Skkn rèn học sinh yếu lớp 2

  • Số trang: 28 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 36 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: "RÈN HỌC SINH YẾU LỚP 2" 1 A. PHẦN MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Vấn đề học sinh yếu hiện nay luôn được xã hội quan tâm và tìm giải pháp để khắc phục tình trạng này. Để đưa nền giáo dục nước nhà phát triển toàn diện thì người giáo viên không những chỉ biết dạy mà còn phải biết tìm tòi phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh và hạ thấp dần tỉ lệ học sinh yếu. Vấn đề nêu trên cũng là khó khăn với không ít giáo viên. Nhưng ngược lại, giải quyết được điều này là góp phần xây dựng trong bản thân mỗi giáo viên một phong cách và phương pháp dạy học hiện đại, giúp cho học sinh có hướng tư duy mới trong việc lĩnh hội kiến thức. Thật vậy, tuy cùng hưởng thụ một nội dung chương trình giáo dục nhưng mỗi học sinh đều có sự phát triển về thể chất và trí tuệ khác nhau, có điều kiện hoàn cảnh sống và sự quan tâm chăm sóc ở gia đình là khác nhau, có động cơ và thái độ học tập khác nhau, môi trường giáo dục khác nhau mà trong đó có sự dạy dỗ của thầy cô giáo thì năng lực học tập, khả năng tiếp thu kiến thức của mỗi học sinh cũng phải khác nhau. Từ đó, dẫn đến có học sinh yếu, kém. Vậy chúng ta phải rèn luyện các em học sinh này như thế nào? Việc vận dụng sự đổi mới công tác dạy và phụ đạo học sinh yếu không chỉ là trách nhiệm mà còn là bổn phận, nghĩa vụ của người thầy. Mặc khác, nếu quan tâm đến việc phụ đạo học sinh yếu thì sẽ làm cho các em tự tin hơn khi đến lớp, công tác duy trì sĩ số mới được đảm bảo, góp phần làm nên thắng lợi của công tác phổ cập giáo dục tiểu học ở địa phương. Với những lí do trên, ngay đầu năm học, từ giai đoạn tổ chức lớp cho đến khi giảng dạy, bản thân luôn chú ý, quan tâm đến việc chỉ đạo, tư vấn các đơn vị trường chú trọng giúp đỡ học sinh yếu. Đây sẽ là nền tảng, là động lực để thúc đẩy các em tiếp thu bài đầy đủ, được trau dồi tri thức và tiếp tục vươn xa trên con đường học vấn của mình. Từ 2 những suy nghĩ trên, tôi đã chọn đề tài: “Một số kỹ năng phụ đạo học sinh yếu lớp 2” để tiếp tục áp dụng vào thực tế học sinh khối 2 trường Tiểu học số 2 Pa Vệ Sử nói riêng và học sinh toàn huyện nói chung. II. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1. Phạm vi Một số Kỹ năng phụ đạo học sinh yếu lớp 2. 2. Đối tượng Giáo viên và học sinh khối 2 trường Tiểu học số 2 Pa Vệ Sử về việc giúp đỡ các em là học sinh yếu. III. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Qua những năm trực tiếp giảng dạy, bản thân cũng nắm bắt và thấu hiểu được tâm lí lứa tuổi học sinh tiểu học. Nếu các em được sống trong sự yêu thương, chăm sóc, quan tâm của gia đình, thầy cô và có một môi trường học tập tốt thì các em sẽ ham thích, say mê và nỗ lực trong học tập. Điều này có tác động rất lớn đến các em là học sinh yếu, giúp các em tự tin hơn trong việc học của mình. Việc phụ đạo học sinh yếu hay nói khác hơn, để nâng cao chất lượng giáo dục không chỉ là trách nhiệm của nhà trường, gia đình mà là của toàn xã hội. Vì vậy, đây là động lực để những ai đang làm công việc “trồng người” luôn cố gắng tìm ra được những tồn tại và nguyên nhân làm cho chất lượng phụ đạo học sinh yếu chưa đạt hiệu quả cao. Và từ đó sẽ có những biện pháp khắc phục phù hợp. - Nhằm giúp đỡ các em học sinh yếu, kém vươn lên trong học tập; nâng cao chất lượng dạy, học; hạn chế tối thiểu tỉ lệ học sinh yếu, kém. Đồng thời cũng để trang bị cho giáo viên kiến thức sau này áp dụng trong quá trình giảng dạy; hy vọng qua đề tài này sẽ 3 nhận được nhiều ý kiến đóng góp từ phía các cấp lãnh đạo cũng như giáo viên trong và ngoài trường. IV. ĐIỂM MỚI TRONG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu lí luận Hệ thống hóa một số vấn đề lí luận về dạy - học đối tượng học sinh yếu lớp 2. 