Skkn phương pháp tạo hứng thú trong dạy học môn giáo dục công dân lớp 12

  • Số trang: 15 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 15 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

\ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: "PHƯƠNG PHÁP TẠO HỨNG THÚ TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 12" 1 \ I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. Bộ môn giáo dục công dân ở trường THPT có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng. Đó là một trong những môn học góp phần tạo nên nội dung dạy học, giáo dục trên toàn diện. Việc hình thành và giáo dục thường xuyên phương pháp luận khoa học, đạo đức và pháp luật cho học sinh do tất cả các môn học, các hình thức, giáo dục của nhà trường thực hiện. Song, chỉ có môn giáo dục công dân mới có thể giáo dục trực tiếp cho học sinh những tri thức theo một hệ thống xác định, toàn diện. Đặc biệt, môn giáo dục công dân ở lớp 12 chủ yếu giúp học sinh hiểu về pháp luật, sống theo pháp luật, biết được những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy, kiến thức môn giáo dục công dân ở lớp 12 tương đối khô khan, nhiều khái niệm, khó học, khó nhớ. Mặt khác, thực tế dạy học môn giáo dục công dân hiện nay cho thấy, phương pháp dạy học chủ yếu là lối truyền thụ một chiều, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học. Với phương pháp dạy học như vậy, sẽ không đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ môn học và làm giảm sút vị trí của môn học. Từ những yêu cầu và thực trạng trên đã thôi thúc tôi cần phải có sự thay đổi về phương pháp dạy học để tạo hứng thú học tập cho học sinh, và đó cũng là lý do tôi chọn đề tài: “Những phương pháp tạo hứng thú trong dạy học môn giáo dục công dân lớp 12 ở trường THPT Đông Sơn 1”. II. NỘI DUNG. 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHƯƠNG PHÁP TẠO HỨNG THÚ TRONG HỌC TẬP. 1.1. Phương pháp tạo hứng thú trong học tập là gì? Hứng thú trong học tập phải là điều đầu tiên mà giáo viên cần đem tới cho học sinh trong quá trình dẫn dắt học sinh tìm hiểu những kiến thức bổ ích. Tạo hứng thú trong học tập là tập hợp nhiều phương pháp nhằm tạo ra sự hưng phấn trong tư duy, trong nhận thức theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. 1.2. Đặc điểm của phương pháp tạo hứng thú trong học tập. - Phương pháp tạo hứng thú trong học tập là một hệ thống các phương pháp trong đó giáo viên dẫn dắt, tạo được sự hứng khởi ở người học, có tác dụng tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học. 2 \ - Phương pháp tạo hứng thú trong học tập có những nét cơ bản là tạo cho người học tự tìm tòi khoa học mà trong đó tư duy, độc lập sáng tạo vừa là phương tiện vừa là mục đích của quá trình dạy học. - Phương pháp tạo hứng thú trong học tập có yêu cầu cao đối với người dạy và người học, giúp học sinh nắm chắc kiến thức, nhớ lâu. - Phương pháp tạo hứng thú trong học tập có thể áp dụng rộng rãi cho nhiều môn học, nhiều dạng bài học ở những mức độ khác nhau. 1.3. Một số phương pháp tạo hứng thú trong học tập. Tạo hứng thú trong học tập là một hệ thống các phương pháp nhằm tạo sự hưng phấn, phấn khích trong tư duy để từ đó phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập và sáng tạo trong học tập của học sinh. Trong khuôn khổ sáng kiến kinh nghiệm