Skkn phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy các bài thực hành trong chương trình sinh học 8

  • Số trang: 16 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 39 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

ĐĐ SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ GIANG Trường cấp II-III Tân Quang SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MÔN SINH HỌC 8 Đề tài: “ Phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy các bài thực hành trong chương trình Sinh học 8” Giáo viên : Lã Văn Châu Sinh ngày :20/ 02/ 1983 Đơn vị công tác : Trường cấp II – III Tân Quang Năm học 2008- 2009 1 LỜI NÓI ĐẦU Ngành Giaó dục đã và đang thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực tự giác của học sinh. Trong phương pháp dạy học mới này, học sinh là người chủ động giành lấy kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Đặc biệt năm học 2006-2007 toàn ngành đang tích cực hưởng ứng cuộc vận động hai không “ Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”. Vì vậy việc trang bị hệ thống kiến thức cho học sinh là vấn đề đang được toàn xã hội quan tâm. Với mục tiêu phát triển toàn diện, mỗi bộ môn có một vị trí và vai trò nhất định, môn Sinh học 8 cũng nằm trong hệ thống đó và nó góp phần thực hiện tốt mục tiêu và nhiệm vụ của bộ môn Sinh học. Để thực hiện được mục tiêu đó phải kể đén vai trò quan trọng của các tiết thực hành. Trong khi đó các tiết thực hành thường bị xem nhẹ, ít được coi trọng chưa phát huy được vai trò của nó. Vì vậy tôi tham gia nghiên cứu đề tài: “ Phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy các bài thực hành trong chương trình Sinh học 8” Để tìm ra các biện pháp nâng cao chất lượng khi giảng dạy bài thực hành. Do thời gian nghiên cứu mở rộng kiến thức của đề tài còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp của các cấp lãnh đạo và các đồng nghiệp! Xin chân thành cảm ơn! 2 I- LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 1- Cơ sở lý luận: Bộ môn Sinh học nói chung và Sinh học lóp 8 nói riêng là bộ môn khoa học thực nghiệm nằm trong hệ thống khoa học tự nhiên cần có sự kết hợp linh hoạt giữa các phương pháp, giữa lý thuyết và thực hành. Qua quá trình giảng dạy Sinh học 8 nhằm cung cấp cho học sinh những hiểu biết khoa học về đặc điểm cấu tạo, hoạt động của các cơ quan, hệ cơ quan và trong mọi hoạt động sống của con người gíup cho con người sinh tồn và phát triển. Trên cơ sở đó giáo dục cho học sinh biết các biệt pháp vệ sinh, rèn luyện thân thể, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ, nâng cao năng suất, hiệu quả trong học tập góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo những con người lao động linh hoạt năng động, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đồng thời cũng rèn luyện các kỹ năng nghiên cứu bộ môn cho học sinh và cũng góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục THCS. Để thực hiện mục tiêu trên, việc dạy Sinh học 8 cần phải thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ trang bị các kiến thức, phát triển năng lực nhận thức, rèn kỹ năng và nhiệm vụ giáo dục tư tưởng cho học sinh như nhiệm vụ giảng dạy Sinh học 8 đã nêu ở trên. Để có được kết quả đó không thể không kể đến vai trò to lớn của các tiết thực hành ( tuy rằng chúng chiếm thời lượng rất nhỏ 7/70 tiết) Qua các tiết thực hành gíup học sinh rèn luyện các năng lực sau: - Khai thác kiến thức từ quan sát và từ mẫu vật, hình ảnh. - Rèn kỹ năng bộ môn, đặc biệt là các kỹ năng áp