2. Nghiên cứu thực nghiệm Tìm hiểu thực trạng dạy - học đối tượng học sinh yếu lớp 2; áp dụng một số kỹ năng trong quá trình dạy học và rèn kĩ năng đối với học sinh yếu ở hai môn Toán và Tiếng Việt tạo công cụ vững chắc cho trẻ học tập góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. 3. Nghiên cứu ứng dụng Đề xuất những giải pháp phù hợp mang tính khả thi nhằm áp dụng có hiệu quả để nâng cao chất lượng dạy - học đối tượng học sinh yếu lớp 2. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.Công tác quản lí: - Quán triệt chủ trương của ngành về đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý các cấp và giáo viên đứng lớp: “Tổ chức các giờ học, các hoạt động giáo dục đảm bảo nhẹ nhàng - tự nhiên – hiệu quả và chất lượng” tránh tình trạng để học sinh “ngồi nhầm lớp”. - Tăng cường hoạt động kiểm tra chuyên môn, dự giờ rút kinh nghiệm và tổ chức cho giáo viên giao lưu trao đổi và học hỏi kinh nghiệm trong và ngoài trường. 4 - Tổ chức các cuộc thi giáo viên dạy giỏi các cấp về thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, đánh giá đúng chất lượng dạy của giáo viên. - Đổi mới cách đánh giá xếp loại học sinh. 1.Đội ngũ giáo viên: Cần từng bước chuẩn hoá đội ngũ giáo viên: trang bị giáo viên những kiến thức về đổi mới phương pháp dạy học cụ thể qua các chuyên đề, các loại bài học, các hình thức tổ chức dạy học. Đổi mới sinh hoạt chuyên môn hàng tuần ở từng khối lớp, ở tổ chuyên môn... 2.Cơ sở vật chất: Trang bị đầy đủ sách khoa, đồ dùng học tập cho cho học sinh, tăng cường sách hướng dẫn giảng dạy, thiết bị dạy học tối thiểu cho giáo viên. Trở về với mỗi giáo viên, hiện nay việc đổi mới phương pháp dạy học đang thu hút và tác động đến từng cá nhân. Mỗi tiết dạy để đảm bảo sự thành công, việc đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học đang được quan tâm hàng đầu. Tuy nhiên, cần lựa chọn sao cho phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh Với nhu cầu của một xã hội hoá GD đòi hỏi ngành GD phải đổi mới phương pháp dạy học để tạo ra những thế hệ con người nhận thức sâu sắc, biết tự giác chủ động sáng tạo trong công việc. Nhìn lại việc học của con em ở địa phương, tôi thấy nhận thức của các em còn nhiều hạn chế, ý thức tự học, tự rèn luyện rất ít, điều kiện học tập còn nhiều thiếu thốn. Các em chưa xác định được tầm quan trọng của việc học nên không ham học. Là một người đứng trong ngành nghề dạy học tôi luôn băn khoăn 5 là làm thế nào để phát huy tính tích cực , chủ động, tự giác của học sinh trong học tập. Đây là một vấn đề nóng bỏng cần phải thực hiện nhanh và đúng cách để những thế hệ do chúng ta đào tạo là những người làm chủ tương lai, đất nước, biết xây dựng quê hương và đưa trình độ hiểu biết của toàn dân đi lên. Đặc biệt là giáo dục ở các vùng miền núi. Qua đổi mới các phương pháp dạy học sẽ giúp các em học sinh, dân tộc thiểu số mạnh dạn, tự tin hơn trước đám đông, biết cách tự đánh giá việc học của mình cũng như biết đánh giá kết quả học tập của các bạn khác. Từ đó các em có tính chủ động hơn trong học tập và biết phấn đấu thi đua nhau để việc học có kết quả cao hơn. II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ 1. Thuận