này tôi không thể nêu lên tất cả các phương pháp, mà chỉ nêu một số phương pháp đặc trưng nhất, phù hợp nhất với giảng dạy môn giáo dục công dân lớp 12, đó là các phương pháp sau: - Sử dụng những hình ảnh trực quan sinh động. - Kể những câu chuyện gần gũi trong cuộc sống. - Phương pháp xử lý tình huống kết hợp với tiểu phẩm. 1.4. Vị trí, vai trò của phương pháp tạo hứng thú trong học tập trong dạy học giáo dục công dân lớp 12. - Vị trí và nhiệm vụ của môn giáo dục công dân lớp 12. + Vị trí: Cùng với môn học khác, môn giáo dục công dân lớp 12 góp phần đào tạo ra những con người lao động mới, có tri thức khoa học, có đạo đức, có năng lực hoạt động thực tiễn, có phẩm chất chính trị, tư tưởng, có ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng, với gia đình và với chính bản thân mình. Môn giáo dục công dân lớp 12 góp phần hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh. + Nhiệm vụ: Môn giáo dục công dân lớp 12 có nhiệm vụ giáo dục trực tiếp cho học sinh kiến thúc về pháp luật một cách tương đối có hệ thống, toàn diện, giúp học sinh hiểu rõ bản chất và vai trò của pháp luật đối với sự phát triển của công dân, đất nước và nhân loại; hiểu rõ quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. - Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 12 ở trường THPT. Quá trình dạy học về bản chất là quá trình nhận thức của học sinh. Quá trình nhận thức của học sinh về cơ bản diễn ra theo quy luật nhận thức là: “ Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của 3 \ nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan”. ( V.I Lênin, toàn tập, tập 29 trang 152 – 153) Đối với học sinh lớp 12 bậc PTTH ở vào lứa tuổi 17, 18 các em đã tương đối trưởng thành về mặt nhận thức. Đặc điểm tâm sinh lý của các em là thích những gì mới có liên hệ thực tế, kiến thức được tiếp thu phải mang đầy màu sắc và có tính lung linh ước mơ. Bên cạnh đó, hoạt động lại phải tạo được môi trường để các em tự khẳng định mình. Đặc trưng nổi bật của các em là: yếu tố về niềm tin, ý thức về đạo đức không chỉ thể hiện ở khối lượng kiến thức được truyền đạt mà chủ yếu ở tính tích cực độc lập tư duy, thái độ đối với công việc, với những định hướng giá trị tình cảm, những hứng thú học tập của học sinh. Vì vậy, đối với học sinh lớp 12 ở trường THPT giáo viên cần phát huy tính tích cực nhận thức, tránh áp đặt trong giáo dục. Bởi vì, đối với các em, không dễ gì các em chấp nhận ngay những lời khẳng định của Thầy mà các em thường đặt ra câu hỏi: nó có thật đúng hay không? Nếu đúng thì đúng ở điểm nào? .... Vì ngoài học ở trường ra, các em đã có sự nhận thức trong cuộc sống thực tế xung quanh mình. Nếu giáo viên buộc học sinh chấp nhận ngay những điều mà mình giáo dục qua nội dung bài giảng thì tức là bắt học sinh tiếp thu một cách thụ động, giờ học sẽ tẻ nhạt, khô cứng, không gây được hứng thú cho học sinh. - Vai trò của phương pháp tạo hứng thú trong việc dạy học môn giáo dục công dân lớp 12. Tạo hứng thú trong học tập sẽ giúp người học tham gia vào các hoạt động học tập ở mức độ cao. Người học không học thụ động, chỉ nghe thầy giảng và truyền đạt kiến thức mà học tập tích cực bằng hành động của chính mình. Những trí thức trong môn giáo dục công dân lớp 12 chủ yếu là những nội dung cơ bản của pháp luật nên rất khô khan, khó nhớ, khó