dụng trong thực tế: kỹ năng sơ cứu băng bó gãy xương, cầm máu và hô hấp nhân tạo. 3 - Rèn luyện kỹ năng làm tường trình, thu hoạch từ đó giúp học sinh bổ sung kiến thức và kiểm nghiệm kiến thức qua thực tế. 2- Cơ sở thực tiễn: Các bài dạy về cấu tạo mô, tế bào, hoạt động của enzim trong nước bọt, chức năng của tuỷ sống.. sẽ không sâu sắc học sinh không được củng cố và kiểm nghiệm kiến thức nếu như không có các tiết thực hành hỗ trợ và các tiết thực hành cũng không được thực hiện thành công nếu không có lý thuyết “ lý thuyết không có thực hành là lý thuyết suông, thực hành không có lý thuyết là thực hành mù quáng” Các kiến thức sẽ đầy đủ hơn, sâu sắc hơn khi học sinh được tự tìm tòi, kiểm nghiệm qua thực hành ”trăm nghe không bằng một thấy” Các thí nghiệm, các buổi quan sát thiên nhiên sẽ gây hứng thú học tập Sinh học cho học sinh, phát huy tính tích cực tư duy, chủ động giúp học sinh tìm ra kiến thức. Để nâng cao chất lượng giảng dạy các bài thực hành trong chương trình Sinh học 8 quả cũng khó. Bởi vì có những bài thực hành thì rất thực tế như các bài về Sơ cứu người, nhưng có những bài rất khó và vượt xa khả năng của học sinh như bài phân tích một khẩu phần ăn và lập khẩu phần ăn cân đối và nhiều yếu tố khác tác động tới hiệu quả các bài thực hành sẽ không cao. Qua nghiên cứu SGKSinh học, các tài liệu có liên quan và thực trạng giảng dạy các bài Sinh học 8 hiện nay, kết hợp với vốn hiểu biết kiến thức và kinh nghiệm tích luỹ bản thân tôi đã tìm tòi nghiên cứu đề tài “ Phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy các bài thực hành trong chương trình Sinh học 8” Thông qua nghiên cứu đề tài nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả giảng dạy của bản thân đồng thời góp thêm một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy Sinh học 8 nói riêng và bộ môn Sinh học THCS nói chung. 4 II/ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU. Qua 7 bài thực hành trong chương trình Sinh học 8 sẽ xây dựng phương pháp tổ chức một tiết dạy thực hành có hiệu quả. Định hướng cho việc nghiên cứu để có thể phát triển một số dụng cụ thực hành, cải tiến một số đồ dùng phục vụ cho tiết thực hành có hiệu quả, phù hợp với yêu cầu thực tiễn, tình hình cụ thể trong chương trình Sinh học và ở địa phương với điều kiện thiếu thốn đồ dùng thực hành cũng như đồ dùng dạy học. Mặt khác, cần cho học sinh tham quan thực tế tại các cơ sở y tế của địa phương, các hình ảnh mẫu và làm mẫu của giáo viên giúp học sinh định hướng hình thành kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thúc đẩy quá trình phát triển tư duy tích cực của học sinh tạo được hứng thú, động cơ học tập và yêu thích bộ môn. Đề tài không chỉ áp dụng với lớp 8 mà còn áp dụng với cả bộ môn Sinh học ở cấp THCS và góp phần đổi mới phương pháp dạy học trong giảng dạy môn Sinh học nói riêng và nâng cao chất lượng ở cấp THCS. III- ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 1- Đối tượng nghiên cứu. Tất cả các yếu tố trong một tiết thực hành là đối tượng nghiên cứu của đề tài: + Sự nghiên cứu, chuẩn bị của giáo viên. + Sự chuẩn bị đồ dùng của học sinh + Sự hướng dẫn thực hành của giáo viên. + Nội dung của bài thực hành. + Phương pháp tổ chức hoạt động thực hành của giáo viên. + Các hình ảnh mẫu liên quan đến bài thực hành. + Hoạt động thực hành của học sinh. + Kết quả của tiết thực hành (được thể hiện chủ yếu trên sản phẩm của hoạt động thực hành) 2- Nhiệm vụ nghiên cứu. Đề tài có chất lượng và có tính khả thi, gắn liền với