lợi: Cơ sở vật chất ngày càng được ổn định; các chế độ cho học sinh nghèo theo QĐ 112, chế độ cho học sinh bán trú dân nuôi được đảm bảo kịp thời, đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên phần đa trẻ khoẻ, nhiệt tình năng nổ, có tâm huyết và trách nhiệm với nhiệm vụ được phân công. 2. Khó khăn: 2.1. Thực tế về địa bàn: - Trường Tiểu học số 2 Pa Vệ Sử thuộc xã Pa Vệ Sử là một xã dân cư là 100% dân tộc La Hủ còn nhiều khó khăn về mặt kinh tế, nên ảnh hưởng lớn đến việc học của học sinh từ đó gây khó khăn trong việc thực hiện dạy và học của nhà trường. 6 - Phần lớn kinh tế gia đình học sinh còn nhiều khó khăn, tỷ lệ học sinh thuộc hộ nghèo toàn xã còn nhiều. 2.2. Thực tế về phụ huynh học sinh (PHHS): - Do tình hình khó khăn như nêu ở trên, nên phụ huynh học sinh phần lớn không quan tâm đến việc học của con em mình, phó thác cho nhà trường và thầy cô giáo (có nhiều phụ huynh đã được nhà trường và giáo viên chủ nhiệm mời nhiều lần đến để trao đổi, bàn bạc về việc học tập của con em mình nhưng vẫn không đến). Do đó, hầu hết các em học sinh của xã thường không có ý thức trong học tập thậm chí các em không hề xem bài hay học bài ở nhà. Mà như ta đã biết, học sinh học tốt hay không còn phụ thuộc vào bản thân của các em có tự giác trong học tập hay không?, giáo viên có nắm được đặc điểm tâm sinh lí của học sinh hay không?, trong quá trình giảng dạy giáo viên có đề ra các biện pháp, phương pháp giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí đối tượng học sinh hay không?. Đó là vấn đề mà nhiều giáo viên trong ngành gặp rất nhiều khó khăn trong trong công tác giảng dạy cho đối tượng học sinh này. 2.3. Thực tế về học sinh: - 100% số học sinh là học sinh dân tộc La Hủ, vì vậy các em đến trường, học tập bằng tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ thứ 2. Các em học tiếng Việt - một ngôn ngữ mới và học bằng công cụ mới. So với học sinh dân tộc Kinh, học sinh dân tộc thiểu số sử dụng tiếng Việt- ngôn ngữ học tập một cách khó khăn vì: - Học sinh học ngôn ngữ thứ hai nói chung bằng tư duy giao tiếp, thông qua việc tiếp cận - từ việc hiểu ngôn ngữ có chủ định (qua bài học) đến việc vận dụng nó trong sinh hoạt hằng ngày, do đó học sinh thường không tự tin nên dẫn đến học lực yếu. - Hầu hết việc học bài ở nhà của học sinh hình như không có nếu có thì cũng chỉ học qua loa cho xong. 7 - Trong một lớp học tỉ lệ học sinh yếu, kém chiếm khá đông, dẫn đến tiến trình học tập chậm rãi. - Tính tự quản, tự giác của học sinh trong học tập còn rất nhiều hạn chế chưa nhận thức đúng đắn về động cơ và mục đích học tập, các em còn ham chơi, lười học.  Xuất phát từ tình hình khó khăn thực tế như đã nêu ở trên dẫn đến có nhiều học sinh yếu, kém trong một lớp học. 2.4. Khảo sát chất lượng đầu năm học: Môn TSHS Giỏi Khá Trung bình Yếu SL % SL % SL % Tiếng Việt 44 0 0% 4 9,09% 12 27,2% 28 63,71% Toán 0 0% 5 11,3% 15 34,09% 24 54,61% 44 SL % Căn cứ kết quả xếp loại học lực cuối năm học qua, so sánh với kết quả khảo sát chất lượng học sinh đầu năm học này từ đó nắm được số liệu về học sinh yếu của trường. 