dung nạp. Vì vậy, tạo hứng thú trong học tập sẽ giúp học sinh đỡ mệt mỏi, nhàm chán, học sinh sẽ phấn khởi tham gia vào hoạt động như là một quá trình tự học, tự đào tạo. Nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa mức độ lưu giữ thông tin của học sinh với các phương pháp dạy học như sau: Bảng 1.1. Mối quan hệ giữa mức độ lưu giữ thông tin của học sinh đối với các phương pháp dạy học: Phương pháp Độ lưu trữ thông tin Nghe thuyết trình 5% Đọc 10% 4 \ Nghe nhìn 20% Trình diễn 30% Nhóm thảo luận 50% Thực hành bằng cách làm thực tế 75% Xử lý tình huống kết hợp với tiểu 90% phẩm Nguồn: Theo nghiên cứu được tiến hành tại phòng đào tạo quốc gia (54-129) Như vậy: Những phương pháp như thực hành bằng cách làm thực tế, đặc biệt là phương pháp để học sinh tự xử lý tình huống sẽ rất có hiệu quả với sự lưu trữ thông tin của học sinh. Tạo hứng thú trong học tập môn giáo dục công dân lớp 12 sẽ khuyến khích lòng say mê, tính tự giác, chủ động trong học tập của người học, giúp người học phát triển các kỹ năng tư duy và kỹ năng giao tiếp cơ bản, đó cũng là những kỹ năng cần thiết để người học trở thành người lao động có hiệu quả, có khả năng học suốt đời trong bất kỳ hoàn cảnh nào. 2. THỰC TRẠNG VỀ DẠY VÀ HỌC MÔN GDCD LỚP 12 . 2.1. Thực trạng về học tập môn giáo dục công dân lớp 12. Qua kết quả kiểm tra, thi cử: Kết quả điểm tổng kết kỳ I năm học 2011 – 2012 của tổng số 247 em học sinh khối 12 đạt được như sau: Bảng 2.1: Xếp loại môn GDCD học kỳ I năm học 2011 – 2012 của 6 lớp 12. Xếp loại Tiêu chuẩn phân loại Số lượng sinh Loại giỏi Từ 8.0 trở lên 3 1,2 Loại khá Từ 6.5 đến 7.9 150 60,7 89 36,0 Loại bình trung Từ 5.0 đến 6.4 học Tỉ lệ % 5 \ Loại yếu kém Dưới 5.0 5 2,0 Qua bảng xếp loại học tập môn giáo dục công dân ở lớp 12 ở Trường THPT Đông Sơn 1 ta thấy: - Số học sinh đạt loại giỏi trong học tập môn giáo dục công dân rất ít chỉ có 1,2%. - Số học sinh xếp loại trung bình môn giáo dục công dân cò tương đối nhiều, chiếm 36% - Đặc biệt số học sinh xếp loại yếu, kém trong môn giáo dục công dân vẫn còn, chiếm 2%. - Mức độ hứng thú học tập môn giáo dục công dân. Bảng 2.2: Điều tra mức độ hứng thú học tập môn GDCD Có thích học môn GDCD Vì Số học mô n HS học được điều tra bổ ích, cần thiế t Lớp 12A7: Vì thầy giảng rất hấp dẫn Lí Cộng do tỉ lệ khá (%) c 10 5 0 11 4 1 40 HS Lớp 12A8: 42 HS Không thích học môn GDCD Vì thầy giảng khôn g hấp dẫn Lí Cộng do tỉ lệ khá (%) c 15=37, 20 5 5 0 25= 62,5 16=38 3 2 26= 62 Vì khó học, khó nhớ 21 Khôn g trả lời 6 \ Lớp 12A9: 39 HS Lớp12A 10: 40 HS Lớp12A 11: 37 HS Lớp12A 12: 49 HS Tổng:2 47 13 3 0 16 =41 15 3 5 23 =59 14 4 0 18 =45 16 4 2 22 =55 12 2 0 14 =37,8 14 3 6 23 = 62,2 13 4 1 18=36, 20 7 4 7 31 =63,3 97 = 39% 150 = 60,7% Qua kết quả điều tra, chúng ta nhận thấy: Có 39% học sinh cảm thấy thích học môn giáo dục công dân. Trong số này có 22% số học sinh thích học môn GDCD vì lí do giáo viên giảng bài hấp dẫn. Có 60,7% số học sinh không thích học môn GDCD . Trong số này có 22/150 = 14,6% cho rằng vì giáo viên giảng bài khong hấp dẫn và có 106/150 = 70% học sinh cho rằng vì môn GDCD lớp 12 khó học, khó nhớ. Như vậy: Qua kết quả điều tra thu được và qua trò chuyện, tâm sự với học sinh, tôi nhận thấy: 7 \ - Đa số học sinh chưa nhận thức đúng về vị trí, vai trò và tầm quan trọng trong việc