yêu cầu thực tế, nhất thiết phải thực hiện các yêu cầu sau: 5 - Chọn đối tượng để nghiên cứu. - Tìm hiểu sự chuẩn bị của giáo viên trước buổi thực hành. - Tìm hiểu các tiết thực hành về các phương diện: + Sự chuẩn bị đồ dùng thực hành của học sinh. + Sự hướng dẫn thực hành của giáo viên. + Nội dung của buổi thực hành. + Theo dõi phương pháp tổ chức hoạt động thực hành của giáo viên và hoạt động của học sinh. + Tìm hiểu sản phẩm như: kết quả hoạt động thí nghiệm, các hình vẽ (nếu có) để học sinh điền, các sản phẩm thực hành(cố định xương, cầm máu…) bản thu hoạch của học sinh. - Thiết kế một bài thực hành trong Sinh học 8. IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Điều tra cơ bản Thực trạng công tác giảng dạy các bài thực hành ở nhà trường Kết quả tiếp thu kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo của học sinh qua các bài thực hành. 2. Phân tích tổng hợp gắn với lý luận thực tiễn. Nghiên cứu kỹ các bài thực hành, xác định rõ mục tiêu: về kiến thức, kỹ năng và thái độ tư tưởng. Vận dụng linh hoạt phương pháp sư phạm, vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy môn Sinh học được đề cập trong các bài thực hành. Từ đó xây dựng phương pháp dạy học mang tính đặc thù đối với các tiết dạy bài thực hành Sinh học 8. Thiết kế những hoạt động dậy học tích cực nhằm đạt được những mục tiêu của bài thực hành trên cơ sở lựa chọn và phối hợp các phương pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đặc trưng của bài thực hành, nội dung kiến thức và trình độ của học sinh. 2. Kiểm nghiệm. 6  Vận dụng phương pháp tổ chức các bài thực hành Sinh học 8 và thực tiễn giảng dạy, tiến hành kiểm tra kết quả giảng dạy so sánh các mặt: + Việc nắm nội dung kiến thức của học sinh được thể hiện bằng các sản phẩm của hoạt động thực hành. + Sự phát triển tư duy khoa học, tư duy khái quát hoá, trừu tượng hoá. + Khả năng sáng tạo, vận dụng thực tế của học sinh. + Rèn luyện các kỹ năng bộ môn, đặc biệt là kỹ năng cố định xương, cầm máu, hô hấp nhân tạo, băng bó vết thương và làm thí nghiệm chứng minh vai trò của tuỷ sống.  Bằng các hình thức: + Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh. + Quan sát quá trình hoạt động thực hành của học sinh. + Vấn đáp tìm tòi nắm thực tế. + Nghiên cứu sản phẩm của hoạt động thực hành như: cố định xương, băng bó vết thương, cầm máu và hoàn thành bảng thu hoạch chuẩn bị sẵn. + Sử dụng phiếu học tập đã được chuẩn bị sẵn. 4.Tổng kết rút kinh nghiệm Từ những kết quả đạt được, từ những vấn đề còn thiếu sót thể hiện trên sản phẩm của hoạt động thực hành, tiến hành phân tích đánh giá cải tiến, bổ sung phương pháp phát huy các thế mạnh và khắc phục tồn tại để hoàn thiện phương pháp giảng dạy các bài thực hành Sinh học 8 tiến tới đạt hiệu quả chất lượng cao nhất. V: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU. A. Điều tra cơ bản 7 1. Sự chuẩn bị của giáo viên và học sinh Đối với bài thực hành nói riêng thì sự chuẩn bị là rất quan trọng ảnh hưởng tới sự thành công của tiết dạy. Trên thực tế thì sự chuẩn bị của giáo viên còn nằm trong khuôn mẫu có sẵn ở SGK còn học sinh đương nhiên phụ thuộc vào giáo viên. Có những tiết thực hành đáng lẽ có thể có kết quả rất tốt song do sự chuẩn bị không tốt của học sinh dẫn đến kết quả không cao. 2. Phương pháp tổ chức. Với các bài thực hành, thường yêu cầu học sinh được thực hành hoàn thiện một số kỹ năng: băng bó vết thương, phân tích khẩu phần ăn cho trước... Nhưng thực tế thì học sinh ít được thực hành mà chủ yếu