Skkn phương pháp gây hứng thú học tập môn lịch sử lớp 11 qua khắc họa sâu sắc biểu tượng nhân vật lịch sử

  • Số trang: 31 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

A. ĐẶT VẤN ĐỀ I. LỜI MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây chúng ta đang đổi mới nội dung và phương pháp dạy học theo chương trình cải cách giáo dục lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên là người hướng dẫn học sinh tìm hiểu, đó là hình thức học rất hay và thông minh tạo cho các em hứng thú học tập cao hơn so với chương trình học trước đây. Vì vậy làm thế nào để nâng cao được chất lượng dạy và học là yêu cầu cấp thiết của ngành giáo dục hiện nay, đặc biệt là các trường nằm trong hệ Giáo dục thường xuyên, làm sao đó đáp ứng được mục tiêu của ngành về công tác phổ cập giáo dục trong nhân dân, đáp ứng nhiệm vụ của ngành giáo dục đề ra, đưa đất nước phát triển tiến kịp với các nước trong khu vực. Có nhiều yếu tố và biện pháp để nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục. Gây hứng thú là một biện pháp quan trọng trong việc dạy và học lịch sử hiện nay vì biện pháp này nó thể hiện trên các mặt tư tưởng tình cảm, nhận thức và hành động trong các hoạt động dạy và học, song sự hứng thú trong nhận thức không phải là sự ngẫu hứng, tuỳ thích mà là sự định hướng có lựa chọn, nhằm mục đích nắm vững kiến thức học tập một cách sâu sắc và toàn diện đồng thời giúp người học biết vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống. Ở bài viết này tôi xin giới thiệu một vài kinh nghiệm trong việc dạy và học. Đó là “ Phương pháp gây hứng thú học tập môn lÞch sử lớp11, qua khắc hoạ sâu sắc biểu tượng nhân vật Lịch sử ”, để nâng cao nhận thức và chất lượng giáo dục của bộ môn lịch sử hiện nay. Đặc biệt trong hệ thống các trường Trung tâm Giáo dục thường xuyên hiện nay. II. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY VÀ HỌC BỘ MÔN LỊCH SỬ TRONG CÁC NHÀ TRƯỜNG HIỆN NAY. Trong hệ thống các trường Trung tâm Giáo dục thường xuyên hiện nay nói chung và các trường học khác trong hệ thống giáo dục nói chung như (THCS, THPT) hầu như học sinh không còn ham thích học bộ môn lịch sử, việc này có 1 rất nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân cơ bản làm cho các em nhàm chán vì yêu cầu của giáo viên bắt các em nhớ qúa nhiều sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử một cách máy móc khô khan, mà trong giờ học lịch sử nào thầy cô giáo cũng bắt buộc. Đặc biệt với khối giáo dục thường xuyên học sinh đầu vào đã thấp, ý thức học lại không cao, giáo viên vừa dạy kiến thức văn hoá lại vừa dạy cho học sinh cách ứng sử trong giao tiếp. Vì vậy, làm thế nào để học sinh có thể nắm kiến thức môn học này tốt nhất là điều làm tôi phải suy nghĩ. Việc học sinh chưa tích cực học môn lịch sử nói trên là đúng nhưng không phải do bản thân bộ môn lịch sử gây ra mà chính là do quan niệm và phương pháp dạy học của chúng ta chưa đáp ứng được nhu cầu của người học hay nói cách khác là giáo viên chưa gây được hứng thú học tập trong giờ học bộ môn lịch sử. Mặc dù đa số giáo viên đều có cố gắng trong việc đổi mới phương pháp dạy và học bộ môn lịch sử, song khi lên lớp hầu hết giáo viên giảng bài các kiến thức bài giảng đều trùng khớp với sách giáo khoa không có sự cải tiến cách dạy khi nêu kiến thức bài học nên học sinh không tập trung trong học tập bởi không có gì mới, không có gì phải suy nghĩ, phải nghiên cứu. Trong khi đó một số thầy cô giáo khi lên lớp ở các giờ học vẫn còn lúng túng trong việc truyền thụ kiến thức cơ bản cho học sinh, nên các em phải ghi quá nhiều sự kiện lịch sử, tiếp nhận một khối lượng thông tin quá lớn, học sinh không nhớ hết dẫn đến chán học. Bên cạnh đó giáo viên chỉ giới thiệu qua loa các nhân vật lịch sử, chỉ cho học sinh thấy chân dung nhân vật lịch sử mà không thông qua chân dung đó để giới thiệu tổng quát về đặc điểm, tính cách, hình dáng, quan điểm, sự nghiệp, vai trò... của nhân vật lịch sử để khắc sâu kiến thức cho học sinh, gây cho các em có những xúc cảm đối với nhân vật lịch sử đó, từ đó tạo ấn tượng sâu sắc gây hứng thú học tập. Hơn nữa, khi kiểm tra đánh giá giáo viên cũng ít chú ý đến nội dung 2 kiểm tra về các nhân vật lịch sử mặc dù có một số tiết học các nhân vật lịch sử đó đóng vai trò trung tâm trong nội dung bài giảng. Lý do khác nữa dẫn đến học sinh không ham thích học tập bộ môn Lịch sử là do chúng ta còn thiếu nhiều kinh nghiệm trong dạy học lịch sử, trong sử dụng phương pháp dạy học đặc thù của bộ môn nên chưa gây cho học sinh hứng thú thực sự để nâng cao chất lượng bộ môn, trong khi nhà trường hiện nay vẫn còn thiếu nhiều phương tiện dạy học như: băng đĩa Video, bản