học tập môn GDCD, nhiều học sinh cho rằng đó chỉ là môn học phụ, học cũng được, không học cũng được. - Đa số học sinh còn chưa hứng thú trong việc học tập môn GDCD, chiếm 60,7%. Thậm chí còn có một số học sinh chán học môn này. - Có hai nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng học sinh không thích học môn GDCD là do nội dung môn học khó học, khó nhớ và do thầy giảng bài không hấp dẫn. Do nhận thức chưa đúng vị trí, vai trò của môn GDCD và do giáo viên giảng bài không hấp dẫn lại thêm nội dung môn học khó học, khó nhớ dẫn đến một thực trạng phổ biến là học sinh chưa thích học môn GDCD và do vậy kết quả xếp loại học tập cũng chưa cao. Đa số học sinh trường THPT Đông Sơn 1 chỉ xếp loại khá và trung bình, chiếm 96,7% số học sinh. 2.2. Thực trạng việc dạy học của giáo viên. Đi sâu tìm hiểu về các phương pháp dạy học của giáo viên môn GDCD tôi nhận thấy còn nhiều hạn chế sau: Thứ nhất: Giáo viên chưa chú ý đến việc tìm hiểu thật kỹ nội dung để từ đó lựa chọn phương pháp phù hợp. Việc lựa chọn phương pháp tùy tiện, không có cơ sở khoa học, chưa thấm nhuần tư tưởng. Phương pháp là hình thức vận động của nội dung việc sử dụng các phương pháp không theo một quy trình chặt chẽ, trên cơ sở khoa học. Với nội dung có thể vận dụng. Phương pháp dạy học tích cực như trực quan, thảo luận, xử lý tình huống, kết hợp tiểu phẩm ... nhưng phần lớn giáo viên vẫn chỉ sử dụng phương pháp thuyết trình là chủ yếu. Thứ hai: Giáo viên chuẩn bị bài lên lớp còn sơ sài, chưa đầu tư thời gian, công sức và tâm huyết vào khâu chuẩn bị này nên việc áp dụng các phương pháp để tạo hứng thú cho học sinh còn chưa được thường xuyên. Thứ ba: Qua việc dự giờ của một số giáo viên, tôi nhận thấy: Về cấu trúc của giờ học, đa số giáo viên đều làm theo một khuôn mẫu, một trình tự nhất định ( gọi là các bước lên lớp), ổn định tổ chức ( hỏi xem có em nào vắng mặt không?), kiểm tra bài cũ ( Từ 1 đến 2 em), sau đó thầy giảng bài mới theo trình tự nội dung sách giáo khoa, cuối cùng là củng cố, dặn dò. Với phương pháp làm việc như vậy, làm cho học sinh khi bước vào đầu giờ học đã biết thầy làm những gì. Đó là điều khô cứng, máy móc, làm cho học sinh thiếu hứng thú trong học tập, vì các em không thấy điều gì mới lạ, mà những điều mới lạ mới kích thích nhận thức, mới thu hút sự chú ý của các em. 8 \ Những hạn chế trên đã không tạo ra được sự hứng thú trong học tập, ảnh hưởng đến tính tích cực nhận thức của học sinh. Và do đó giảm chất lượng học tập bộ môn. Như vậy, chúng ta có thể khẳng định: Vì sao chất lượng giáo dục chưa tốt. Đó là vì trình độ của giáo viên chưa đủ tốt để dạy tốt ... Ngoài ra, còn nhiều nguyên nhân khác nhau nữa, nhưng phải thấy cái chủ yếu, cái có tác dụng quyết định nhất vẫn là đội ngũ giáo viên chưa đủ trình độ về mọi mặt: Kiến thức, phương pháp, kinh nghiệm và lòng nhiệt tình yêu nghê. 3. CÁCH THỰC HIỆN MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TẠO HỨNG THÚ TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD. 3.1. Sử dụng những hình ảnh trực quan sinh động. Bước 1: Chuẩn bị. - Giáo viên nghiên cứu kỹ nội dung bài dạy và các sách hướng dẫn giảng dạy. - Giáo viên chuẩn bị những hình ảnh trực quan sẽ đưa vào bài học cho phù hợp với nội dung. Để có hình ảnh, giáo viên hãy truy cập mạng Internet sưu tầm hình ảnh trên các