quan sát giáo viên làm thực hành, những sản phẩm sau khi giáo viên đã băng bó, cố định xương, làm thí nghiệm, tính toán sẵn. Trong khi đó học sinh có thể làm được hơn thế rất nhiều các em có thể tham gia trực tiếp băng bó vết thương, làm thí nghiệm về enzim, tính toán các thành phần của một khẩu phần ăn cho trước, làm thí nghiệm chứng minh vai trò của tuỷ sống. Việc tổng kết đánh giá công việc của học sinh hết sức cần thiết và có ý nghĩa rất quan trọng khi tự mình làm việc và học sinh cần được đánh giá nhìn nhận đầy đủ khách quan tạo hứng thú trong quá trình tiếp thu kiến thức. Vậy mà hiện nay các sản phẩm hoạt động thực hành của học sinh ít được kiểm tra đánh giá, phần nhiều vì lý do thời gian. Đa số các giáo viên chỉ quan tâm làm thế nào để truyền tải hết kiến thức mà không để ý đến việc học sinh tiếp thu như thế nào, lĩnh hội được những gì và đã làm được những gì qua tiếp thu kiến thức lý thuyết. B. Giải pháp khắc phục. 1. Sự chuẩn bị của giáo viên và học sinh * Đối với giáo viên: - Cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về phương tiện và nội dung giáo viên phải xây dựng kế hoạch từ đầu năm về phương tiện thực hành ở mỗi bài, để nắm thế chủ động 8 trong tiết thực hành. Trong thực hành cần có những dụng cụ, thiết bị, vật mẫu có sẵn hoặc tìm tòi trong thiên nhiên đặc biệt là bộ môn Sinh học. - Về nội dung: mỗi giáo viên được phụ trách khối lớp giảng dạy cần làm tốt công việc về chuyên môn và các kiến thức khác (hiểu biết về y tế, lĩnh vực có liên quan) để bài thực hành đạt kết quả cao. * Đối với học sinh: - Cần nêu cao tinh thần ý thức, thái độ trong giờ thực hành. Giáo dục cho các em lòng yêu thiên nhiên từ đó biết cách bảo vệ và giữ gìn sức khoẻ cho chính mình, sự chuẩn bị các dụng cụ cần thiết( que nẹp, bông băng, ếch đồng để chứng minh vai trò của tuỷ sống) sẽ tạo hứng thú học tập. Do vậy giáo viên cần quan tâm sát sao đến sự chuẩn bị của học sinh, có như vậy hiệu quả của việc chuẩn bị mới cao, góp phần thực hiện thành công giờ thực hành sinh học lớp 8. 2. Phương pháp tổ chức: Trong giờ thực hành học sinh phải thực hiện những công việc cơ bản, giáo viên chỉ hướng dẫn và làm mẫu, học sinh có được trực tiếp làm việc thì mới đảm bảo mục tiêu là học sinh được tự mình tìm tòi, phát hiện kiến thức trên sản phẩm thực hành, trên cơ sở đó giúp học sinh phát huy tính tích cực tư duy , tự lực, chủ động giúp học sinh có thể tìm ra kiến thức từ đó hình thành các kỹ năng kỹ xảo, thúc đẩy tư duy tích cực cho học sinh, tạo hứng thú học tập cho học sinh yêu thích bộ môn. 3.Tổng kết đánh giá. Tổng kết đánh giá là khâu quan trọng trong phương pháp dạy học. Trên cơ sở đó cần kết hợp sự đánh giá của giáo viên với sự tự đánh giá của học sinh, qua đó giáo viên thấy được kết quả học tập của các em và mức độ truyền đạt kiến thức của mình từ đó rút ra được kinh nghiệm nhằm điều chỉnh phương pháp dạy học của mình sao cho có hiệu quả và thích hợp với đối tượng mình giảng dạy. -Giáo viên có thể đánh giá dưới nhiều hình thức khác nhau: mức độ hoàn thành bài thực hành, ý thức thực hành của học sinh và kết quả bài thu hoạch. Phần đánh giá 9 cần tỉ mỉ cụ thể cho từng học sinh để từ đó các em tìm ra ưu điểm và nhược điểm, có biện pháp khắc phục các nhược điểm đó nhằm nâng cao chất lượng các bài thực hành Sinh học 8 nói riêng và bộ môn Sinh học. C. Định hướng phương pháp chung dạy các bài thực hành SH 8 * Về phương pháp giáo viên tổ chức thực hiện: - Chuẩn bị đồ dùng thực hành cần thíêt. - Căn cứ vào các bước thực