đồ tranh ảnh lịch sử, tư liệu tranh ảnh về các nhân vật lịch sử... Với những lý do trên và qua nhiều năm dạy học Lịch sử 11 tôi xin nêu kết quả học tập bằng thống kê kết quả học sinh ở năm học 2010- 2011 với số lượng học sinh yếu kém còn nhiều, số lượng học sinh khá, giỏi ít: Giỏi Năm học 2010-2011 (lớp 11) Khá TB Yếu - kém Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ lượng % lượng % lượng % lượng % 3 3.0 20 22 55 61 11 14 B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài: Với thực trạng trên, là cô giáo dạy lịch sử tôi luôn tìm tòi đưa ra những giải pháp cụ thể để giải quyết vấn đề. Trong bài viết này bản thân tôi trình bày một kinh nghiệm nhỏ được rút ra sau nhiều năm dạy học chương trình Lịch sử 11 hệ Giáo dục thường xuyên với đề tài: “Gây hứng thú học tập bộ môn lịch sử lớp 11 bằng cách khắc hoạ sâu sắc biểu tượng nhân vật lịch sử trong giờ lên lớp”. Môn lịch sử ở nhà trường phổ thông nói chung, môn Lịch sử thế giới lớp 11 hiện nay nói riêng, cho ta thấy rằng sách giáo khoa lịch sử lớp 11 phần lịch sử 3 thế giới tác giả đã soạn thảo nội dung và chương trình thật sự không khô khan, không kém phần hấp dẫn, so với sách cũ thì sách cải cách lần này nhà biên soạn đã đưa rất nhiều các kiến thức mới để làm tư liệu cho giáo viên và học sinh, nếu thầy cô giáo biết cách sử dụng và khai thác nó một cách có hiệu quả trong giờ lên lớp thì kết quả đạt được rất cao. Để làm được điều đó, yêu cầu ở người giáo viên rất cao trong tất cả mọi hoạt động mọi khâu trong quá trình lên lớp như: hướng dẫn học sinh học tập, chuẩn bị đồ dùng dạy học, chuẩn bị tài liệu tham khảo, các câu hỏi mở rộng, có sự liên hệ thực tế với cuộc sống…Giáo viên chuẩn bị được tất cả những điều kiện trên thì khâu lên lớp sẽ là một quá trình hoàn hảo, làm chủ của giáo viên, nhằm gây cho các em hứng thú học tập, tiếp thu bài giảng có hiệu quả, để nâng cao chất lượng dạy và học, trong đó phương pháp “ Phương pháp gây hứng thú học tập lịch sử lớp 11 bằng cách khắc hoạ sâu sắc biểu tượng nhân vật lịch sử” là một trong những biện pháp gây hứng thú học tập nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử hiện nay. Như chúng ta đã biết, sử học Mác-xít đã làm sáng tỏ quan điểm con người là chủ thể là nhân vật trung tâm của lịch sử, còn các vị Thần linh, Đức phật, Chúa trời…qua các câu chuyện kể chỉ là do con người nghĩ ra mà thôi. Vì vậy, sử học Mác-xít cũng khẳng định chân lý rằng, quần chúng là người làm nên lịch sử, là động lực quyết định sự phát triển của lịch sử là sức mạnh của lịch sử, đó là qui luật. Nhưng sử học Mác-xít không phủ nhận vai trò của cá nhân trong lịch sử. Các-Mác khẳng định: “Mỗi thời đại xã hội đều cần có những con người vĩ đại của nó và nếu không có những con người như thế thì…thời đại sáng tạo ra con người ”. Trong chương trình và nội dung bài học lịch sử thế giới lớp 11 có nhiều nhân vật lịch sử tiêu biểu cho cả thế giới và Việt Nam. Vậy nên, khi lên lớp giáo viên cần phải chú ý khắc sâu các biểu tượng nhân vật lịch sử đó trong giờ dạy nhằm gây sự hứng thú học tập cho các em, đồng thời việc khắc sâu các biểu 4 tượng nhân vật lịch sử trong giờ dạy không những giúp các em khắc sâu được kiến thức mà cụ thể là các sự kiện lịch sử quan trọng trong bài học mà còn giáo dục các em học tập, noi gương những đức tính tốt đẹp của các nhân vật lịch sử bấy giờ để rút ra được bài học cho bản thân của các em trong cuộc sống cũng như khi vào đời. Trong chương trình và nội dung sách giáo khoa lịch sử lớp 11 (phần lịch sử thế giới) hiện hành có trên 20 nhân vật lịch sử, những biểu tượng nhân vật lịch sử mà giáo viên cần phải khắc sâu đó là những “vĩ nhân” lịch sử như: Ô-livơ Crôm-Oen (nhà lãnh đạo Cách mạng tư sản Anh); Rô-bex-spi-e (nhà lãnh đạo Cách mạng tư sản Pháp); Oa-sinh-tơn (nhà lãnh đạo cuộc chiến tranh giành độc lập ở Bắc Mỹ); Mông-tex-ki-ơ; Rút-xô; Vôn-te… (các nhà tư tưởng, triết học ánh sáng lớn ở Châu Âu thế kỷ XVIII); C.Mác; Ăng-ghen (các nhà lãnh đạo cách mạng vĩ đại trong phong trào công nhân quốc tế ); Lê-nin (Vị lãnh tụ vĩ đại Cách mạng tháng Mười Nga); V.A.Mô-Za; Bét-thô-ven; Sô-panh (các nhạc sĩ nỗi tiếng thế giới ở thế kỷ XVIII) ; Giêm-oát; Niu-tơn; Đác-uyn…(các nhà phát minh khoa học). Các nhà lãnh đạo cách mạng trong phong trào giải phóng dân tộc ở Châu Á như: Ti-Lắc (Ấn Độ); Áp-đun-ra-man (Mã Lai); A.Xu-các-nô (Inđô-nê-xi-a)… và một số nhân vật lịch sử khác. Phần lịch sử Việt Nam có nhiều nhân vât lịch sử nổi tiếng gắn với quá trình đấu tranh xâm lược, đặc biệt phong trào chống Pháp của nhân dân ta trong những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX như Nguyễn Tri Phương, Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Hoàng