trang báo, liên hệ với tòa soạn báo tuổi trẻ, báo an ninh để xin hình ảnh tư liệu. Giáo viên có thể tự chụp những hình ảnh về cuộc sống đời thường. Bước 2: Trình diễn các hình ảnh trực quan. - Giáo viên phải nắm chắc kỹ thuật trình diễn. Nếu là tranh ảnh minh họa bằng giấy thì đơn giản hơn, nhưng với những hình ảnh sử dụng ở máy tính thì giáo viên nắm chắc khâu kỹ thuật để trình chiếu. - Khi trình diễn các hình ảnh trực quan, giáo viên nên kết hợp với các câu hỏi kèm theo để học sinh vừa quan sát vừa suy nghĩ tìm tòi kiến thức ẩn chứa trong đó. Bước 3: Học sinh xem hình ảnh trực quan và suy nghĩ trả lời: - Giáo viên phải dành một khoảng thời gian nhất định để học sinh cả lớp có thể tiếp cận được với các hình ảnh trực quan. - Khi học sinh trả lời câu hỏi, giáo viên hãy tỏ ra hài lòng đối với các câu trả lời của các em và luôn luôn khen ngợi các câu trả lời đúng. Học sinh sẽ cảm thấy tự tin hơn khi giáo viên cười hay có lời khen. Nếu câu trả lời bị sai, giáo viên nên nêu ra lý do tại sao lại sai ( mà không vứt bỏ câu trả lời này), sau đó đặt câu hỏi khác để đưa học sinh trở lại đúng hướng. Bước 4: Kết luận 9 \ Giáo viên phải biết thu về những hình ảnh trực quan đúng lúc và biết kết luận về những hình ảnh đã đưa ra, thống nhất lại nội dung (chốt lại vấn đề). Đây là giai đoạn cuối rất quan trọng để học sinh căn cứ vào đó điều chỉnh, bổ sung thêm kiến thức mà mình đã suy nghĩ. 3.2. Kể những câu chuyện gần gũi trong cuộc sống. Bước 1: Chuẩn bị. - Giáo viên phải nghiên cứu kỹ nội dung bài dạy. - Giáo viên chuẩn bị sẵn sàng những câu chuyện mà mình sẽ kể. Những câu chuyện minh họa cho bài giảng pháp luật rất nhiều. Giáo viên có thể sưu tầm trên mạng, trên sách báo, đặc biệt là báo tuổi trẻ, báo an ninh. Những câu chuyện mà giáo viên được chứng kiến trong trường lớp, trong cuộc sống. Bước 2: Giáo viên kể chuyện minh họa cho học sinh nghe. - Giáo viên có thể đọc một câu chuyện trong báo đã chuẩn bị hoặc tự kể bằng ngôn ngữ của mình. Ví dụ: - Trong bài 2: Thực hiện pháp luật – SGK lớp 12 ở mục: Các loại vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý. Giáo viên có thể kể những câu chuyện có thật về hành vi vi phạm hình sự như hành vi xâm phạm tính mạng ( vụ án Lê Văn Luyện); những vi phạm hành chính như những câu chuyện về buôn bán hàng giả; điều khiển giao thông vi phạm quy định về an toàn giao thông. - Trong bài 6, bài 7, bài 8: có rất nhiều câu chuyện, nhiều tình huống đời thật giáo viên có thể kể cho học sinh nghe. Đó là những câu chuyện về quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở.... Bước 3: Kết luận. Qua những câu chuyện đã kể, giáo viên phải biết cùng học sinh nhận xét, chốt lại vấn đề đó chính là những nội dung bài học mà giáo viên cần chuyền tải đến học sinh. 3.3. Phương pháp xử lý tình huống kết hợp với tiểu phẩm. Đây là một phương pháp yêu cầu nhiều thời gian và công sức của giáo viên và học sinh, nhưng nếu chuẩn bị tốt thì hiệu quả của phương pháp này rất cao gây được hứng thú cao độ cho học sinh, vì ở học sinh lớp 12 các em rất thích được trình diễn, được tự khẳng định mình. Đây là phương pháp “ sân khấu” hóa giờ học, trong đó học sinh hóa vai vào 10 \ các nhân vật trong một tình huống cụ thể. Tình huống ở đây là một kịch bản nhỏ do giáo viên hoặc chính học sinh soạn sẵn. Bước 1: Chuẩn