hành của SGK phát triển theo định hướng của GV. - Trong quá trình thực hành được thể hiện ở các nhóm nhưng thu hoạch lại được thể hiện ở các cá nhân. * Về hoạt động của học sinh: - Rèn luyện các kỹ năng bộ môn đặc biệt là các kỹ năng cố định xương, làm thí nghiệm, cầm máu.. - Tìm ra kiến thức kiểm nghiệm kiến thức qua thực hành, quan sát sản phẩm thực hành. - Có kỹ năng hoạt động nhóm, làm tường trình, viết thu hoạch. * Về kết quả: Được thể hiện trên sản phẩm của hoạt động thực hành. D. Một số thí dụ minh hoạ: THIẾT KẾ DẠY MỘT BÀI THỰC HÀNH SINH HỌC 8: Bài 26: THỰC HÀNH : TÌM HIỂU HOẠT ĐỘNG CỦA ENZIM TRONG NƯỚC BỌT I-Mục tiêu: 10 - Biết đặt các thí nghiệm để tìm hiểu những điều kiện bảo đảm cho enzim hoạt động ( trong thí nghiệm này enzim trong nước bọt chỉ tác động với tinh bột chín trong điều kiện áp suất 1 at, t0 = 370C, môi trường kiềm nhẹ) - Biết rút ra kết luận từ kết quả so sánh giữa thí nghiệm với đối chứng. - Rèn luyện tính bền bỉ, khoa học. - Giáo dục vệ sinh ăn uống. II-Chuẩn bị: 1. Dụng cụ thực hành :12 ống nghiệm nhỏ, giá để ống nghiệm, đèn cồn và giá đun, ống đong chia độ, cuộn giấy đo pH, phễu nhỏ và bông lọc, bình thuỷ tinh, đũa thuỷ tinh, nhiệt kế, cặp ống nghiệm, mayso đun nước. 2. Vật liệu : - Nước bọt hoà loãng( 25%) lọc qua bông lọc. - Hồ tinh bột 1% - Hoá chất : dd HCl 2%, dd Iốt 1%, thuốc thử Strôme III.Nội dung và cách tiến hành: Bước 1: Hướng dẫn thực hành: * HĐ1: Tổ chức thực hành - GV phân chia các nhóm thực hành. - GV kiểm tra các dụng cụ thực hành của các nhóm. - GV hướng dẫn cách pha nước bọt( 6ml nước bọt + 18 ml nước cất) * HĐ2: Hướng dẫn học sinh cách làm thí nghiệm: - Lấy 4 ống nghiệm đặt tên là A, B, C, D với dd trong các ống như sau: + Ống A: 2 ml hồ tinh bột + 2ml nước lã. + Ống B: 2 ml hồ tinh bột + 2ml nước bọt. + Ống C: 2 ml hồ tinh bột + 2 ml nước bọt đã đun sôi. + Ống D: 2 ml hồ tinh bột + 2 ml nước bọt + vài giọt dd HCl 2%. - Đặt 4 ống nghiệm trong chậu nước nóng 37 0C trong thời gian 15 phút (hình 26.1). * HĐ3: Hướng dẫn học sinh quan sát: 11 - GV yêu cầu HS quan sát hiện tượng xảy ra và ghi lại kết quả. - GV hướng dẫn HS giải thích các hiện tượng. * HĐ 4: Kiểm tra kết quả thí nghiệm: - GV yêu cầu HS so sánh dd trong ống nghiệm với ban đầu. - GV hướng dẫn HS chia dd trong mỗi ống nghiệm ra làm 2 phần đựng trong 2 ống nghiệm mới: + Ống A thành: A1 và A2 + Ống B thành: B1 và B2 + Ống C thành: C1 và C2 + Ống D thành: D1 và D2 - Tiếp tục hướng dẫn HS cách kiểm tra như sau: + Ống A1 + Ống B1 Thêm vào mỗi ống vài giọt dd Iốt 1% + Ống C1 + Ống D1 + Ống A2 + Ống B2 Thêm vào mỗi ống vài giọt dd Strôme. + Ống C2 Đun sôi mỗi ống trên ngọn lửa đèn cồn. + Ống D2 Bước 2: Hoạt động thực hành: * HĐ1: HS thực hiện các thao tác cho dd vào các ống A, B, C, D đúng tỉ lệ như hướng dẫn. HS thực hành theo các nhóm tuỳ theo số lượng HS HS làm thí nghiệm quan sát hiện tượng xảy ra trong khi để 15 phút( H26) HS thảo luận từng nhóm đê giải thích các hiện tượng xảy ra. HS tiến hành kiểm tra kết quả thí nghiệm và ghi lại vào bảng 26.2SGK HĐ 2: Kiểm tra kết quả làm thí nghiệm: GV kiểm tra kết quả bảng 26.1, 26.2 HS đã thực hiện. GV đưa kết quả chuẩn Bảng 26.1, 26.2 và giải thích các hiện tượng. 