Diệu, Tôn Thất Thuyết, Hàm Nghi, Nguyễn Thiện Thuật, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, vua Duy Tân...và đặc biệt là Nguyễn Tất Thành người đã ra đi tìm đường cứu nước cho dân tộc trong bối cảnh đất nước gặp nhiều đau thương khi Pháp xâm lược, nhất là chứng kiến sự thất bại của nhiều bậc tiền bối đi trước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, đây là nhân vật lịch sử có vai trò quan trọng đối với lịch sử dân tộc nên SGK có phần bài riêng nói về 5 nhân vật này. Vì vậy, giáo viên cần lưu ý chú trọng vì nó còn liên quan tới lịch sử 12 sau này. Như vậy, toàn bộ chương trình lịch sử thế giới lớp 11 hiện hành học sinh phải nhớ trên 25 nhân vật lịch sử, cùng với hơn 15 nhân vật chính trong phần lịch sử Việt Nam, do đó một trong những điều gây khó khăn đã làm giảm hứng thú học tập của học sinh đối với bộ môn này . Vì vậy muốn các em nhớ lâu và hiểu sâu sắc các nhân vật lịch sử đó thì giáo viên phải biết khắc sâu những biểu tượng nhân vật lịch sử đó vào trong tâm trí của các em bằng cách nêu những đặc điểm, hình dáng của từng nhân vật thì các em thấy được tư liệu thầy cô cung cấp kiến thức ngoài hấp dẫn, tạo cho các em sự hào hứng học tập. Từ các nhân vật lịch sử đó các em biết rút ra những bài học quý báu cho bản thân vừa để học tập, vừa phấn đấu. Nhưng nếu ngược lại thầy (cô) giáo chỉ giới thiệu qua loa như: cho xem tranh ảnh minh hoạ trong SGK thôi, đọc những phần giới thiệu mà sách cung cấp, rồi thầy cô giáo bắt các em phải nhớ tên, nhớ năm sinh, quê hương… của từng nhân vật lịch sử dẫn đến các em nhàm chán trong quá trình học tập. Muốn dạy tốt và học tốt môn lịch sử, ngoài những nguyên tắc và phương pháp bắt buộc khi lên lớp, giáo viên cần phải biết khắc sâu nhân vật lịch sử ngay trong giờ học. Việc khắc sâu biểu tượng nhân vật lịch sử ngay trong giờ học có nhiều cách làm, song bản thân tôi xin nêu vài kinh nghiệm đã thu được trong cả năm học 2011-2012 ở 3 lớp 11A1, 11A2 và 11A3 và đặc biệt là qua nhiều năm dạy lịch sử 11 mà tôi đã trực tiếp giảng dạy. 2. Các giải pháp thực hiện Trong chương trình lịch sử 11hệ GDTX, trước khi lên lớp giáo viên cần xác định cho được những đặc điểm, hình dáng…của nhân vật lịch sử, rồi khắc hoạ cho học sinh nắm được, nhằm gây hứng thú học tập cho các em. Theo tôi được phân ra nhiều biện pháp sau: 6 2.1 Trước hết giáo viên cần phải khắc sâu hình dáng nhân vật lịch sử Mỗi nhân vật lịch sử đều có một hình dáng, tác phong riêng của mình. Nếu thầy cô giáo chỉ giới thiệu sơ lược cho học sinh về hình dáng nhân vật qua hình ảnh trong SGK cung cấp thì các em không có cảm nhận về nhân vật đó và không có tác dụng giáo dục cao, mà kinh nghiệm cho thấy là, khi dạy đến nhân vật lịch sử, giáo viên phải giới thiệu một vài đặc điểm về hình dáng nhân vật, khắc sâu hình dáng riêng, đặc điểm riêng để các em dễ làm quen, dễ hiểu biết và nhớ lâu về nhân vật đó, để dễ so sánh với các nhân vật lịch sử khác trong quá trình học. Để từ đó chúng ta đánh giá được ngay con người ấy qua từng hình ảnh sinh động riêng mà giáo viên cần phải là người hướng dẫn tìm lối đi cho học sinh. Qua quá trình dạy và áp dụng biện pháp này, bản thân có 3 sáng kiến xử lý như: a) Có nhân vật lịch sử chúng ta cần phải mô tả một số nét chân dung nhằm mục đích giúp học sinh biết kỹ và hiểu sâu sắc về nhân vật đó. Ví dụ: Khi dạy bài 1 “Nhật Bản” (SGK), Ở mục 2: “Cuộc Duy Tân Minh Trị” giáo viên sử dụng hình 1 SGK và cho học sinh quan sát về Thiên Hoàng Minh Trị (1852 - 1912). Vì trong SGK chỉ có tranh mà không có một tư liệu nào nói về nhân vật này, trong khi đó vua Minh Trị có vai trò rất lớn đối với nước Nhật đó là tiến hành cải cách trên mọi lĩnh vực những năm 60 của thế kỷ XIX, đưa đất nước Nhật Bản từ một nước phong kiến trở thành một nước tư bản rồi tiến lên trở thành một đế quốc hùng mạnh ở Châu Á và đi xâm lược các nước khác trên thế giới (đặc biệt là tham gia cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 1918). SGK không miêu tả hình dáng Minh Trị, nếu giáo viên chỉ đưa ảnh trong SGK cho học sinh xem thì không có ý nghĩa gì, mà giáo viên cần phải vừa cho các em xem ảnh (nếu photo càng tốt) vừa giới thiệu cho học sinh thấy rõ Vua Minh Trị (Mutsôhitô) là một người trẻ tuổi lên ngôi năm 1867 lúc đó ông mới 15 tuổi, dáng người nhỏ, có đôi mắt sáng, cái nhìn tinh anh, sắc và đôi lông mày rậm, tư thế nghiêm trang dáng con nhà dòng tộc...Chứng tỏ rằng Minh Trị là một 7 con người cương nghị cứng rắn nhưng táo bạo có năng lực, có học thức, có đầu óc cách tân trong chính phủ. Với cách tả hình dáng như vậy nhằm mục đích khắc hoạ sâu sắc hình ảnh của Vua trong đầu học sinh và làm