bị. - Giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian và công sức để chuẩn bị một giáo án thật tốt. Phải nghiên cứu kỹ nội dung để lựa chọn những tình huống có thể xây dựng được một kịch bản nhỏ. Kịch bản này, theo tôi giáo viên nên phác thảo ý tưởng và phần mở đầu, phần còn lại nên để học sinh tự thảo luận trong nhóm và xây dựng tiếp, có như vậy mới phát huy được cao độ óc sáng tạo và tính tự khẳng định mình của học sinh. Ví dụ: Khi dạy học bài 3: Công dân bình đẳng trước pháp luật ở mục 2. Công dân bình đẳng về trách nhiệm pháp lý. - Nội dung của phần này là giúp học sinh hiểu rõ: Công dân dù ở địa vị nào làm bất cứ nghề gì khi vi phạm pháp luật đều phải chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật. Khi công dân vi phạm pháp luật với tính chất và mức độ vi phạm như nhau, trong một hoàn cảnh như nhau thì từ người giữ vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước cho đến người lao động bình thường đều phải chịu trách nhiệm pháp lí như nhau, không phân biệt đối xử. - Với nội dung như trên, giáo viên có thể xây dựng một tiểu phẩm nhỏ như sau: Nhân vật: Công an Công dân 1: là người lao động bình thường Công dân 2 là cháu của một cán bộ cấp tỉnh. + Nội dung kịch bản: Cả 2 công dân đều vượt đèn đỏ ở Ngã tư Phú Sơn và bị công an mời về bốt điều khiển ở đó để giải quyết. Công an đã làm đúng nhiệm vụ của mình và yêu cầu cả 2 công dân phải nộp tiền phạt vì vi phạm luật an toàn giao thông. Tình huống xảy ra là: Công dân 1 nộp phạt, còn công dân 2 không nộp phạt, gọi điện cho chú là cán bộ cấp tỉnh để xin không bị phạt, người chú đó gọi điện lại cho công an. + Người chú đó nói gì với công an? + Công an đó đã xử lý như thế nào? - Phần nội dung còn lại đó giáo viên chia lớp thành 2 tổ, mỗi tổ tự thảo luận, đưa ra phương án giải quyết của công an và sau đó tự cử 3 bạn lên diễn toàn bộ tiểu phẩm. 11 \ Với nội dung tiểu phẩm này, giáo viên nên chuẩn bị mượn trước một bộ quần áo công an, một còi để học sinh diễn. - Hoặc cũng với nội dung bài học trên giáo viên có thể xây dựng một kịch bản có nội dung Tòa án nhân dân xét xử vụ án Lương Cao Khải, nguyên phó vụ 2 Thanh tra chính phủ và đồng phạm liên quan 4 dự án của tổng công ty dầu khí Việt Nam, Lương Cao Khải bị phạt 17 năm tù giam, ... Bước 2: Xử lý tình huống và diễn tiểu phẩm. Giáo viên cung cấp các thông tin để học sinh hiểu nội dung của tình huống và chia lớp thành 2 nhóm để các em tự diễn theo sáng tạo của mỗi nhóm. Ví dụ: Ở tình huống đã nêu các em rất hào hứng khi được tự diễn và còn rất sáng tạo trong xử lý tình huống diễn xuất vai công an. (ở lớp đã thực nghiệm, học sinh diễn vai công an đã nói rất rõ ràng và dứt khoát với ông chú của công dân 2 là: “ Anh ạ, anh ấy (người vi phạm – công dân 2) là cháu của anh còn tôi, đang làm nhiệm vụ và tôi là cháu Bác Hồ!” sau đó cúp máy và vẫn yêu cầu người vi phạm nộp phạt giống công dân 1.) Bước 3. Kết luận. - Sau khi các tổ diễn xuất để xử lý tình huống xong giáo viên phải tổ chức cho lớp thảo luận nhanh và đánh giá cách giải quyết tình huống mà học sinh đã thực hiện. - Cuối cùng học sinh phải hiểu được nội dung của bài học thông qua tiểu phẩm một cách rõ ràng, tường tận. Các em sẽ có niềm vui của sự tự mình khám phá, tự mình thể hiện. 4. HIỆU QUẢ. Trong năm học 2011 – 2012 tôi được nhà trường