SKKN Phương pháp giảng dạy các yếu tố hình học trong Toán 4 nhằm phát huy khả năng sáng tạo của học sinh

  • Số trang: 18 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 92 |
  • Lượt tải: 1
dinhthithuyha

Đã đăng 3359 tài liệu

Mô tả:

SKKN: Phương pháp giảng dạy các yếu tố hình học trong Toán 4 nhằm phát huy khả năng sáng tạo của học sinh BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN 1. Lời giới thiệu: Bậc Tiểu học không những là bậc nền móng cho các bậc học cao hơn, mà còn là bậc học nền tảng cho việc dạy môn Toán ở các bậc học tiếp theo. Giáo dục Tiểu học là giáo dục toàn diện nhằm đáp ứng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Môn Toán Tiểu học nói chung và phương pháp giảng dạy các yếu tố hình học trong Toán 4 nói riêng nhằm phát huy khả năng sáng tạo của học sinh - nền tảng cho kiến thức sau này. Trong thực tế, bất cứ một ngành nào hay một lĩnh vực nào thì Toán học cũng giúp chúng ta thành đạt, giúp mọi nhà doanh nghiệp hay các nhà khoa học thành công trong việc nghiên cứu. Vậy muốn có được kết quả như mong muốn, chúng ta phải gây dựng, kèm cặp ngay từ bậc Tiểu học – bậc học quan trọng nhất; và dạy “Những yếu tố hình học” được dạy từ lớp Một đến lớp Năm ở mức độ nâng cao dần. Thông qua những yếu tố hình học mà học sinh được rèn luyện năng lực quan sát, so sánh đối chiếu, phân tích tổng hợp. Yếu tố hình họcbậc Tiểu học là một loại toán hay và khó nhằm phát triển tư duy và sáng tạo cho học sinh năng khiếu. Ở bậc Tiểu học, với yếu tố hình học – là mạch kiến thức gắn với đời sống thực tế, giúp các em có biểu tượng hình học cơ bản. Từ đó, các em phát huy tối đa tính tích cực, chủ động sáng tạo. Yếu tố hình học chủ yếu là hình học về các hình- Học sinh có thể nhận thức về đường khép kín hay mở, vùng trong – vùng ngoài của một hình dễ hơn về độ dài của đoạn thẳng, độ lớn của góc. Việc nắm chắc các tính chất hình học của hình và vấn đề tâm lý có liên quan sẽ giúp cho học sinh phát huy được tính tích cực, chủ động trong việc chiếm lĩnh tri thức. Nhằm phát huy những ưu điểm, kịp thời khắc phục những hạn chế, để giúp học sinh lĩnh hội được đầy đủ các kiến thức từ nội dung, phương pháp giảng dạy các yếu tố hình học. Qua thực tế giảng dạy, bản thân tôi đã đi sâu nghiên cứu và thấy được những khó khăn và hạn chế sau: a. Về phía giáo viên: Ở các lớp 1, 2, 3 học sinh chủ yếu nhận biết các khái niệm ban đầu, đơn giản qua các ví dụ cụ thể với sự hỗ trợ của các vật thực hoặc mô hình, tranh ảnh, …do đó chỉ nhận biết cái toàn thể, cái riêng lẻ, hình học đơn giản. Lên lớp 4 các em được vận dụng một số các yếu tố hình học dạng khái quát hơn. Các em thực hành, vận dụng nhiều: nhằm phát huy khả năng sáng tạo của học sinh trong hình học. 3 Trong quá trình dạy học có thể nói người giáo viên còn chưa có sự chú ý đúng mức tới việc làm thế nào để đối tượng học sinh nắm vững được lượng kiến thức. Nguyên nhân là do giáo viên chưa nhiệt tình trong công tác giảng dạy cũng như chưa đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh. Tổ chức các hình thức dạy và học chưa phong phú và phù hợp với từng đối tượng học sinh. Do vậy, chưa lôi cuốn được sự tập trung chú ý nghe giảng của học sinh. Từ đó dẫn đến tình trạng dạy học chưa trọng tâm, kiến thức còn dàn trải. Nội dung mỗi bài học trước thường là cơ sở của bài học sau, việc giới thiệu bài cũng hết sức quan trọng vì nó là một sự chuyển tiếp giữa mảng kiến thức cũ và mảng kiến thức mới. Việc sử dụng đồ dùng dạy học không kém phần