cho các em mau chóng hiểu biết về nhân vật này, qua đó giáo dục cho các em lòng kính trọng yêu quí những người đã có công với đất nước, chúng ta cần phải trân trọng và luôn ghi nhớ, từ đó giúp các em tìm hiểu thêm về cuộc đời của Minh Trị trong bài học cũng như tài liệu khác ngoài SGK. Trên cơ sở đó, nhân vật Tôn Trung Sơn trong bài 3: “Trung Quốc”- Mục 3: “Tôn Trung Sơn và Cách Mạng Tân Hợi (1911)” hình 7(SGK) giáo viên gợi mở câu hỏi cho học sinh như: - Nhìn vào bức chân dung em thấy Tôn Trung Sơn như thế nào? - Em có suy nghĩ gì về nhân vật này? - Ông có tác động như thế nào đối với Trung Quốc nói chung và thế giới nói riêng? Với những câu hỏi gợi mở như vậy bắt buộc học sinh phải suy nghĩ về nhân vật này, điều đó tạo cho học sinh sự khám phá tìm tòi... Sau đó giáo viên gợi mở cho các em những gì cần phải lưu tâm và bằng sự chuẩn bị của mình người giáo viên hướng dẫn chi tiết cụ thể về lịch sử Trung Quốc ở giai đoạn này, sau đó cho học sinh xem bức chân dung của Tôn Trung Sơn: Tôn Trung Sơn (1866 - 1925) 8 Giáo viên hướng dẫn học sinh xem bức chân dung của ông trong SGK và thấy khuôn mặt của ông luôn đăm chiêu suy nghĩ, lông mày rậm mắt sáng, vầng chán cao, là người thông minh, luôn lo lắng cho cuộc sống của nhân dân trước tình cảnh đất nước một lúc có 8 nước đế quốc xâm lược. Ngoài những kiến thức trong SGK cung cấp, giáo viên có thể thêm tư liệu về Tôn Trung Sơn, nhất là về mối tình của ông với Tống Khánh Linh một trong ba chị em gái sinh đẹp tài giỏi được sinh ra trong một gia đình tư sản lớn ở Thượng Hải. Cha của Tống Khánh Linh là Tống Giá Thụ một mục sư đạo cơ đốc đã từng học ở Mĩ, lại cũng là một gia đình cách mạng dân chủ. Tôn Trung Sơn phát động cuộc chiến tranh chống Viên Thế Khải bị thất bại, đầu tháng 8/1913 phải chạy sang Nhật. Lúc này Tống Khánh Linh vừa tốt nghiệp Đại học, trên đường về nước có ghé qua Nhật Bản, bà nghe nói Tôn Trung Sơn đang tìm một người thư ký liền đến xin làm không một chút do dự. Tống Khánh Linh hết sức giúp đỡ Tôn Trung Sơn làm việc. Bà đảm nhiệm mọi công việc chỉnh lý văn kiện, xử lý điện mật... hai người đều có sức cuốn hút lẫn nhau vì đều có chung mục tiêu cách mạng, cùng có lòng yêu nước nồng nàn... đã giúp nhau trong khó khăn gian khổ và bắt đầu lặng lẽ yêu nhau. Và một năm sau hai người đính hôn với nhau, gia đình Tống Khánh Linh không chấp nhận, cho rằng cuộc kết hôn này không thích hợp và đủ lý do khác nhưng Tống Khánh Linh không hề giao động, bà nói rằng bà chỉ sung sướng khi được làm việc với Tôn Trung Sơn... và bà quyết tâm đi Nhật. Ngày 25/10/1915 Tống Khánh Linh kết hôn với Tôn Trung Sơn. Hoặc với Tổng thống Rurơven bài 13: “Nước Mĩ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới” (1918 – 1939); Gan-đi, Mao Trạch Đông trong bài 15: “Phong trào cách mạng Trung Quốc và Ấn Độ”; Xucácnô bài 16: “Các nước Đông Nam Á giữa hai cuộc chiến tranh” (1918 - 1939)... giáo viên cũng lần lượt mô tả hình dáng của các ông thật sâu sắc gây cảm xúc cho học sinh qua chân dung trong sách giáo khoa, gây cho học sinh có những ấn tượng khó quên về các bậc lãnh tụ đó. 9 b) Có những nhân vật lịch sử cần mô tả về phong thái và đặc điểm chung Giáo viên không thể đặc tả tỉ mỉ chi tiết từng nhân vật lịch sử, nhưng cũng không vì vậy mà bỏ đi hoặc lướt qua. Do đó giáo viên có thể lược tả chung chung nhưng vẫn nêu được đặc điểm đáng ghi nhớ và vẫn phải đạt được yêu cầu là qua đặc tả phong thái và một vài nét chung đó có thể làm cho học sinh thấy được phẩm chất của nhân vật lịch sử đó. Ví dụ 1: Khi dạy bài 7: “Những thành tựu văn hoá thời cận đại” đã giới thiệu vài nét về Betthôven (năm sinh 1770 - 1827, nơi ở Đức) hình 16-SGK Betthôven(1770-1827) là nhạc sĩ, nhà soạn nhạc người Đức. Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống lâu đời về âm nhạc. Tám tuổi Betthôven tham gia trình diễn trong dàn nhạc cung đình,12 tuổi bắt đầu sáng tác âm nhạc,16 tuổi đã nổi tiếng. Vì vậy khuôn mặt của ông trong bức chân dung hình 16 SGK thể hiện sự đăm chiêu suy nghĩ của nhà soạn nhạc cổ điển người Đức. Phần lớn thời gian ông sống ở Viên, Áo. Ông là một hình tượng âm nhạc quan trọng trong giai đoạn giao thời từ thời kỳ âm nhạc cổ điển sang thời kỳ âm nhạc lãng mạn. Ông có thể được coi là người dọn đường (Wegbereiter) cho thời kỳ âm nhạc lãng mạn. Beethôven được khắp nơi công nhận là nhà soạn nhạc vĩ đại nhất và có ảnh hưởng tới rất nhiều những nhà soạn nhạc, nhạc sỹ, và khán giả về sau. 10 Trong số những kiệt tác của ông phải kể đến các bản giao hưởng như Giao hưởng số 2 Rê trưởng, Giao hưởng số 3 Mi giáng trưởng (Anh hùng ca), Giao hưởng số 5 Đô thứ (Định mệnh), Giao hưởng số 6 Fa trưởng (Đồng quê), Giao