phân công giảng dạy 11 lớp, trong đó có 6 lớp 12 với 247 học sinh. Vì vậy, tôi đã có nhiều điều kiện để làm thực nghiệm và có lớp để đối chứng kết quả. - Với những lớp đã được vận dụng một số phương pháp tạo hứng thú trong học tập cho học sinh, kết quả thu được rất khả quan. + Học sinh học tập với không khí sôi nổi, hào hứng, tình trạng chán học, thụ động không còn nhiều đa số các em đều tham gia tích cực vào những hoạt động mà giáo viên đưa ra. + Kết quả học tập cũng thu được tốt hơn, tất nhiên giáo viên phải có phương pháp kiểm tra, đánh giá theo tình thần đổi mới. + Bản thân chính giáo viên cũng thấy vui hơn, yêu nghề và yêu học sinh hơn vì được gần gũi, được cùng nhau chia sẻ trong các câu chuyện, các tình huống của bài học. 12 \ 4.1. Tiến hành thực nghiệm. Đối tượng thực nghiệm: Lớp 12A9, 12A10, 12A11 Nội dung thực nghiệm: Bài 3: Công dân bình đẳng trước pháp luật Bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản Bài 7: Công dân với các quyền dân chủ Lớp đối chứng: 12A7, 12A8, 12A12 4.2. Kết quả thực nghiệm. - Kết quả xếp loại học kỳ I của 3 lớp thực nghiệm cao hơn 3 lớp đối chứng. Cụ thể: ở lớp thực nghiệm có 3 học sinh được xếp loại giỏi môn GDCD, không có học sinh xếp loại yếu kém, số học sinh xếp loại khá chiếm hơn 70%. Ở các lớp đối chứng, không có học sinh nào xếp loại giỏi, vẫn còn 5 em xếp loại yếu kém và số học sinh xếp loại khá chỉ chiếm 50%. Đặc biệt, sang học kỳ II của năm học 2011 – 2012, ở các lớp thực nghiệm, kết quả bài kiểm tra 15 phút và bài kiểm tra 1 tiết đều rất cao. Cụ thể: Ở lớp 12A9 bài kiểm tra 1 tiết có 28/39 học sinh được điểm từ 8 -> 10, không có học sinh bị điểm dưới trung bình. Trong khi đó, ở lớp đối chứng như 12A8, cũng bài kiểm tra 1 tiết, không có học sinh nào được điểm 8 trở lên, ở bài kiểm tra 15 phút vẫn còn 8/42 học sinh bị điểm dưới trung bình. Như vậy: Sau khi thực nghiệm và có kiểm tra, đánh giá kết quả, so sánh với lớp đối chứng và so sánh kết quả của lớp thực nghiệm trước và sau khi vận dụng phương pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh, kết quả đã chứng minh được tính hiệu quả của việc vận dụng một số phương pháp nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh. Tính hiệu quả không chỉ thể hiện ở kết quả điểm số các bài kiểm tra cao hơn mà còn thể hiện ở việc người học dễ dàng nắm vững kiến thức đã được học, khắc sâu kiến thức trong trí nhớ vì những kiến thức này chủ yếu là do người học đã tích cực, chủ động, sáng tạo, và có hứng thú trong quá trình học tập. Vận dụng một số phương pháp tạo hứng thú vào giảng dạy còn giúp học sinh rèn luyện được một số kỹ năng sống cơ bản như hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện quan điểm ... từ đó người học có thái độ yêu mến, thích học môn GDCD. 5. ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG. 13 \ Để vận dụng được một số phương pháp gây hứng thú học tập vào dạy môn GDCD lớp 12 cần phải có những điều kiện nhất định. Đó là tất cả các yếu tố tham gia vào quá trình dạy học, ở đây tôi chỉ nêu ra những điều kiện thật cần thiết đối với giáo viên, học sinh, chương trình, SGK và thiết bị dạy học. 5.1. Đối với giáo viên. Để vận dụng tốt các phương pháp gây hứng thú cho người học môn GDCD, điều kiện không thể thiếu được và vô cùng quan trọng đối với giáo viên đó là việc chuẩn bị giáo