3. Tìm hiểu nguyên nhân học sinh học yếu: 3.1. Về phía học sinh: - Môi trường học tiếng Việt bị bó hẹp. học sinh dân tộc hầu như không thể có được số lượng và mật độ các cuộc giao tiếp bằng tiếng Việt nhiều như học sinh người Kinh. Ở trường học, học sinh dân tộc chỉ tiếp xúc duy nhất với thầy, cô giáo - những người nắm vững tiếng Việt. Do số học sinh trong lớp thì đông mà lại chỉ có một giáo viên nên cơ hội giao tiếp bằng tiếng Việt giữa học sinh và giáo viên rất có hạn. Nguyên nhân trên ảnh hưởng không nhỏ đến học lực của học sinh. - Lười biếng, chán học. 8 - Hoàn cảnh gia đình khó khăn. - Cha mẹ không quan tâm. - Xa điểm trường, đi lại khó khăn. - Mất cha (mẹ). - Nhiều nguyên nhân khác… 3.2. phía giáo viên: Nguyên nhân học sinh học yếu không phải hoàn toàn là ở học sinh mà một phần ảnh hưởng không nhỏ là ở người giáo viên. Thầy hay thì mới có trò giỏi. Ngày nay, để có thể thực hiện tốt trong công tác giảng dạy thì đòi hỏi giáo viên phải không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Tuy nhiên, ở đây không phải giáo viên nào có trình độ học vấn cao, tốt nghiệp giỏi thì sẽ giảng dạy tốt mà quan trọng giáo viên phải biết lựa chọn phương pháp dạy học nào là phù hợp với từng đối tượng học sinh và với từng nội dung kiến thức. Qua quá trình công tác bản thân nhận thấy, vẫn còn một bộ phận nhỏ giáo viên chưa chú ý quan sát đến các đối tượng học sinh, đặc biệt là học sinh yếu. Chưa tìm tòi nhiều phương pháp dạy học mới kích thích tính tích cực, chủ động của học sinh. Chưa thật sự quan tâm tìm hiểu đến hoàn cảnh gia đình của từng học sinh. Trên đây là một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh học yếu mà bản thân nhận thấy trong quá trình làm công tác chuyên môn. Qua việc phân tích những nguyên nhân đó, bản thân đưa ra một số biện pháp, kỹ năng để giáo dục, phụ đạo học sinh yếu. Trong phạm vi của bài viết, tôi chỉ đề cập đến biện pháp giúp đỡ học sinh yếu ở hai môn công cụ: Toán và Tiếng Việt và công tác chủ nhiệm. III. CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 9 1. Những biện pháp chung 1.1 Giáo viên xây dựng môi trường học tập thân thiện: Sự thân thiện của giáo viên là điều kiện cần để những biện pháp đạt hiệu quả cao. Thông qua cử chỉ, lời nói, ánh mắt, nụ cười… giáo viên tạo sự gần gũi, cảm giác an toàn nơi học sinh để các em bày tỏ những khó khăn trong học tập, trong cuộc sống của bản thân mình. Giáo viên luôn tạo cho bầu không khí lớp học thoải mái, nhẹ nhàng, không đánh mắng hoặc dùng lời thiếu tôn trọng với các em, đừng để cho học sinh cảm thấy sợ giáo viên mà hãy làm cho học sinh thương yêu và tôn trọng mình. Bên cạnh đó, giáo viên phải là người đem lại cho các em những phản hồi tích cực. Ví dụ như giáo viên nên thay chê bai bằng khen ngợi, giáo viên tìm những việc làm mà em hoàn thành dù là những việc nhỏ để khen ngợi các em. Hoặc có thể dùng các phiếu thưởng có in các lời khen phù hợp với từng việc làm của các em như: “Bông hoa điểm tốt”, “Biết giúp đỡ người khác”, “ Thái độ nhiệt tình và tích cực”… 1.2 Giáo viên phân loại các đối tượng học sinh Giáo viên cần xem xét, phân loại những học sinh yếu đúng với những đặc điểm vốn có của các em để lựa chọn biện pháp giúp đỡ phù hợp với đặc điểm chung và riêng của từng em. Một số khả năng thường hay gặp ở các em là: Sức khoẻ kém, khả năng tiếp thu bài, lười học, thiếu tự tin, nhút nhát, vốn từ tiếng Việt hạn chế… Trong thực tế người ta nhận thấy có bao nhiêu cá thể thì sẽ có chừng ấy phong cách nhận thức. Vì vậy hiểu biết về phong cách nhận thức là để hiểu sự đa dạng của các chức năng trí tuệ giúp cho việc tổ chức các hoạt động sư phạm thông qua đặc trưng này. 10 Trong quá trình thiết kế bài học, giáo viên cần cân nhắc các mục tiêu đề ra nhằm tạo điều kiện cho các em học sinh yếu được củng cố và luyện tập phù hợp. Ví dụ khi học bài: Bảng chia 3 (Toán–lớp 2 ), đối với các em học sinh yếu thì các em chỉ cần nắm mục tiêu thứ nhất: “Học sinh thuộc bảng