quan trọng. Đồ dùng dạy học phong phú, lạ lẫm cũng thu hút học sinh chú ý vào bài giảng rất là nhiều, đặc biệt những đồ dùng dạy học càng thu hút và huy động được nhiều các giác quan của học sinh thì càng có hiệu quả. Ví dụ bài: “Diện tích hình thoi”: Học sinh thực hành trên mô hình vật thật sẽ dễ tiếp thu kiến thức hơn vì trực quan tác động được nhiều đến các giác quan của các em (có thêm xúc giác – tiếp xúc với hình học không gian). Một số giáo viên ít dành thời gian nghiên cứu, chuẩn bị hay chuẩn bị đồ dùng dạy học phục vụ cho tiết dạy chưa phong phú (sợ tốn thời gian) dẫn tới việc tiếp thu bài môn Toán chưa cao. b. Về phía học sinh: Kết quả khảo sát chất lượng môn Toán đầu năm học 2014 – 2015 của lớp như sau: Tổng số học sinh 37 Điểm giỏi (9 - 10) Điểm khá (7 - 8) Điểm yếu (dưới 5) Điểm Trung bình (5 - 6) TS % TS % TS 36 97.2 1 2.8 0 % TS % 0 Qua giảng dạy tôi thấy, rất nhiều em có tố chất và học tập tốt nên giáo viên cần hướng dẫn các em đi sâu vào nâng cao, để các em được phát huy. 2. Tên sáng kiến: “ Phương pháp giảng dạy các yếu tố hình học trong Toán 4 nhằm phát huy khả năng sáng tạo của học sinh ”. 3. Tác giả sáng kiến: - Họ và tên: Nguyễn Thị Kim Liên - Địa chỉ tác giả sáng kiến: Giáo viên Trường Tiểu học Tề Lỗ - Yên Lạc – Vĩnh Phúc. - Số điện thoại: 01694 105 564 E-mail: Nguyenkimlientl@gmail.com 4 4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Thị Kim Liên Trường Tiểu học Tề Lỗ - huyện Yên Lạc - tỉnh Vĩnh Phúc. 5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Phát huy khả năng sáng tạo của học sinh trong Toán học. 6. Ngày sáng kiến được áp dụng: Sáng kiến được nghiên cứu trong các giờ giảng dạy Toán lớp 4 (từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 4 năm 2015)- Trường Tiểu học Tề Lỗ - Yên Lạc – Vĩnh Phúc. 7. Mô tả bản chất của sáng kiến: 7.1. Về nội dung của sáng kiến: Để các em có kỹ năng giải Toán tốt, đồng thời nâng cao chất lượng học sinh năng khiếu - người giáo viên cần hệ thống kiến thức hình học cho các em từ đơn giản đến nâng cao. 7.1.1. Đặc điểm của nội dung dạy các yếu tố hình học Toán 4: Dạy học Toán 4 là sự kế thừa, bổ sung và phát triển các kiến thức toán học đã được học ở các lớp trước (lớp 1- 2 -3). Trong giai đoạn mới, giai đoạn học tập sâu của lớp 4 và lớp 5. Trong nội dung dạy học các yếu tố hình học ở lớp 4 cho học sinh hệ thống hóa kiến thức sâu rộng để phát huy tính tích cực học tập của học sinh lớp 4: - Về góc: Ở lớp 3, học sinh đã được làm quen với góc, chủ yếu là góc vuông và một số phần là góc không vuông. Đến lớp 4, học sinh tiếp tục được tìm hiểu thêm về các góc nhọn, góc tù, góc bẹt (là các góc không vuông thường gặp). Ở lớp 3, việc hình thành biểu tượng về góc (đặt ê ke để liên hệ “góc nhọn bé hơn góc vuông”, “Góc tù lớn hơn góc vuông”, “Góc bẹt bằng hai góc vuông ”, …). Như vậy, đến lớp 4, học sinh được làm quen với một “hệ thống” các góc: Góc nhọn, góc vuông, góc tù, góc bẹt (đó cũng là các góc mà các em được học ở Tiểu học). Bài tập nhận dạng từ dễ đến khó: Ví dụ 1: Bài 1 ( trang 49 – Toán 4 ) Trong các góc sau đây, góc nào là: góc vuông, góc nhọn, góc tù, góc bẹt: M A N Q P B 5 V X D Y E U G H O H C K Ví dụ 2: Trên hình bên có bao nhiêu góc nhọn, góc vuông, góc tù: I Y M N O X Ví dụ 3: Trên hình bên có bao nhiêu góc nhọn, góc vuông, góc tù, góc bẹt. Kể tên ? - Hình tứ giác: Ở lớp 1, học sinh được làm quen với hình vuông (dạng tổng thể); ở lớp 2, học sinh được làm quen với hình tứ giác, hình chữ nhật (dạng tổng thể); ở