án. Nếu giáo án được chuẩn bị kỹ càng, được đầu tư nhiều công sức thì sẽ quyết định phần lớn đến hiệu quả của giờ dạy học. Nếu giáo án chuẩn bị sơ sài thì khi lên lớp giáo viên dạy sẽ khó hấp dẫn, không gây được hứng thú học tập cho học sinh. Muốn vận dụng được phương pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh thì giáo viên soạn giáo án phải thể hiện được rõ ràng từng nội dung đơn vị kiến thức của bài học tương ứng với nó là từng hoạt động của giáo viên và hoạt động của học sinh. 5.2. Đối với học sinh. Để vận dụng tốt phương pháp gây hứng thú học tập cho học sinh thì chính học sinh phải có ý thức học tập một cách tự giác, tích cực và sáng tạo. Sẽ không thể vận dụng được tốt nếu học sinh học tập một cách thụ động, giáo viên bảo như thế nào thì miễn cưỡng làm theo mà không động não, không suy nghĩ. Bản chất của quá trình dạy học là biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, quá trình truyền thụ kiến thức của giáo viên thành quá trình tự học của học sinh. Học sinh phải chủ động tiếp thu kiến thức, phải có nhu cầu muốn tìm hiểu, tìm tòi những kiến thức mới. Xét đến cùng, học sinh mới là chủ thể của quá trình tiếp nhận kiến thức mới. 5.3. Chương trình và SGK. Từ năm học 2011 – 2012, Bộ Giáo dục đào tạo đã có công văn về điều chỉnh nội dung dạy học theo hướng tinh giảm các nội dung, để giáo viên và học sinh dành thời gian cho các nội dung khác. Đây là điều kiện rất thuận lợi để giáo viên và học sinh có nhiều thời gian hơn cho việc áp dụng một số phương pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh như đã trình bày. 5.4. Thiết bị dạy học. Thiết bị dạy học là điều kiện không thể thiếu được khi vận dụng những phương pháp dạy học tích cực. Khi giáo viên muốn trình chiếu các hình ảnh để phục vụ bài giảng nhất thiết phải có máy chiếu, những phương tiện này hiện nay ở trường THPT Đông Sơn 1 chỉ có ở một số phòng học, thường là dành cho các buổi thao giảng, còn ở tất cả các phòng học 14 \ bình thường đều không có, điều này là một khó khăn lớn khi giáo viên muốn vận dụng phương pháp dạy học có sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học. III. KẾT LUẬN. Tạo hứng thú học tập cho học sinh nói chung và trong môn GDCD, nói riêng là việc làm mang lại ý nghĩa và hiệu quả cao trong công tác giảng dạy. Những hình ảnh thuyết phục, những tiểu phẩm hay, những câu chuyện pháp luật gần gũi với cuộc sống sẽ mang lại cho học sinh không khí học tập vui vẻ, sôi nổi và để lại trong tâm trí các em nhiều đáng nhớ, độ lưu giữ thông tin cao và lâu. Trong thực tế dạy học của mình, tôi đã cố gắng để làm cho bài giảng sinh động hơn, hấp dẫn hơn và học sinh do đó học tập cũng hứng khởi hơn, kết quả học tập cũng được nâng cao hơn. Việc vận dụng được một số phương pháp dạy học nhằm tạo ra hứng thú học tập cho học sinh, cũng không phải là khó khăn lắm đối với giáo viên, chỉ cần chúng ta yêu nghề, yêu học sinh và đầu tư thời gian, công sức vào là có thể làm được. Do thời gian và khả năng nghiên cứu còn hạn chế nên sáng kiến kinh nghiệm này còn những thiếu sót nhất định. Tôi rất mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn đọc để chất lượng dạy học ở trường THPT nói chung và bộ môn GDCD nói riêng ngày càng tốt hơn, đáp ứng được nhu cầu đào tạo con người mới trong thời đại ngày nay. 15
- Xem thêm -