chia 3 và biết vận dụng bảng chia 3 để tính nhẩm đúng” là đạt yêu cầu rồi. Trong dạy học cần phân hóa đối tượng học tập trong từng hoạt động, dành cho đối tượng này những câu hỏi dễ, những bài tập đơn giản để tạo điều kiện cho các em được tham gia trình bày trước lớp, từng bước giúp các em tìm được vị trí đích thực của mình trong tập thể. Yêu cầu luyện tập của một tiết là 4 bài tập, các em này có thể hoàn thành 1, 2 hoặc 3 bài tuỳ theo khả năng của các em. Ngoài ra, giáo viên có thể tổ chức phụ đạo cho những học sinh yếu khi các biện pháp giúp đỡ trên lớp chưa mang lại hiệu quả cao. Có thể tổ chức phụ đạo từ 1 đến 2 buổi trong một tuần. Tuy nhiên, việc tổ chức phụ đạo phải kết hợp với hình thức vui chơi, hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm lôi cuốn các em đến lớp đều đặn và tránh sự quá tải, nặng nề. 1.3 Giáo dục ý thức học tập cho học sinh: Giáo viên phải giáo dục ý thức học tập của học sinh tạo cho học sinh sự hứng thú trong học tập, từ đó sẽ giúp cho học sinh có ý thức vươn lên. Trong mỗi tiết dạy giáo viên nên liên hệ nhiều kiến thức vào thực tế để học sinh thấy được ứng dụng và tầm quan trọng của môn học trong thực tiễn. Từ đây, các em sẽ ham thích và say mê khám phá tìm tòi trong việc chiếm lĩnh tri thức. Bên cạnh đó, giáo viên phải tìm hiểu từng đối tượng học sinh về hoàn cảnh gia đình và nề nếp sinh hoạt, khuyên nhủ học sinh về thái độ học tập, tổ chức các trò chơi có lồng ghép việc giáo dục học sinh về ý thức học tập tốt và ý thức vươn lên trong học tập, làm 11 cho học sinh thấy tầm quan trọng của việc học. Đồng thời, giáo viên phối hợp với gia đình giáo dục ý thức học tập của học sinh. Do. Bản thân giáo viên cần phân tích để các bậc phụ huynh thể hiện sự quan tâm đúng mức. Nhận được sự quan tâm của gia đình, thầy cô sẽ tạo động lực cho các em ý chí phấn đấu vươn lên. 1.4 Kèm cặp học sinh yếu: Ngay từ đầu năm giáo viên phải khảo sát chất lượng để biết số lượng học sinh yếu là bao nhiêu để có kế hoạch phụ đạo. Như lớp 2 điểm trường Thò ma, Seo Thèn B, Sín Chải A, sau khi thi khảo sát chất lượng đầu năm thì có 100% học sinh yếu và lên kế hoạch phụ đạo cho các em. Lập danh sách học sinh yếu (theo mẫu dưới đây) và chú ý quan tâm đặc biệt đến những học sinh này trong mỗi tiết dạy như thường xuyên gọi các em đó lên trả lời câu hỏi, khen ngợi các em đó khi các em trả lời đúng,… DANH SÁCH HỌC SINH YẾU LỚP 2 Tiếng Việt STT Họ và tên Điểm Toán Đọc Viết Không Tính yếu yếu biết yếu Con ông bản (bà) tính 1 Phùng Lỳ Phơ x x x 12 Phùng Lỳ Thò Ma Phạ 2 Ly Phý Lu x x x Thò Ma … 2. Những biện pháp để giảm dần số lượng học sinh học yếu môn Toán. 2.1. Với đối tượng loại 1: Vì kiến thức ở lớp dưới của các em bị hổng, không thể nào bù đắp ngay được trong một thời gian ngắn. Giáo viên phải đặt quyết tâm trong suốt cả năm học, đặc biệt là học kì I để giúp nhóm học sinh loại này lấp dần các lỗ hổng kiến thức. Đối với những học sinh này phải có thêm thời gian học dưới sự hướng dẫn lại tỉ mỉ những kiến thức cơ bản, trọng tâm theo một hệ thống riêng và yếu tố dẫn đến thành công là nắm chắc, luyện kĩ. Trong các buổi học trên lớp thường được kiểm tra, rà soát và củng cố các kiến thức, chấm bài song song trong tiết luyện tập, thường xuyên khích lệ động viên mỗi khi các em được điểm cao hơn. Do đó các học sinh này có nhiều tiến bộ; cụ thể là: thích học toán, hay xung phong lên bảng… 2.2. Với đối tượng loại 2: Vấn đề cơ bản là giúp các em lấy lại lòng tự tin, phát huy được những tố chất cơ bản đang tiềm ẩn trong mỗi