lớp 3, học sinh được làm quen với hình vuông, hình chữ nhật, hình tứ giác với một số đặc điểm về yếu tố cạnh, góc của mỗi hình đó, bước đầu thấy mối quan hệ giữa các hình (thông qua hình ảnh trực quan); đến lớp 4, các em được làm quen với hình bình hành, hình thoi với một số đặc điểm về cạnh ( hình bình hành có hai cặp cạnh đối diện, song song và bằng nhau; hình thoi có bốn cạnh bằng nhau,…). Như vậy, học sinh muốn tiếp thu tri thức mới cần 6 có sự hướng dẫn của giáo viên bằng cách tổ chức các hoạt động dạy học nhằm phát huy tính tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh lớp 4- Và học sinh lớp 4 được làm quen với một “hệ thống” hình tứ giác: hình vuông, hình chữ nhật, hình bình hành, hình thoi (các hình đó đều là hình tứ giác và có hai cặp cạnh đối diện, song song và bằng nhau). Ví dụ 1: Trong mỗi hình sau, có bao nhiêu hình chữ nhật: Ví dụ 2: Trong mỗi hình sau, có bao nhiêu hình tứ giác: A Ví dụ 3: Trên hình vẽ bên có: - Mấy tam giác 1 ? M hình tứ giác ? N - Mấy 2 Q 3 5 4 P C B a. Số hình tam giác là: - Hình ghi 1 số: 1, 2, 3, 4, 5 (5 hình) - Hình ghi 2 số: 4 +5 (1 hình) - Hình ghi 3 số: 0 - Hình ghi 4 số: 0 - Hình ghi 5 số: 1+ 2 + 3 + 4 + 5 (1 hình) Vậy có tất cả 7 hình tam giác b. Số hình tứ giác là: - Hình ghi 1 số: 0 - Hình ghi 2 số: 1+3; 2+3; 3+4 (3 hình) - Hình ghi 3 số: 1 + 2 + 3; 2 + 3 + 4; 3 + 4 + 5 ( 3 hình) - Hình ghi 4 số: 1 + 2 + 3 + 4; 2 + 3 + 4 + 5; 1 + 3 + 4 + 5 ( 3 hình) - Hình ghi 5 số: 0 Vậy có tất cả : 0 + 3 + 3 + 3 = 9 (hình tứ giác) 7 - Hai đường thẳng: Ở các lớp 1- 2- 3 học sinh được học điểm, đoạn thẳng, đường thẳng với sự hỗ trợ của các “hình ảnh” trực quan (kéo dài về hai phía một đoạn thẳng ta được một đường thẳng). Bước đầu học sinh được làm quen với hai đường thẳng “cắt nhau” và “điểm giao nhau” của hai đường thẳng đó, rồi từ đó học sinh nhận ra “điểm giao nhau” của hai cạnh trong một hình đã học (qua hình ảnh đỉnh của các hình tam giác, hình tứ giác, đỉnh của một góc là “điểm giao nhau” của hai cạnh của hình hoặc của hai cạnh của góc,… ). Đến với lớp 4, các em được làm quen với hai đường thẳng “không cắt nhau ” tức là hai đường thẳng song song; và hai đường thẳng “cắt nhau” đặc biệt đó là hai đường thẳng vuông góc với nhau. Như vậy, đến với lớp 4, học sinh được học “hệ thống” các “quan hệ ” thường gặp đối với hai đường thẳng ( hai đường thẳng cắt nhau, hai đường thẳng vuông góc, hai đường thẳng song song). * Vẽ hình, dựng hình : - Giáo viên phải hướng dẫn học sinh biết cách sử dụng thước kẻ, compa, bút, …. để vẽ. - Hướng dẫn học sinh luyện tập vẽ hình, dựng hình theo quy trình hợp lý. - Hình vẽ phải rõ ràng, chuẩn xác, nét vẽ phải mảnh không nhoè, ghi đúng ký hiệu. Ví dụ : Bài 1- trang 52 – Toán 4: Hãy vẽ đường thẳng AB đi qua điểm E và vuông góc với đường thẳng CD trong mỗi trường hợp sau : C C E D D E E C D - Chu vi, diện tích các hình : Ở lớp 3, học sinh đã biết tính chu vi, diện tích hình vuông, hình chữ nhật. Đến lớp 4, các em được tiếp tục biết cách tính chu vi, diện tích hình bình hành, hình thoi. Hơn nữa, các quy tắc tính chu vi, diện tích các hình được nêu dưới dạng khái quát bằng các công thức tính bằng chữ. Từ đó, giúp các em hình thành tri thức. Ví dụ : * P = a x 4 ; S = a x a (với a là độ dài cạnh hình vuông, P là chu vi hình vuông, S là diện tích hình vuông). * P = ( a + b ) x 2; S = a x b (P là chu vi hình chữ nhật, S là diện tích hình chữ nhật; a là chiều dài, b là chiều rộng hình chữ nhật). 