấn cây Dâu tây quả đỏ với cây Dâu tây quả trắng ở F 1 thu được 100% cây Dâu tây quả hồng, sau đó lấy các cây dâu tây thu được ở F 1 lai với nhau. a. Xác định kết quả thu được ở F2. b. Lấy cây Dâu tây quả hồng thụ phấn với cây Dâu tây quả trắng thì đời con sẽ thu được kết quả như thế nào. Đáp số : a. 1A A : 2A a : 1a a (1 đỏ : 2 hồng : 1trắng ). b. 1A a : 1a a ( 1 hồng : 1 trắng ). B - Vấn đề 2 : Dựa vào kiểu hình để xác định kiểu gen bố, mẹ. a. Phương pháp giải : Bước 1 : Xác định trội - lặn. Bước 2 : Quy ước kiểu gen. Bước 3 : Xác định kiểu gen ( dựa vào KH lặn của đời con hoặc cháu ) Bước 4 : Viết sơ đồ lai và kết quả. b. Bài tập : ở người thuận tay phải (gen F), thuận tay trái (gen f ) . Trong một gia đình Bố và Mẹ đều thuận tay phải, con gái của họ thuận tay trái. Xác định kiểu gen của Bố và Mẹ; Viết sơ đồ lai minh hoạ. Đáp án. - Bố : thuận tay phải (F- ) - Mẹ : thuận tay phải (F- ). - Con gái: Thuận tay trái là tính lặn - (ff ) trong đó 1 gen f là của Bố, 1 gen f là của Mẹ. Vậy: kiểu gen của Bố, Mẹ đều là Ff - Ta có sơ đồ lai: P:  thuận tay phải (Ff) GP: F,f F1 x F2 : F,f x  thuận tay trái (Ff) F,f x F,f 5 F2 : F f F FF F f Ff ff - Kết quả : Tỉ lệ KG : 1FF : 2Ff : 1ff Tỉ lệ KH: 75% con thuận tay phải; 25% con thuận tay trái. B2 : Bài tập áp dụng : ở người, mắt nâu (gen B), mắt xanh (gen b). Trong một gia đình Bố mắt nâu, Mẹ mắt xanh có 2 người con: con trai mắt nâu và con gái mắt xanh. Xác định kiểu gen của gia đình trên. Đáp số : bố (Bb), Mẹ (bb), con trai (Bb), con gái (bb). C. Vấn đề 3 : Dựa vào tỉ lệ kiểu hình để xác định kiểu gen Bố, Mẹ. a. Phương pháp. - Bước 1: xác định trội, lặn. - Bước 2: Qui ước kiểu gen. - Bước 3: xác định kiểu gen (dựa vào tỷ lệ các KH ) : 100% ; 3 :1; 1: 1. b. Bài tập: ở Cà chua, tính trạng tròn trội hoàn toàn so với quả bầu dục. 1. Muốn ngay F1 xuất hiện tỷ lệ kiểu hình 1 : 1 thì bố, mẹ phải có kiểu gen như thế nào? 2. Đem thụ phấn hai cây Cà chua quả bầu dục với nhau, xác định tỷ lệ phân ly ở đời con. Đáp án 1. Xác định kết quả ở F1 : - Quả tròn trội hoàn toàn so với quả bầu dục (theo đầu bài). - Qui ước gen : Quả tròn - gen T. 6 Quả bầu dục - gen t. - Muốn ngay F1 xuất hiện tỉ lệ 1 : 1 đây là tỷ lệ của lai phân tích - kiểu gen của Bố dị hợp một cặp và Mẹ đồng hợp lặn (hoặc ngược lại ). - Cây Bố : quả tròn (Tt ) - Cây Mẹ : quả bầu dục (tt ) - Sơ đồ lai : P:  quả bầu dục (tt) GP: x  quả tròn (Tt) t F1: T, t Tt : tt - Kết quả : Tỷ lệ KG : 1Tt : 1tt Tỷ lệ KH : 1 quả tròn : 1 quả bầu dục. 2. Xác định kết quả ở F1 : - Cây bố : quả bầu dục (tt) - Cây mẹ : quả bầu dục (tt). P:  quả bầu dục (tt) x  quả bầu dục (tt) t t GP: F1 tt - Kết quả : Tỷ lệ KG : 100% tt Tỷ lệ KH : 100% quả bầu dục. B3 - Bài tập áp dụng. Bài 1 : ở cây lúa, tính trạng chín sớm trội hoàn toàn so với chín muộn. a. Muốn ngay F1 xuất hiện tỷ lệ KH 3 : 1 thì bố, mẹ phải có kiểu gen và kiểu hình như thế nào ? b. Nếu lấy lúa thu được ở đời F 1 thụ phấn với lúa chín muộn ở F 2 có tỷ lệ phân ly như thế nào? Đáp án a. KG : 1SS : 2 Ss ; 1ss. KH : 3 chín sớm : 1 chín muộn. 7 b. KG :100% Ss. KH : 100% chín sớm. Bài 2 : ở lợn thân dài trội hoàn toàn so với thân ngắn. a. ở F1 thu được tỷ lệ kiểu hình 3 : 1 thì kiểu gen bố, mẹ phải như thế nào ? b. Đem lợn thân dài giao phối với lợn thân ngắn thì kết quả thu được như thế nào ? Đáp án: a - Dd x Dd. b - 50% thân dài : 50% thân ngắn 100% thân dài. III. Hiệu quả của sáng kiến Với cách hướng dẫn giải bài tập của tôi như trên cùng với các dạng bài tập khác tôi đã thu được những thành công nhất định. Đội tuyển học sinh giỏi của trường tôi dự thi học sinh cấp huyện đã đạt giải như sau: - Năm học: 2012 - 2013: 3 em dự thi và có 3 em đạt giải. Được công nhận học sinh giỏi huyện các em: Bùi Thị Dung Đinh Thị Mỹ Ngọc. Bùi Văn Thân. Trong đó dự thi vòng tỉnh và đoạt giải nhì tiếp theo là em: Bùi Thị Dung. - Năm học 2013 - 2014: dự thi 2 em trong đó 2 em đều được công nhận học sinh giỏi huyện đó là các em. Bùi Thị Nguyệt. Bùi Thị Dường. Phần thứ ba 8 Kết luận - Công việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn sinh học lớp 9 cần thiết nhưng lại rất khó khăn, nó đòi hỏi người giáo viên phải thật sự say mê với nghề nghiệp, hết lòng vì sự nghiệp đào tạo và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, song chỉ có lòng nhiệt tình chưa đủ, muốn thực hiện được nhiệm vụ này đòi hỏi người giáo viên phải luôn luôn tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ, nghiệp vụ của bản thân, đồng thời phải đúc rút những kinh nghiệm hay giờ giảng tốt để rút ra cách giảng dạy tốt nhất. Để phục vụ cho việc ôn luyện, bồi dưỡng được tốt ngành giáo dục cần cung cấp thêm cho các trường nhiều: + Tài liệu giúp giáo viên dạy học bồi dưỡng môn sinh. + Chỉ đạo các trường có kế hoạch ôn luyện học sinh giỏi từ lớp 6 đến lớp 9. + Xây dựng được nhiều cơ sở trường học kiên cố hơn để học sinh có môi trường học tốt hơn. Trên đây là một số kinh nghiệm của tôi trong ôn luyện học sinh giỏi môn sinh. Tôi rất mong các quý đồng nghiệp cùng tham khảo và tôi mong muốn được tham khảo những kinh nghiệm của các quý đồng nghiệp để áp dụng ôn luyện học sinh được nhiều thành quả hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn ! Tân Lập, ngày 5 tháng 5 năm 2014 Người viết Bùi Văn Tịch 9 10
- Xem thêm -