em trong việc học tập môn Toán. Phương pháp trực quan, hệ thống các bài tập từ dễ đến khó, tìm các cách giải khác nhau cùng với các câu hỏi vừa sức, các bài toán vui, các bài toán gắn với thực tế chính là chìa khoá để giải quyết vấn đề. 2.3. Với đối tượng loại 3: Những học sinh này trong lớp thường không chú ý nghe giảng, mỗi khi làm bài kiểm tra tại lớp thường cẩu thả, không có ý thức kiểm tra lại bài làm. Cô giáo nhắc nhở 13 thì xem lại qua loa cho xong chuyện. Bài tập và bài học ở nhà không chuẩn bị chu đáo trước khi đến lớp. Tóm lại, đối với diện học sinh này cần có sự kết hợp chặt chẽ với phụ huynh nhằm quản lý việc học ở nhà và việc kiểm tra nhắc nhở thường xuyên ở lớp để từng bước đưa các em vào nền nếp học tập. 2.4. Với đối tượng loại 4: Các em này thiếu thốn cả vật chất lẫn tình cảm. Giáo viên bố trí thời gian kèm cặp, lấp dần lỗ hổng kiến thức, hình thành dần phương pháp học toán cho các em. Luôn khích lệ động viên để các em không bị mặc cảm, tự ti mà tự tin vào bản thân mình để từ đó vươn lên trong học tập. Với các em này, cô giáo phải hết lòng thương yêu, giúp đỡ. Cô là chỗ dựa tinh thần và tình cảm của các em. Sự tiến bộ của các em chính là phần thưởng vô giá đối với người giáo viên chủ nhiệm. Riêng những học sinh phát triển thể chất bình thường nhưng năng lực tư duy yếu thì giáo viên phải mất rất nhiều thời gian kèm cặp các em mới đạt được mức trung bình. 3. Tìm hiểu những hạn chế của học sinh trong bộ môn Tiếng Việt và biện pháp khắc phục: + Tập đọc: Dù là học sinh lớp 2, nhưng trong khối còn một số em đọc rất yếu. Như em Phùng Lỳ Phơ, em Lý Go Xá Nguyên nhân đọc yếu ở các em là ngắt nghỉ hơi chưa đúng dấu câu, cụm từ, không phân biệt được các dấu câu (em Xá), ví dụ: đọc tiếng “buông” thành “buôn”, “bão” thành “báo”… chưa đạt được tốc độ đọc của học sinh lớp 2, với những từ có vần khó thì phải đánh vần thật lâu, tùy tiện lượt bớt hoặc thêm từ vào khi đọc. Bên cạnh đó, khả năng đọc trôi chảy, đọc hiểu và cảm thụ một văn bản còn hạn chế. + Chính tả: Đọc đúng là cơ sở, nền tảng của viết đúng. Vì vậy, các em đọc yếu thường cũng viết yếu. Nguyên nhân các em viết yếu là do không hiểu và nắm nghĩa của 14 từ, không nắm vững âm, vần, dấu thanh và cách ghép, một số mắc lỗi do phát âm chưa đúng nên dẫn đến viết sai. + Luyện từ và câu: Vốn từ vựng ít, thường mắc lỗi về ngữ pháp khi viết câu. + Tập làm văn: Khả năng đọc, viết hạn chế ảnh hưởng nhiều khi diễn đạt bằng lời, diễn đạt khi viết. Hơn nữa, hoàn cảnh sống làm hạn chế khả năng hiểu biết của các em. Vì vậy, các em gặp khó khăn khi cần mở rộng hiểu biết về cuộc sống theo các chủ điểm đã học thông qua các kỹ năng như: phân tích đề, tìm ý, quan sát, viết đoạn. 4. Biện pháp cụ thể để giúp học sinh yếu có kỹ năng học tập ở môn Tiếng Việt. 4.1 Tập đọc: Đối với những học sinh đọc yếu thì giáo viên cần: Tạo điều kiện cho học sinh được đọc nhiều trong giờ tập đọc như: thường xuyên gọi các em đọc bài, luyện phát âm đúng, sửa sai kịp thời cho các em và cho các em luyện đọc lại từ sai nhiều lần. Nếu thời gian của tiết học không đủ thì giáo viên có thể tranh thủ cho các em luyện đọc thêm vào buổi 2. Dặn các em về nhà đọc lại bài, có thể đọc tham khảo thêm một văn bản, một bài tập đọc khác có nội dung phù hợp và quan trọng là giáo viên phải kiểm tra và nhận xét đánh giá việc đọc ở nhà của các em để động viên khuyến khích kịp thời. Bên cạnh đó, thỉnh thoảng một hoặc hai tuần giáo viên có thể đến nhà gặp phụ huynh học sinh để xem cách học ở nhà của các em như thế nào, nếu