8 * S = a x h ( S là diện tích hình bình hành; a là độ dài đáy, h là chiều cao). * S = m x n : 2 (S là diện tích hình thoi; m, n là độ dài của hai đường chéo). * Dạng tính toán các đại lượng hình học: * Đối với học sinh: Đây là dạng bài tập cơ bản chiếm đại đa số trong chương trình. Do đó, học sinh cần phải nắm chắc được dạng bài tập này. Với dạng bài tập này, học sinh thường bế tắc trong việc tìm hướng giải, xác định mối liên hệ giữa các đại lượng hoặc thường nhầm lẫn giữa các đại lượng hoặc nhầm lẫn đơn vị tính. (Sau đây là một số minh họa để giải quyết dạng bài tập này có hiệu quả nhất) Ví dụ 1: Tính diện tích của hình chữ nhật, hình bình hành : (Sách giáo khoa trang 104) 5 cm 5 cm 10cm 10 cm + Với đề bài đã cho các em cần làm gì? (vẽ hình- dùng thước có vạch xăng - ti - met, ê ke để vẽ) + Bài toán hỏi gì? (Bài toán hỏi diện tích của mỗi hình) + Làm thế nào để tính để tính được diện tích của mỗi hình? (Áp dụng công thức tính diện tích của mỗi hình để làm) Ví dụ 2: Tính chu vi hình bình hành, biết : a / a = 8 cm, b = 3 cm A a b / a = 10 dm, b = 5 dm B b D C (Sách giáo khoa trang 105) - Bài toán cho biết gì? (độ dài các cạnh) - Bài toán hỏi gì? (Chu vi của hình bình hành) - Muốn tìm chu vi của hình bình hành ta làm thế nào? Vì sao? (Lấy tổng độ dài của a va b rồi nhân với 2) Bài giải: a/ Chu vi hình bình hành đó là : ( 8 + 3 ) x 2 = 22 (cm) 9 b/ Chu vi hình bình hành đó là : ( 10 +5 ) x 2 = 30 (dm) Đáp số: a / 22 cm b / 30 dm 7.1.2. Nội dung dạy học các yếu tố hình học nhằm phát huy khả năng sáng tạo của học sinh lớp 4: Ví dụ: Khi học sinh vận dụng các công thức để tính chu vi, diện tích của các hình (hình vuông, hình chữ nhật, hình bình hành, hình thoi), học sinh được củng cố cách tính giá trị biểu thức có chứa chữ, chẳng hạn : Chu vi P của hình chữ nhật có chiều dài a, chiều rộng b là : P=(a+b)x2 Tính chu vi hình chữ nhật, biết a = 16 cm; b = 12 cm ( Bài 5 trang 46 – Toán 4 ) Khi học sinh giải các bài toán có nội dung hình học, các em được củng cố về kỹ năng thực hiện các phép tính trên các số đo đại lượng (độ dài, diện tích) hoặc đổi các đơn vị đo đại lượng (về cùng một đơn vị đo ), … Mặt khác, học sinh được củng cố về cách giải và trình bày bài toán có lời văn… 7.2. Về khả năng áp dụng của sáng kiến (phát huy khả năng sáng tạo trong dạy học trong dạy học “các yếu tố hình học”ở lớp 4) : 7.2.1. Hình thành khái niệm ban đầu về các hình hình học: Ví dụ: Khái niệm ban đầu về góc (góc nhọn, góc tù, góc bẹt); về hai đường thẳng vuông góc, hai đường thẳng song song; về hình bình hành, hình thoi. Khi dạy học các nội dung trên, giáo viên cần lưu ý: + Yêu cầu hình thành khái niệm ban đầu về các hình hình học trong Toán 4 mới ở mức độ hình thành các biểu tượng về hình học là chủ yếu. Ví dụ: Giáo viên chỉ vào “hình ảnh” một góc nhọn đã vẽ sẵn trên bảng rồi giới thiệu “đây là góc nhọn”; hoặc xuất phát từ hình ảnh hai cạnh đối diện của hình chữ nhật (kéo dài) để có biểu tượng về hai đường thẳng song song, từ hình ảnh cặp cạnh vuông góc với nhau của hình chữ nhật (kéo dài) để có biểu tượng về hai đường thẳng vuông góc,… + Giáo viên có thể cho học sinh thông qua quan sát các hình ảnh trực quan (đồ dùng dạy học), các hình ảnh có trong thực tế (góc tạo bởi hai kim đồng hồ, tạo bởi hai cạnh của compa, ê ke, …; hình ảnh các chấn song cửa sổ song song với nhau, các cặp cạnh của khung ảnh, khung cửa sổ vuông góc, song song với nhau,… ) để củng cố các biểu tượng về hình hình học. + Giáo viên có thể đưa ra các hoạt động thực hành để hình