12 - Tinh bột + Iốt màu xanh - Đường + thuốc thử Strôme mầu đỏ nâu GV nhận xét kết quả các nhóm, chỉ ra chỗ sai sót và nguyên nhân. * HĐ 3 : Tổng kết: - Gv nhận xét cách làm thí nghiệm của HS. - Gv cho biết những sai sót thường xảy ra khi làm thí nghiệm và chứng minh vai trò của enzim trong nước bọt. - Gv nhận xét, cho điểm vài nhóm làm tốt và nhắc nhở các nhóm hoạt động có kết quả chưa cao. - Gv cho HS thu dọn vệ sinh. IV. Củng cố: Gv đánh giá nhận xét toàn bộ quá trình thực hành. Hs trình bày nhấn mạnh các nội dung đã quan sát được. Gv hướng dẫn HS viết thu hoạch theo yêu cầu SGK. V. Dặn dò: HS chuẩn bị đồ dùng, xem trước bài tiêu hoá ở dạ dày. Bảng 26.1: Các ống nghiệm Hiện tượng Giải thích ( độ trong) A Không đổi Nước lã không có enzim biến đổi tinh bột. B Tăng lên Nước bọt có enzim làm biến đổi tinh bột. C Không đổi Nước bọt đun sôi làm mất hoạt tính của enzim biến đổi tinh bột D Không đổi Do dd HCl đã hạ thấp pH nên enzim trong nước bọt không hoạt động, không làm biến đổi tinh bột Bảng 26.2: Các ống Hiện tượng Giải thich 13 nghiệm ( màu sắc) A1 Có màu xanh A2 Không có mầu đỏ nâu B1 Không có mầu xanh B2 Có mầu đỏ nâu C1 Có màu xanh C2 Không có mầu đỏ nâu D1 Có màu xanh D2 Không có mầu đỏ nâu Nước lã không có enzim biến đổi tinh bột thành đường Nước bọt có enzim làm biến đổi tinh bột thành đường. Enzim trong nước bọt bị đun sôi không còn khả năng biến đổi tinh bột thành đường Enzim trong nước không hoạt động ở pH axit nên tinh không bị biến đổi thành đường VI . KẾT LUẬN VÀ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT: 1. Kết luận: Qua nghiên cứu ta thấy được vai trò to lớn của các tiết thực hành góp phần hệ thống hoá kiến thức, hình thành kiếnthức ở học sinh một cách logic và sâu sắc.Tuy rằng nó chiếm thời lượng nhỏ ( 7/70 tiết) nhưng rõ ràng để giảng dạy có hiệu quả thì lýluận luôn luôn phải gắn liền với thực tiễn,lý thuyết phải gắn liền với thực hành đặc biệt là bộ môn Sinh học. Để nâng cao chất lượng các tiết thực hành ở chương trình Sinh học 8 Giáo viên cần phải chuẩn bị chu đáo cho các tiết thực hành, kết hợp linh hoạt các phương pháp thực hành và yêu cầu HS có thái độ nghiêm túc trong quá trình chuẩn bị đồ dùng và thực hành. Từ đó góp phần nâng cao hiểu biết về môn Sinh học, yêu thích bộ môn và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. 2. Ý kiến đề xuất: * Đối với các cấp quản lý giáo dục : -Nên thường xuyên tổ chức những đợt thực tập cụm để thảo luận, rút kinh nghiệm, tìm ra những bài học quý báu nhất cho việc giảng dạy các bài thực hành. 14 - Cung cấp bổ sung các đồ dùng thực hành. - Kiểm tra thường xuyên hơn việc sử dụng thiết bị dạy học ở trên lớp của mỗi giáo viên. - Tổ chức bồi dưỡng về sử dụng các thiết bị dạy học cho giáo viên. * Đối với các giáo viên dạy bộ môn: - Thường xuyên trau dồi kiến thức, tự rút kinh nghiệm qua các bài thực hành. - Cần có kế hoạch sử dụng đồ dùng dạy các bài thực hành theo PPCT và căn cứ tình hình thực tế của nhà trường và địa phương. - Thường xuyên sử dụng, cải tiến đồ dùng dạy học và quan tâm đúng mức tới các tiết thực hành. - Nên thực hiện đầy đủ những yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học theo chương trình và SGK mới. Tân Quang, ngày 10 tháng 02 năm 2009 Người viết LÃ VĂN CHÂU Ý KIẾN NHẬN XÉT CỦA TRƯỜNG ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… ………………………………………………………………………………………… 15 MỤC LỤC NỘI DUNG TRANG Lời nói đầu 1 I. Lý do chọn đề tài 2 II. Mục đích nghiên cứu 4 III. Đối tượng nhiệm vụ nghiên cứu 5 IV. Phương pháp nghiên cứu 6 V. Nội dung nghiên cứu 8 A. Điều tra cơ bản 8 B. Giải pháp khắc phục 9 C. Định hướng phương pháp chung dạy các bài thực hành SH8 D. Một số thí dụ minh hoạ 11 VI. Kết luận và ý kiến đề xuất 15 Ý KIẾN NHẬN XÉT CỦA NHÀ TRƯỜNG VÀ PHÒNG GD 17 Mục lục 18 16
- Xem thêm -