thấy cần thiết thì giáo viên đưa ra biện pháp giúp đỡ. Giáo viên động viên học sinh xuống thư viện mượn truyện thiếu nhi, truyện cổ tích đọc vào giờ nghỉ giải lao. Giáo viên nên dành thời gian để các em thể hiện giọng đọc của 15 mình, đọc câu chuyện trước lớp cho các bạn nghe, cho các bạn nhận xét, đánh giá về sự tiến bộ của các em sau mỗi tuần. Làm được điều này, ta sẽ tạo được niềm tin nơi các em rất nhiều, là động lực thúc đẩy các em say mê rèn đọc. Khi các em đã đọc đúng thì giáo viên tổ chức cho các em luyện đọc trôi chảy thông qua các hình thức đọc trước lớp, đọc trong nhóm. Giúp học sinh mở rộng vốn từ và hiểu nghĩa từ qua việc đọc chú giải và nghe bạn trình bày nghĩa một số từ trong bài đọc, từ đó giúp các em hiểu nội dung bài đọc. 4.2. Chính tả: Đối với những học sinh viết yếu thì giáo viên cần: Tổ chức cho các em ôn lại âm, vần đã học. Giáo viên yêu cầu học sinh mỗi ngày viết khoảng một trang vở gồm cả âm, vần, tiếng, từ. Sau đó, giáo viên đọc cho học sinh viết một đoạn văn mà sử dụng nhiều các âm, vần vừa viết. Chúng ta có thể cho các em viết vào giờ ra chơi hoặc về nhà viết. Các em sẽ có một vở riêng để luyện viết và giáo viên phải thường xuyên kiểm tra, nhận xét đánh giá kịp thời. Nếu có điều kiện thì yêu cầu các em đến nhà của giáo viên để luyện viết thì các em sẽ tiến bộ nhanh hơn. Chỉ cần các em nắm hết các âm, vần thì dần dần các em sẽ viết đúng chính tả. Khi các em đã nắm được các âm, vần thì đối với bài chính tả trong sách giáo khoa, giáo viên cần cho học sinh nêu từ khó và luyện viết từ khó nhiều lần, nhiều từ. Có thể cho các em có chọn từ để luyện viết thêm. Đối với chính tả nhớ viết, các em này thường nhớ rất ít so với yêu cầu nên có thể chấp nhận em viết đến hết phần nhớ được nhưng khuyến khích viết đúng chính tả. 4.3 Luyện từ và câu: 16 4.3.1. Hướng dẫn HS làm bài tập - GV giúp HS nắm vững yêu cầu của bài tập (bằng câu hỏi, bằng lời giải thích). - GV giúp HS chữa một phần của bài tập làm mẫu (một HS chữa mẫu trên bảng lớp hoặc cả lớp làm bài vào vở hay bảng con). - HS làm bài vào bảng con hoặc vào vở. GV uốn nắn. - GV tổ chức cho HS trao đổi, nhận xét về kết quả, rút ra những điểm ghi nhớ về tri thức. 4.3.2. Cung cấp cho HS một số tri thức sơ giản về từ, câu và dấu câu - Về vốn từ: Ngoài những từ được dạy qua các bài tập đọc, những thành ngữ được cung cấp qua các bài tập viết, tăng cường tiếng Việt cho HS theo chủ điểm, ví dụ: + Đơn vị thời gian (ngày, tháng, năm, năm học …); + Đơn vị hành chính (xã, (phường), huyện (quận)); + Đồ dùng học tập; + Đồ dùng trong nhà; + Việc nhà; + Họ hàng; + Vật nuôi. 4.3.3. Cách cung cấp tri thức: Học sinh ở đây, đặc biệt là học sinh yếu, khi giao tiếp các em thường nói 17 không đầy đủ câu, ví dụ: Em học lớp mấy? - Học sinh: lớp ba,….Vì vậy, giáo viên cần phải tăng cường tiếng Việt cho học sinh để giúp các em hoàn thiện về câu và biết sử dụng từ đúng. Về từ loại: nhận ra và biết dùng các từ chỉ người, con vật, dồ vật, hoạt động, trạng thái, đặc điểm để đặt câu; bước đầu có ý niệm và biết viết hoa tên riêng. Về kiểu câu: nhận ra và biết đặt các kiểu câu đơn Ai là gì?, Ai làm gì?, Ai thế nào? Về dấu câu: có ý thức và bước đầu biết đặt câu dấu chấm, chấm hỏi, chấm than, phẩy vào đúng chỗ. Các tri thức nói trên được cung cấp qua các bài tập. GV chỉ cần nêu những tổng kết ngắn như trong SGK, tránh giải thích dài dòng hoặc sa vào lí thuyết Sửa lỗi ngữ pháp trong câu cụ thể, trong giao tiếp hàng ngày. Hướng dẫn các em đối với những từ khó hiểu phiên dịch ra tiếng mẹ đẻ, giúp các em hiểu nghĩa gốc của từ, tạo sự ham thích tìm hiểu (tránh lạm dụng tiếng mẹ đẻ). 