thành các biểu tượng về một hình học. 10 Ví dụ: Bài 3 trang 141 – Toán 4 : Giáo viên hướng dẫn học sinh dùng ê ke “nhận biết” góc nào là góc nhọn, góc tù, góc bẹt; cắt ghép tờ giấy để được hình thoi; cắt ghép hình bình hành, hình thoi, hình chữ nhật để tính diện tích các hình đó,… 7.2.2. Dạy về “Góc nhọn, góc tù, góc bẹt”: Nhằm phát huy sự tư duy và khả năng sáng tạo của học sinh- ở lớp 3, học sinh đã biết “góc vuông, góc không vuông”, đến với lớp 4, các em được biết “cụ thể ” hơn, “góc không vuông” là các góc: “góc nhọn, góc tù, góc bẹt ”. Bởi vậy, ở lớp 4 các biểu tượng về góc nhọn, góc tù, góc bẹt được học sâu hơn. Ví dụ: Nêu một “đặc điểm” (một dấu hiệu nhận biết) về góc (góc nhọn bé hơn góc vuông, góc tù lớn hơn góc vuông, góc bẹt bằng hai góc vuông). Ngoài ra giáo viên có thể hướng dẫn học sinh giới thiệu “góc nhọn, góc tù, góc bẹt” trong Toán 4 theo các hoạt động sau : Ví dụ: Giới thiệu góc nhọn: + Giáo viên cho học sinh quan sát hình vẽ góc nhọn (trên bảng hoặc bảng phụ ) rồi giới thiệu “đây là góc nhọn”, “góc nhọn đỉnh O, cạnh OA, OB”. + Giáo viên cho học sinh nêu ví dụ “hình ảnh”góc nhọn có trong thực tế, chẳng hạn: góc nhọn tạo bởi hai kim đồng hồ, góc nhọn tạo bởi hai cạnh lá cờ đuôi nheo, cái ê ke có hai góc nhọn và một góc vuông… + Giáo viên “áp” góc vuông của cái ê ke vào góc nhọn ( như sách giáo khoa ) để học sinh “quan sát” rồi nhận ra: với “hình ảnh” đó, ta biết được “góc nhọn bé hơn góc vuông”. + Cuối cùng có thể cho học sinh tự vẽ vào vở ( giấy nháp ) một số “góc nhọn” rồi tự đọc lên mỗi góc đó. Để nhận biết góc nào là góc nhọn, góc tù, góc bẹt ta thường làm như sau : - Bằng quan sát tổng thể, có tính “trực giác”, học sinh có thể nhận biết được “hình dạng”của góc nhọn, góc tù hay góc bẹt. Ví dụ : Bài 2 trang 49 – Toán 4, học sinh có thể nhận ra hình tam giác nào có ba góc nhọn, có góc tù hoặc có góc vuông bằng “quan sát” hình ảnh của góc (ở dạng tổng thể). A M B C ( có 3 góc nhọn ) N P ( có góc tù ) 11 D H G ( có góc vuông ) - Dùng ê ke để nhận biết góc nhọn, góc tù, góc bẹt. Ví dụ: “áp” góc vuông của ê ke vào hình mỗi góc dưới đây để biết góc nào là góc nhọn, góc tù hoặc góc bẹt: Góc nhọn góc tù Góc bẹt 7.3.3. Dạy về “Hai đường thẳng vuông góc”: Với dạng toán này, giáo viên giúp các em giới thiệu về hai đường thẳng vuông góc như sau: A D B C - Giáo viên vẽ hình chữ nhật ABCD, nhấn mạnh hai cạnh BC và DC là hai cạnh có góc vuông đỉnh C (dùng ê ke để xác nhận điều đó). - Kéo dài cạnh BC và cạnh DC về hai phía rồi tô màu hai cạnh BC và DC đã kéo dài đó. Cặp đường thẳng BC và DC cho ta hình ảnh hai đường thẳng vuông góc với nhau. 12 - Dùng ê ke để vẽ hai đường thẳng vuông góc nào đó (tách ra khỏi hình chữ nhật), rồi cho biết hai đường thẳng vuông góc đó tạo thành bốn góc vuông. - Giáo viên cho các em nhận biết hình ảnh hai đường thẳng vuông góc với nhau có trong thực tế.Ví dụ: hai cạnh của góc bảng đen vuông góc với nhau; hai đường mép cắt nhau của một bìa quyển sách vuông góc với nhau; hai kim đồng hồ chỉ lúc 3 giờ đúng nằm trên hai đường thẳng vuông góc với nhau. Để các em có sự sáng tạo và tư duy tốt trong quá trình nhận biết hai đường thẳng vuông góc với nhau ta thường làm như sau: Trước hết trong Toán 4 không đưa ra “định nghĩa” khái niệm, cũng như chưa đưa ra những “dấu hiệu” về hai đường thẳng vuông góc với nhau, mà mới ở mức độ hình thành biểu tượng về hai đường thẳng vuông góc qua “hình ảnh” cặp cạnh vuông góc với nhau trong hình chữ nhật. Bởi vậy, để nhận biết