hưởng số 7 La trưởng, Giao hưởng số 9 Rê thứ (Niềm vui), các tác phẩm cho dương cầm như Für Elise và các sonata Bi tráng (Pathétique), Ánh trăng (Moonlight), Bình minh (Waldstein), Khúc đam mê (Appasionata)... các sonata cho vĩ cầm như Mùa xuân (Spring), Kreutzer... các Piano Concerto số 2, số 3, số 5 Emperor (Hoàng đế), Violin Concerto D major... các khúc mở màn Overture Coriolan, Leonore, Egmont... Năm 1781, Beethoven 11 tuổi, ông đã biểu diễn như một nghệ sĩ piano điêu luyện tại Hà Lan. Cũng trong thời gian này, ông cũng được cử làm phụ tá chơi đàn organ trong nhà thờ tại Bon. Năm 1782 chính Neefe đã cho xuất bản tác phẩm đầu tiên của Beethoven, bản "Các variation cho clavecin của bản march của Ernst Christoph Dressler". Cũng chính trong năm này, Beethoven trở thành người đại diện cho Neefe ở dàn nhạc hoàng gia với vai trò nghệ sĩ đại phong cầm. Năm 14 tuổi, Beethoven giành được vị trí chính thức là nghệ sĩ chơi đại phong cầm trong dàn nhạc này. Tuy nhiên trong thời gian này ông vẫn tiếp tục luyện tập dương cầm. Năm 1795, Beethoven bắt đầu nổi danh là một nghệ sĩ piano với bản Concerto cung trưởng. Nhưng chẳng may từ năm 1780 ông bắt đầu bị lãng tai. Lúc đầu ông mất hết hy vọng nhưng rồi cố gắng thích nghi với điều kiện sống và bắt đầu tập trung tư tưởng tình cảm cao độ hơn bất cứ lúc nào hết trong sáng tác. Những tác phẩm của Beethoven hoàn thành trong khoảng 1803-1805 vượt trội hẳn những gì mà ông sáng tác trước đó. Đó là bản Sonate Kreutzar (1803) viết cho violon và piano. Bản Giao hưởng Số 3 Anh hùng ca (1804) có sức cuốn hút mạnh mẽ và gây xúc động sâu xa, lúc đầu ông đề tặng Napoléon nhưng khi Napoléon lên ngôi Hoàng đế thì ông đã xé đi lời đề tặng. Các Sonate cho piano, Bình minh (1804) và Appasionta (1805), Bản Giao hưởng Số 4 (1806), Bản Giao 11 hưởng Số 5 Định mệnh (1808) đều có giá trị nghệ thuật lớn lao. Ông muốn lột tả trong âm thanh về một cuộc sống trong sự đấu tranh với cái chết bằng một sức mạnh khủng khiếp cuối cùng đã ca khúc khải hoàn, như nhân vật nữ trong vở Opera Fidelio (1805) ra sức bảo vệ người chồng của mình chống lại sự xấu xa bạo tàn, và trong khúc Missa Solemnis là lời cầu nguyện để giải thoát khỏi đau thương. Từ đó giáo viên có thể so sánh Betthoven với MôZa là hai nhà âm nhạc thiên tài của thế giới đã để lại cho đời những tác phẩm âm nhạc bất hủ đến bây giờ vẫn còn được nhiều người yêu thích dòng nhạc cổ điển này. Nhà toán học Tago (1861 - 1941), Hô-xê Mác-tin (1823 - 1893)... sang mục “ Trào lưu tư tưởng tiến bộ...” ( trang 41 SGK ) hình 20 có chân dung của Hê-ghen (1770- 1830), đối với nhân vật lịch sử này giáo viên đặc tả cho học sinh thấy được phong thái suy tư sâu rộng qua vẻ mặt của Hê-nghen một con người luôn suy tư nghiên cứu về triết học một ngành khoa học đầy lý luận trong lịch sử xã hội loài người bấy giờ. Ví dụ 2: Cũng trong bài 13: “Nước Mĩ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 - 1939)” để khắc sâu hình ảnh tổng thống Rurơven (Hình 36- SGK) giáo viên giới thiệu hình ảnh đáng ghi nhớ, vị tổng thống xuất sắc của nước Mĩ bấy giờ khi có những quyết định táo bạo nhằm đưa nước Mĩ thoát khỏi khủng hoảng... Ví dụ 3: Bài 15 “Phong trào cách mạng ở Trung Quốc” (trang 79 SGK) chân dung Mao Trạch Đông (hình 39- SGK) sau đó giáo viên đặc tả những nét chung và những phẩm chất tốt đẹp Mao Trạch Đông được thể hiện qua chân dung với phong cách nghiêm nghị, ánh mắt nhìn thẳng, thể hiện tính cứng rắn và cương quyết trừng trị bọn phản cách mạng, luôn luôn bảo vệ quyền lợi cho nhân dân. Vậy chỉ cần ít phút để khắc sâu nhân vật lịch sử trong bài học sẽ làm cho các em luôn có cảm tình với các nhân vật đó, qua đó các em sẽ khắc sâu được 12 vai trò của các nhân vật lịch sử nhất là các lãnh tụ của các cuộc đại cách mạng, cũng từ đó giáo viên giáo dục các em biết tôn trọng các nhân vật lịch sử, biết noi gương những phẩm chất tốt đẹp mà các nhân vật lịch sử có được mà giáo viên đã đặc tả được ngay trong giờ lên lớp, đồng thời gây được hứng thú cho các em ham thích học tập bộ môn lịch sử thế giới . Bên cạnh việc đặc tả về phong thái của từng nhân vật, giáo viên có thể giới thiệu thêm những đặc điểm đặc biệt như năng khiếu, năng lực, tính cách đạo đức, hoàn cảnh bản thân…của nhân vật lịch sử có được để làm nổi bật nhân vật lịch sử đó, giúp cho học sinh có ấn tượng sâu sắc, hoặc cảm thông với từng nhân vật, làm cho các em hiểu và nhớ lâu các sự kiện lịch sử đã xảy ra có liên quan đến nhân vật lịch sử trong giai đoạn đó. Ví dụ 3 : Khi dạy bài 7:“ Những thành tựu văn hoá thời cận đại” mục 1 “Sự phát triển của văn hoá trong buổi đầu thời cận đại”. Trong nội dung bài dạy có nói sự phát