4.4. Tập làm văn: Đối với học sinh đặc biệt là học sinh yếu, giáo viên sử dụng đồ dùng trực quan trong tiết học thật sinh động, hướng dẫn các em một cách cụ thể, chi tiết rõ ràng và tăng cường tiếng Việt cho các em để các em có vốn từ khi làm văn. Các loại bài Tập làm văn được bố trí xen kẽ trong từng tuần, góp phần tô đậm nội dung chủ điểm học tập của từng tuần. Vì thế dạy Tập làm văn cần gắn với dạy các phân môn Tiếng Việt khác trong tuần (đặc biệt là Tập đọc , Luyện từ và câu (LTVC ) nhằm mục đích giúp HS nắm và vận dụng tốt hơn các kiến thức đã học ở các phân môn Tiếng Việt khác ứng dụng vào phân môn Tập làm văn. Ví dụ1: 18 Tuần 12: Bài Tập đọc: Điện thoại rất có tác dụng trong việc giúp HS học giờ Tập làm văn: Gọi điện. Ví dụ 2: Tuần 16: LTVC: Bài:Từ chỉ tính chất. Câu kiểu Ai thế nào? Mở rộng vốn từ: từ ngữ về vật nuôi. Qua giờ LTVC, HS quan sát tranh vẽ các con vật nuôi, nắm được một vốn từ phong phú hơn về vật nuôi. Đó chính là những kiến thức cần thiết giúp các em học tốt giờ Tập làm văn: Khen ngợi. Kể ngắn về con vật. Lập thời gian biểu. Không chỉ kết hợp chặt chẽ với các phân môn khác trong Tiếng Việt mà khi dạy Tập làm văn người GV cần kết hợp chặt chẽ với các môn học khác như: Đạo đức, Tự nhiên xã hội ( TNXH )… Vì thế nếu các em nắm vững được những kiến thức này thì khi học Tập làm văn các em sẽ thấy rất nhẹ nhàng, quen thuộc và gần gũi. Khi dạy các bài Tập làm văn về bốn mùa, kể về người, con vật (thú, chim… ), cây cối GV có thể cho HS xem thêm tranh (ảnh ) hoặc băng hình về các chủ đề này nhằm giúp HS nắm được rõ hơn về các hình ảnh của các sự vật. Từ đó làm cho bài văn của các em thêm sống động, có hình ảnh. Cung cấp thêm cho HS những đoạn văn hay về các chủ đề (bốn mùa, người, con vật, cây cối… ) để HS học tập về bố cục đoạn văn, cách kể (cách tả ) sao cho sinh động, phù hợp với đối tượng cần kể (tả ). Ví dụ: Ngay giữa sân trường, sừng sững một cây bàng. Mùa đông, cây vươn dài những cành khẳng khiu, trụi lá. Xuân sang, cành trên cành dưới chi chít những lộc non mơn mởn. Hè 19 về, những tán lá xanh um che mát một khoảng sân trường.Thu đến, từng chùm quả chín vàng trong kẽ lá. Thông qua các câu đố cho HS học tập được cách kể (cách tả ) về bốn mùa, người, con vật, cây cối. Ví dụ: Câu đố: Đầu xanh mũ vua Mình vàng áo giáp Một trăm con mắt Nhìn quanh bốn bề. Câu đố trên nói về quả dứa. Cho HS nêu nhận xét: quả dứa có màu vàng, cuống xanh có vài cái lá non chĩa ra như cái mũ của vua (vương miện ) nhờ câu: Đầu xanh mũ vua; mình vàng áo giáp .Quanh vỏ có nhiều mắt (Một trăm con mắt nhìn quanh bốn bề ). 4.5. Tập viết: Để hướng dẫn các em viết đúng, giáo viên nghiên cứu các nét cơ bản cấu tạo chữ, nắm vững các vị trí các chỗ đặt bút và vị trí của điểm dừng bút, trong một chữ hoa thường xuyên luyện tập để khi dạy tập viết được nhanh và thành thạo – yêu cầu học sinh phải nắm vững kích cỡ của từng chữ hoa, viết được những chữ cái hoa cũng như chữ viết thường nào có cùng độ cao. Giờ tập viết học sinh luyện tập trên bảng con, giáo viên luôn quan tâm kiểm tra học sinh đặc biệt là học sinh yếu viết đúng qui trình trên dòng kẻ của bảng con đã kẻ sẵn dành cho học sinh luyện viết, chú ý điểm đặt bút và dừng bút của nét chữ đó đã đúng vị trí chưa, nếu chưa đúng cho viết lại một lần nữa để tập viết đúng trên bảng con trước khi thực hành vào vở. khi tập viết trong vỡ giáo viên luôn nhắc nhở học sinh chú ý điểm đặt 20
- Xem thêm -