hai đường thẳng vuông góc, trong Toán 4 thường được thực hiện như sau: - Quan sát, nhận dạng tổng thể, bằng “trực giác” nhận ra hai đường thẳng vuông góc, chẳng hạn: Chỉ ra hai đường thẳng vuông góc (nếu có) trong các hình sau : N B C Q M D A P a) b) I H E K c) - Dựa vào hình chữ nhật hoặc hình vuông ( theo cách giới thiệu hai đường thẳng vuông góc trong Toán 4 ) A B M D Hai đường thẳng BC và C Q DC vuông góc với nhau N P Hai đường thẳng MQ và PQ vuông góc với nhau 13 - Dùng ê ke để nhận biết hai đường thẳng vuông góc: 7.4.4. Dạy về “Hai đường thẳng song song”: Nhằm phát huy sự sáng tạo về dạng toán Hai đường thẳng song song thì giáo viên cần hướng học sinh đến sự tư duy, đó là: Hai đường thẳng song song là hai cạnh đối diện của hình chữ nhật được kéo dài về hai phía. Nội dung dạy học đó có thể thực hiện như sau: A B D C - Vẽ hình chữ nhật ABCD, lưu ý góc A vuông, góc D vuông (đánh dấu góc vuông trên hình vẽ). - Kéo dài về hai phía cạnh AB và cạnh DC (tô màu hai đường thẳng AB, DC đã kéo dài). Ta có hai đường thẳng AB và DC song song với nhau (hai đường thẳng song song không bao gời cắt nhau). - Quan sát trực quan (tách rời hình chữ nhật) hai đường thẳng song song nào đó, chẳng hạn: đường thẳng MN và PQ song song với nhau, rồi giới thiệu “đây là hai đường thẳng song song”. - Giáo viên cho học sinh nhận biết “hình ảnh” hai đường thẳng song song với nhau có trong thực tế. Ví dụ: Hai chấn song cửa sổ song song với nhau; hai cạnh đối diện của bảng lớp học hình chữ nhật song song với nhau; hai đường ray tàu hỏa song song với nhau,… - Học sinh tự sáng tạo và vẽ vào giấy kẻ ô li (hoặc giấy có kẻ ô vuông) hai đường thẳng song song (dựa vào các đường kẻ song song có trong giấy ô li như là “hai cạnh”của hình chữ nhật được kéo dài ra). 14 - Ở mức độ ban đầu có thể quan sát trực giác, nhận dạng tổng thể để nhận ra hai đương thẳng song song . Ví dụ: Nêu tên các cặp cạnh song song có trong mỗi hình sau: E D N M G H I P Q - Giáo viên có thể cho các em tư duy dựa theo cách hình thành biểu tượng về hai đường thẳng song song trong sách Toán 4: Hai đường thẳng do hai cạnh đối diện của hình chữ nhật hoặc hình vuông kéo dài thì hai đường thẳng đó song song với nhau. - Giáo viên có thể cho các em nhận xét sau: Trong hình chữ nhật ABCD, cặp đối diện AB và DC là một cặp cạnh song song với nhau. Hai cạnh đó cùng vuông góc với cạnh AD (xem hình vẽ). Từ đó, cho ta “hình ảnh ” hai đường thẳng AB và DC cùng vuông góc với đường thẳng AD và song song với nhau. B A D C Ví dụ : Trong hình ABCDEG nếu quan sát thấy các góc A vuông, góc G vuông, góc C vuông, góc D vuông, ta có thể nêu được : hai cạnh AB, GE song song với nhau, hai cạnh BC, ED song song với nhau (chưa cần giải thích vì sao). B A G C E D 7.5.5. Dạy khái niệm ban đầu về hình bình hành, hình thoi: Trong chương trình Toán 4, mức độ chỉ là “Giới thiệu hình bình hành”,“Giới thiệu hình thoi”. Học sinh bước đầu làm quen với biểu tượng “hình bình hành, “hình thoi” thông qua các hình ảnh thực tế (hình ảnh các hình được 15 trang trí bởi các đường thẳng song song). Học sinh nhận biết hình chủ yếu ở các dạng tổng thể, trực giác. * Để củng cố biểu tượng về hình bình hành, hình thoi : Ví dụ: Bài 1 trang 102; Bài 1 trang 140 – Toán 4 Giúp học sinh nhận biết được hình bình hành (hình thoi) trong tập hợp các hình có nhiều dạng khác nhau. Ví dụ: Bài 3 trang 103; Bài 3 trang 141; Bài 3 trang 143 – Toán 4 Giúp học sinh vẽ thêm các đoạn thẳng, cắt gấp hình, xếp hình,… để tạo ra