triển âm nhạc nhiều thiên tài xuất hiện như Mô-Za, Bách và Bétthô-ven, Sô-panh. Để học sinh nhận biết về các nhân vật này một cách sâu sắc giáo viên có thể giới thiệu vài nét về đặc điểm đặc biệt về các nhân vật này. Ví dụ như Mô-Za “là một thiên tài âm nhạc, lúc lên 3 tuổi đã biết chơi đàn, lúc 5 tuổi đã biễu diễn đàn trước hoàng tộc lúc 6 tuổi đã đã biết sáng tác nhạc…” Mô-za(1756-1791) Với cách giới thiệu đó có thể gây hứng thú cho các em làm cho các em nhớ mãi về những nhân vật xuất sắc này bằng cách đưa bức chân dung của ông 13 cho học sinh xem và có thể so sánh các nhân vật thiên tài âm nhạc với nhau. Mặc dù SGK không có tranh ảnh của các nhà âm nhạc này. c) Chọn một vài nét về hình dáng của con người Để minh hoạ nhắm khắc sâu hình ảnh của nhân vật lịch sử vào trong trí nhớ của học sinh, giáo viên cần phải biết cách kết hợp các tư liệu khác để hoàn thiện mục đích bài học của mình. Vì vậy, làm sống lại nhân vật lịch sử đó trước mắt của các em. Chúng ta có thể sử dụng kho tư liệu trên các trang Wed liên quan đến giảng dạy như violet...là thư viện giáo án điện tử bổ ích trong việc sử dụng các phương tiện hiện đại trong dạy học lịch sử, như dạy trên Powerpoint, Violet. Giáo viên có thể sưu tầm tranh, ảnh các nhân vật lịch sử liên quan đến bài dạy với việc in, phô tô ảnh cỡ lớn hoặc sử dụng trong trình chiếu sẽ có tác dụng rất tích cực. 2.2) Chọn lọc những hoạt động tiêu biểu hay sự nghiệp của nhân vật để khắc sâu kiến thức cho học sinh. a) Một nhân vật lịch sử bao giờ cũng có một sự nội dung bài học lịch sử ngoài những nhân vật chính diện, còn có một số nhân vật phản diện như : Hít-le (bài “Nước Đức giữa hai cuộc Chiến tranh thế giới”). Đối với những nhân vật này giáo viên không cần hình ảnh hay chân dung để minh hoạ, mà cần khắc hoạ bằng lời nói với những lời lẽ hết sức lôi cuốn. Vì đây là nhân vật phản diện. Ví dụ: Giáo viên có thể mô tả vài nét về Hít-le có gương mặt hiểm hóc, hiếu chiến thể hiện là một tên trùm phát-xít. Ông sinh năm 1889 tại nước Áo gần biên giới nước Đức. Bố y là thợ đánh giầy, thuở nhỏ Hitle học kém hay bỏ học, khi bố mẹ mất, Hitle lưu lạc đến thủ đô Viên làm nghề như quét tuyết, đập thảm, vận chuyển hành lý để kiếm sống. Năm 1913 Hitle đi lính ở Đức, 1917 y được phong hàm hạ sĩ. Sau chiến tranh y làm mật thám cho Bộ Chính Trị Lục Quân Đức. Năm 1919 y ra nhập Đảng công nhân Đức. Năm 1920 y công bố 25 điểm của Đảng gọi là chủ nghĩa xã hội, sau đó y đổi tên thành Đảng Quốc Xã để tuyên truyền lừa bịp. Đảng phát triển rất nhanh và y cho ra lá cờ hình chữ thập ngoặc 14 về sau là lá cờ chung của chủ nghĩa phát xít. Năm 1932 Hítle ra tranh cử Tổng thống tuy không đắc cử nhưng cũng giành được 38,6% số phiếu. Năm 1030 Đảng Quốc Xã lên nắm quyền. Năm 1934 Hítle trở thành Quốc trưởng nước Đức và xúc tiến cuộc chiến tranh thế giới, kẻ gây Chiến tranh thế giới lần thứ II gây ra bao cảnh đau thương cho nhân loại, từ đó giáo dục các em biết căm thù chiến tranh, căm ghét những kẻ gây ra chiến tranh. Tóm lại để gây hứng thú học tập cho học sinh, giáo viên không nên bỏ qua bất cứ hình ảnh nhân vật lịch sử nào, mà người thầy cô giáo cần phải khắc sâu các nhân vật lịch sử đó ngay trong giờ lên lớp, song cũng không nên rập khuôn một cách máy móc, người thầy giáo phải biết chọn lọc những chi tiết hết sức cần thiết và những nét sinh động nhất để khắc sâu vào tâm trí các em, đặc biệt là thầy cô giáo phải biết dùng lời nói sao cho phù hợp với nhân vật nhất định. Trong một thời gian ngắn ngủi (45phút) trên lớp, người thầy cô giáo dạy sử chúng ta không thể nào kể lại toàn bộ sự nghiệp của nhân vật, mà chỉ có thể chọn lọc một trong hai hoạt động tiêu biểu nhất trong cuộc sống hoặc những hoạt động điển hình nhất, cần phải chọn lọc tinh giảm cao độ nhưng phải đầy đủ chính xác, làm sao khi giảng không nông cạn, không mơ hồ, đây là việc làm rất khó, qua thực tế thực hiện ở lớp học tôi xin đúc kết một vài kinh nghiệm về mặt lí luận và kết hợp với thực tiễn như sau: Trước hết giáo viên phải nắm vững yêu cầu lịch sử cụ thể (thời gian xảy ra sự kiện đó, xảy ra ở nước đó), trên cơ sở nắm vững vấn đề trên giáo viên chọn hoạt động cần nêu ra của một nhân vật, đặc biệt giáo viên phải cho học sinh nắm được tình huống xuất hiện của nhân vật lịch sử, để học sinh thấy rõ vấn đề trước yêu cầu của lịch sử xuất hiện nhân vật lịch sử, trong mọi tình huống đó giáo viên phải nêu rõ mâu thuẫn xã hội, tránh không được nêu chung chung mà phải đi sâu vào tình hình và phân tích chung. Ví dụ 1: khi dạy bài 15: Cách mạng Trung Quốc và Ấn Độ (1918 - 1939) 15 ( Mục 2: “Chiến tranh Bắc phạt (1926-1927) và cuộc chiến Quốc cộng 1927 – 1937” SGK Lớp 11), chúng ta muốn khắc sâu nhân vật lịch sử Mao Trạch Đông cho học sinh nắm vài đặc điểm của nhân vật này, trong sách giáo khoa không có giới thiệu gì về Mao Trạch Đông mà chỉ nêu rằng “ Để bảo toàn lực lượng, 10/1934 Hồng quân công nông phải tiến hành cuộc phá vây, rút khỏi căn cứ địa cách mạng, tiến lên phía bắc, trong lịch sử gọi là cuộc “Vạn lý trưòng chinh”. Trên đường trường chinh tại hội nghị Tân Nghĩa (tỉnh Quý Châu) tháng 1/1935, Mao Trạch Đông trở thành người lãnh đạo Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Và hình 39- SGK chụp ảnh Mao Trạch Đông trên đường Vạn Lý trường chinh. Nếu trình bày như vậy thì học sinh không biết Mao Trạch Đông là ai và sao lại được quyền lãnh đạo Đảng Cộng Sản? dẫn đến kiến thức nông cạn, không gây hấp dẫn cho các em bằng cách giáo viên giới thiệu mâu thuẫn cụ thể giữa chính quyền Tưởng Giới Thạch (cụ thể là Quốc Dân Đảng) và Đảng Cộng Sản để học sinh thấy được với mâu thuẫn đó không thể không xảy ra cuộc chiến tranh giữa hai Đảng, một bên đại diện quyền lợi cho nhân dân, một bên đại diện cho giai cấp tư sản đứng sau hỗ trợ là Mĩ. Giáo viên trình bày cho học sinh thấy lịch sử Trung Quốc lúc này không phải yêu cầu một nhân vật đứng đầu chỉ huy một sự chuyển biến chung chung, mà là yêu câù một nhân vật lịch sử cụ thể để lãnh đạo Đảng Cộng Sản tiến hành một cuộc chiến tranh và cuộc nội chiến để bảo vệ nhân dân. Với cách trình bày như vậy thì chúng ta đã khắc sâu được nhân vật lịch sử Mao Trạch Đông và giúp các em khắc sâu được kiến thức của bài học lịch sử ngay tại lớp. Thậm trí giáo viên còn phải cung cấp thêm tư liệu về vị lãnh tụ này như: Mao Trạch Đông sinh ra trong một gia đình nông dân ở Hồ Nam. Sau 1911 ông tham gia vào Cách mạng ở Hồ nam. Năm 1917 Cách mạng tháng Mười Nga thành công đã ảnh hưởng tới việc tiếp thu chủ nghĩa Mác Lê-nin của ông. Năm 1920 ông thành lập tổ cộng sản ở Hồ Nam. Năm 1921 ông thành lập Đảng Cộng Sản Trung Quốc ở Thượng Hải. Năm 1923 ông được bầu làm uỷ viên Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản trung Quốc. Năm 1934 ông tham gia “Vạn lý 16 trường chinh”, chuyển quân đội cách mạng lên miền Bắc... để thấy được sự đi lên của ông trong quá trình cách mạng. Ví dụ 2: Cũng tương tự như vậy, đối với bài này mục 1 (II) “ Phong trào độc lập dân tộc trong những năm 1918-1929” ở Ấn Độ. Giáo viên cần phải khắc sâu nhân vật M.Gan-đi (hình 40-SGK) về quá trình hoạt động cách mạng của ông. Trong SGK chỉ nêu Gan-đi một lãnh tụ có uy tín lớn và có ảnh hưởng sâu rộng với nhân dân Ấn Độ. Ngược lại, nhân vật G.Oa-sinh-Tơn thì khác, qua hoạt động quân sự của G.Oa-sinh-tơn, trong SGK chỉ nêu rằng: “G.Oa-sinh-Tơn là một chủ nô giàu , có tài quân sự và tổ chức, được cử làm tổng chỉ huy nghĩa quân”, SGK không nêu lên hoạt động quân sự của G.Oa-sinh-tơn. Do đó giáo viên phải mô tả một vài hoạt động tiêu biểu, để cho học sinh thấy rằng G.Oa-sinh-tơn là một thủ lĩnh quân sự đáp ứng được nhu cầu giải quyết mâu thuẫn lúc bấy giờ giữa nhân dân “13 Bang thuộc địa Bắc Mĩ” với bọn thực dân Anh. Ví dụ như sau: (George Washington; 1732 - 99), tổng thống đầu tiên của Hoa Kì (1789 97). Người lãnh đạo cuộc chiến tranh giành độc lập ở các thuộc địa của Anh ở Bắc Mĩ. Vốn là một chủ đồn điền - chủ nô giàu có ở Vơginia (Virginia), miền Nam nước Mĩ. Lúc đầu, theo xu hướng ôn hoà nhưng sau đó là người kiên quyết theo đuổi chủ trương lật đổ chế độ thuộc địa của Anh ở Mĩ, thành lập quốc gia độc lập. Là người đại diện của bang Vơginia trong 2 Hội nghị lục địa lần I và lần II (1774, 1775) - các cuộc hội nghị mang tính độc lập và thống nhất của 12 bang trong cuộc đấu tranh vì một mục đích chung ở Philađenphia (Philadelphia). Sau 2 Hội nghị, ông giành được uy tín tuyệt đối. Ngày 10.5.1775, Hội nghị lần II kết thúc và quyết định thành lập Quân đội Lục địa. Oasinhtơn được cử làm tổng chỉ huy. Trong các năm 1776 - 81, trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh lớn, đặc biệt các trận ở Xarơtâugơ (Saratoga, 1777), Yooctao (Yorktown, 1781)... gây cho Anh nhiều thất bại nặng nề. Năm 1783, Anh buộc phải kí với Hoa Kì Hiệp ước Vecxay 1787 thừa nhận nền độc lập của các thuộc địa ở Bắc Mĩ. Chiến tranh còn 17 kéo dài thêm một thời gian nữa nhưng cuối cùng vào năm 1787, dưới sự chủ trì của Oasinhtơn một Hội nghị Liên bang đã được triệu tập. Hội nghị đã thông qua bản Hiến pháp 1787, nhằm biến Hoa Kì từ một liên bang nhiều quốc gia thành một quốc gia liên bang. Sau khi Hiến pháp được phê chuẩn năm 1788, Oasinhtơn được bầu làm tổng thống. Năm 1793, ông là người chủ trương không tham gia vào liên minh các nước Châu Âu chống Cách mạng. b) Một số tình huống xuất hiện những nhân vật lịch sử: trong các bài học thuộc chương III trong SGK “ Châu Á ở thế kỷ XVIII - Đầu thế kỷ XX” ví dụ học về Cách mạng Trung Quốc có lãnh tụ Tôn Trung Sơn, Cách mạng Pháp, cách mạng Ấn Độ có lãnh tụ Ti-Lắc, hoặc bài “ Châu Á (1918 – 1945)” có lãnh tụ M.Gan-đi (1869 – 1948), Cách mạng ở Mã Lai có lãnh tụ Áp-đun Ra-man, Cách mạng In-đô-nê-xi-a có nhà cách mạng A.Xu-các-nô … như vậy cuối thế kỷ XIX và những năm đầu của thế kỷ XX yêu cầu lịch sử đặt ra cho mỗi quốc gia nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp giành độc lập dân tộc, lúc này mâu thuẫn giữa dân tộc thuộc địa với đế quốc thực dân ngày càng sâu sắc, nên các nhân vật lịch sử đó xuất hiện và đã giải quyết được mâu thuẫn đó theo yêu cầu của lịch sử . Phần lịch sử Việt Nam chúng ta cần khắc sâu những nhân vật lịch sử có vai trò quan trọng với tiến trình lịch sử dân tộc như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và đặc biệt là Nguyễn Tất Thành. Những nhân vật lịch sử trên tạo dấu ấn trong phong trào cứu nước đầu thế kỉ XX. Ví dụ: Ở bài 30 mục II có mục 3 về hoạt động của Nguyễn Tất Thành sau khi ra đi tìm đường cứu nước. Đây là mục quan trọng của tiết học và cũng là bước đánh dấu hướng đi mới của người so với các bậc tiền bối. Giáo viên cho học sinh xem ảnh : 18 rồi khắc sâu thân thế của người, hoàn cảnh gia đình bối cảnh đất nước và việc lựa chọn hướng đi mới của người là phương Tây, muốn đánh Pháp phải hiểu biết về nước Pháp....Giáo viên có thể kể câu chuyện về Nguyễn Tất Thành và người bạn lúc ra đi để thấy được quyết tâm và nghị lực của người, của một bậc vĩ nhân sau này. Giáo viên có thể đọc một đoạn thơ: “... Đất nước đẹp vô cùng Nhưng Bác phải ra đi...” Giáo viên kể về công việc của người trên tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin, rồi đến các Châu Lục, các nước với công việc của một người lao động bình thường. Qua đó học sinh thấy được những hoạt động bước đầu của Người nhưng rất quan trọng để xác định con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam. Giáo viên có thể tích hợp việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh ở mục này. 2.3) Khắc sâu vài chi tiết phụ của nhân vật lịch sử Sau khi đã khắc sâu đặc điểm, hình dáng hay các hoạt động điển hình của nhân vật, giáo viên còn có thể khắc hoạ sâu sắc nhân vật lịch sử vài nét về thân thế, sự nghiệp, trình độ học vấn …để giúp học sinh hiểu sâu hơn, rộng hơn và nhớ lâu về nhân vật lịch sử đó. Ví dụ : Trong bài 7 “ Những thành tựu văn hoá thời cận đại” Giáo viên phải chuẩn bị tốt về những hoạt động tiêu biểu nhất của Mác và Ănghen, Lê-nin. Ví dụ khi giới thiệu về Mác, Ăng-ghen và Lê-nin, SGK chỉ nêu đơn giản mang 19 tính chất thông báo về ba ông, không giới thiệu về hoạt động của Mác, Ăng-ghen và Lê-nin, khi dạy phần này giáo viên có thể giới thiệu nhanh khoảng 4 phút về ba ông : như Mác không những học giỏi, đỗ tiến sĩ mà vừa là một nhà nghiên cứu khoa học, tham gia cách mạng, vừa là lãnh đạo phong trào công nhân quốc tế; đối với Ăng-ghen cho học sinh nắm rõ, Ăng-ghen sinh ra trong một gia đình chủ xưởng giàu có ở Đức, nhưng Ông từ bỏ sự nghiệp làm giàu của gia đình, quyết định đi tìm hiểu nỗi thống khổ của giai cấp công nhân và đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân. Từ sự giới thiệu đó giáo viên có thể cho học sinh thấy được những điểm giống nhau trong tư tưởng của Mác và Ăng-ghen và cũng bắt đầu từ quan điểm chung đó, hai Ông đã gặp nhau và trở thành đôi bạn tri kỉ, lâu bền và cảm động mà SGK đã nêu ra ý này. Hoặc giáo viên có thể khắc sâu nhân vật lịch sử bằng cách cho học sinh nắm những nét tương đồng xuất thân gia đình hay từ nghề nghiệp của nhân vật đó…ví dụ như Crôm-Oen xuất thân từ gia đình quý tộc mới, Oa-Sinh-Tơn là kỹ sư… hoặc có thể kích thích tâm lý học tập cho các em giáo viên có thể cho học sinh biết thêm về nhà lãnh đạo cách mạng Ấn Độ, Ti-Lắc vừa là lãnh đạo phái cấp tiến chống thực dân Anh cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, vừa là một nhà sử học thông thái, nhà ngôn ngữ học danh tiếng . Các nhân vật lịch sử trong phần lịch sử Việt Nam có vai trò rất quan trọng với phong trào chống Pháp trong thời kì này. Vua Hàm Nghi trong bài 21 “ Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XIX” có thể khái quát như sau: Vua Hàm Nghi là Nguyễn Phúc Ưng Lịch, là em ruột của vua Kiến Phúc (tức vua Đồng Khánh). Sau khi vua Tự Đức qua đời 1883, trước thời Hàm Nghi cả ba vua Dục Đức, Hiêp Hòa, Kiến Phúc lên nối ngôi, nhưng khi vua Kiến Phúc đột ngột qua đời trong lúc tình hình đang có lợi cho phái chủ chiến trong triều đình. Cuối cùng Tôn Thất Thuyết đã chọn Ưng Lịch là người nối ngôi vì vua ủng 20
- Xem thêm -