hình bình hành hoặc hình thoi. Ví dụ: Bài 3 trang 141; Bài 3 trang 143 – Toán 4 Giúp học sinh thực hành vẽ hình bình hành, ghép hình để được hình bình hành, hình thoi. * Ngoài ra để hình thành tri thức mới cho học sinh. Tri thức mới đó cần có sự kiểm nghiệm kết quả qua nhiều học sinh khác nhau, cần có sự phát hiện, đóng góp trí tuệ. Tập thể học sinh cần phải đo đạc, thu thập các số liệu điều tra thống kê. Ví dụ : Bài Diện tích hình thoi. Yêu cầu tính diện tích hình thoi ABCD, khi biết 2 đường chéo AC = m, BD = n (hình a) - Để tìm công thức tính diện tích hình thoi theo độ dài 2 đường chéo, học sinh có thể thực hiện theo nhiều cách khác nhau: + Cách 1: Cắt hình tam giác AOD và hình tam giác COD rồi ghép với hình tam giác ABC để được hình chữ nhật AMNC (hình b). Ta có: Diện tích( hình thoi ABCD) = diện tích ( hình chữ nhật AMNC ) = m n 2 = m n 2 + Cách 2: Cắt hình tam giác COB và hình tam giác COD rồi ghép với hình tam giác ABC để được hình chữ nhật MNBD (hình c). Ta có: Diện tích ( hình thoi ABCD ) = diện tích (hình chữ nhật MNBD) = m 2 A n = m n B 2 . M N B N O AO C D ( Hình a ) B A C ( Hình b ) M D ( Hình c ) 16 Do đó để kiểm nghiệm kết quả, phát huy tính chủ động sáng tạo và tinh thần hợp tác của học sinh. Giáo viên yêu cầu học sinh hợp tác theo nhóm nhỏ để tổ chức hoạt động dạy học và đạt được hiệu quả cao nhất. 7.6.6. Dạy về diện tích hình bình hành: Giải các bài toán có tính chất chuẩn bị này, học sinh có thể tính ra được kết quả dễ dàng nhằm tạo điều kiện cho các em tập trung suy nghĩ váo các mối quan hệ toán học và các yếu tố hình học trong bài toán: Ví dụ : khi dạy bài Diện tích hình bình hành, giáo viên thường thực hiện theo các bước sau: + Cho hình bình hành ABCD, rồi giới thiệu chiều cao và đáy hình bình hành ( chiều cao AH, đáy DC ): A B Chiều cao H D C Độ dài đáy + Xây dựng quy tắc (công thức) tính diện tích hình bình hành bằng cách cắt hình bình hành ABCD rồi ghép thành hình chữ nhật ABIH (diện tích hình bình hành ABCD bằng diện tích hình chữ nhật ABIH). A A B D B H C C a I a (S là diện tích, a là độ dài đáy, h là chiều cao của hình bình hành) S=axh Ví dụ : Trong Toán 4, việc xây dựng quy tắc ( công thức ) tính diện tích hình bình hành, hình thoi chủ yếu dựa vào quy tắc ( công thức) tính diện tích hình chữ nhật ( đã học ) bằng cách cắt ghép hình bình hành ( hình thoi) thành hình chữ nhật thích hợp. Chẳng hạn: A D B A B H a C H aC I 17 B A n 2 O M B n 2 C A D O m N C m Khi vận dụng công thức tính diện tích hình bình hành (S = a x h); diện tích hình thoi (S = m x n : 2), học sinh cần hiểu ý nghĩa của các chữ a, h, S, m, n trong công thức đó là gì? Là độ dài của cạnh nào ở trong hình bình hành hoặc hình thoi, đặc biệt độ dài đó phải cùng đơn vị đo. Bản thân tôi thấy rằng khi chưa sử dụng Sáng kiến kinh nghiệm, dạy học theo phương pháp thông thường, theo đúng nội dung sách giáo khoa còn nhiều hạn chế, tỉ lệ học sinh giải quyết trọn vẹn những bài toán có nội dung hình học còn quá ít. Khi sử dụng Sáng kiến kinh nghiệm đặt yêu cầu cao đối với quá trình dạy học chất lượng được nâng lên rõ rệt, hạn chế rất nhiều số lượng học sinh yếu ở nội dung này. Với khả năng áp dụng sáng kiến nêu trên, tôi cho rằng Sáng kiến kinh nghiệm này phổ biến nhân rộng ra nhiều đối tượng sử dụng, nhiều trường và được thực hiện ở các khối lớp thì chất lượng bộ môn còn được cải thiện nhiều hơn và như vậy Sáng kiến kinh nghiệm có hiệu quả thực tế cao hơn. Khi thực hiện sáng kiến đạt yêu cầu, công tác giảng dạy của tôi đạt hiệu quả rất cao, chất lượng học sinh năng khiếu nâng lên một cách rõ rệt. Sáng kiến này có thể được thực hiện ở tất cả các lớp và các đối tượng học sinh. 8. Những thông tin cần được bảo mật: không 9. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Trường Tiểu học, giáo viên, học sinh trong trường, học sinh lớp 4, cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học, hình ảnh trực quan, trừu tựng hình học,… 10. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến: 10.1. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tôi:: Với kinh nghiệm giảng dạy, tôi đã áp dụng: “Phương pháp giảng dạy các yếu tố hình học trong Toán 4 nhằm phát huy khả năng sáng tạo của học sinh” giúp các em nắm vững và vận dụng kiến thức, kỹ năng giải toán hình tốt. Tôi nhận thấy học sinh lớp tôi hứng thú học tập. Các em mạnh dạn phát biểu ý kiến xây dựng bài, vẽ hình nhanh, chính xác. Học sinh ham học, tự tin, chất lượng học tập được nâng lên một cách rõ rệt. Trong quá trình học Toán, học 18 sinh dần dần chiếm lĩnh kiến thức mới và giải quyết các vấn đề gần gũi với đời sống. Sự tiến bộ của các em biểu hiện cụ thể qua kết quả như sau:  Qua hai năm tiến hành thực nghiệm trên đối tượng là học sinh lớp 4 Trường Tiểu học Tề Lỗ, kết quả như sau: Năm học Sĩ số Thời điểm Giỏi ( HTT) SL 2012 - 2013 35 Chất lượng đầu năm Dạy học thông thường lớp 4 35 Cuối năm 2013 - 2014 39 Chất lượng đầu năm Dạy học theo Sáng kiến kinh 39 Cuối năm nghiệm lớp 4 2014 - 2015 37 Chất lượng đầu năm Dạy học theo Sáng kiến kinh 37 Cuối kỳ I nghiệm lớp 4 % Khá ( HT) SL % 12 34.2 13 37.1 28 80.0 7 20.0 35 89.7 4 10.3 39 100.0 35 94.5 2 5.5 37 100.0 TB ( HT) SL 10 % Yếu ( KHT) SL % 28.7 10.2. Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của Nhà trường, ngành: Qua thực tế giảng dạy tôi đã được nhà trường, ngành đánh giá cao về quá trình giảng dạy của mình. Học sinh trong trường, lớp tôi phụ trách đã nắm bắt kiến thức nhanh và vận dụng vào làm bài một cách vững vàng, học sinh tự tin làm bài tạo không khí tiết học sôi nổi, không gò bó, học sinh được thực sự bộc lộ hết khả năng của mình. Do đó học sinh lớp tôi có hứng thú học toán, luôn tạo thói quen tự suy nghĩ, chủ động làm bài rồi tìm ra cách giải hay và nhanh nhất. Từ đó, tôi đã cùng với giáo viên trong tổ khối 4, 5 trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, đồng thời xây dựng sáng kiến này để cùng nhau nâng cao chất lượng giảng dạy yếu tố hình học Toán 4 trong chương trình học tập ở Tiểu học. 19 Kết quả qua quá trình khảo sát môn Toán của Nhà trường đạt được như sau: Năm học Sĩ số Thời điểm Giỏi ( HTT) SL 2012 - 2013 35 Dạy học thông thường lớp 4 35 2013 - 2014 39 Dạy học theo Sáng kiến kinh 39 nghiệm lớp 4 2014 - 2015 37 Dạy học theo Sáng kiến kinh 37 nghiệm lớp 4 Chất lượng đầu năm Cuối năm Chất lượng đầu năm Cuối năm Chất lượng % Khá ( HT) SL % 18 51.4 12 34.2 30 85.7 5 14.3 35 89.7 4 10.3 39 100.0 36 97.2 1 2.8 37 100.0 TB ( HT) SL 5 % Yếu ( KHT) SL % 14.4 đầu năm Cuối kỳ I 11. Danh sách các lớp đã tham gia áp dụng sáng kiến: Số TT Tên lớp Địa chỉ Phạm vi/ Lĩnh vực áp dụng sáng kiến 1 4A Trường Tiểu học Tề Lỗ 2 4B Trường Tiểu học Tề Lỗ Trường học, lớp học/ môn Toán Trường học, lớp học/ môn Toán 3 4E Trường Tiểu học Tề Lỗ Trường học, lớp học/ môn Toán 4 5A Trường Tiểu học Tề Lỗ Trường học, lớp học/ môn Toán Tề Lỗ, ngày 15 tháng 4 năm 2015 HIỆU TRƯỞNG Bùi Thị Sâm Tề Lỗ, ngày 02 tháng 4 năm 2015 Tác giả sáng kiến Nguyễn Thị Kim Liên 20
- Xem thêm -