Skkn phương pháp dạy ôn tập tốt nghiệp môn ngữ văn thpt

  • Số trang: 36 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 18 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: "PHƯƠNG PHÁP DẠY ÔN TẬP TỐT NGHIỆP MÔN NGỮ VĂN THPT" 1 A-ĐẶT VẤN ĐỀ Môn Ngữ văn là một môn học quan trọng. Cùng với Toán và Tiếng Anh, Ngữ văn cũng là môn thi tốt nghiệp THPT. Trong nhà trường ngoài việc cung cấp những kiến thức về văn học trong và ngoài nước thì nó còn giúp học sinh nâng cao kĩ năng đọc, nghe, viết, nói. Đó là những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống. Trong quá trình học tập, học sinh học không chỉ để biết mà còn để kiểm tra, thi cử. Muốn thi đạt kết quả cao thì việc ôn tập là không thể thiếu. Có thể thấy ôn tập và kiểm tra đánh giá kết quả học tập là những mắt xích quan trọng trong quá trình dạy và học. Tôi chọn đề tài này nhằm giúp học sinh nắm chắc kiến thức khi thi tốt nghiệp và làm bài thi tốt nghiệp. Là một giáo viên dạy học ở trường THPT miền núi, điều kiện học tập của học sinh còn nhiều khó khăn do kinh tế chưa phát triển mạnh, tỉ lệ học sinh thuộc diện hộ nghèo khá cao nhưng các em rất chăm học. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng chất lượng học sinh vẫn chưa cao. Đặc biệt là tỉ lệ học sinh đạt điểm khá, giỏi trong các kì thi TNPT còn thấp, điều đó đã làm cho tôi luôn trăn trở. Tôi luôn nghĩ: phải làm thế nào để học sinh đi thi đạt điểm cao môn Ngữ văn Vì vậy, những năm gần đây trong quá trình giảng dạy và ôn thi cho học sinh, tôi đã nghiên cứu và tìm được cách ôn luyện phù hợp, học sinh biết cách và làm bài nên kết quả đã được nâng lên. Việc thực nghiệm đã được tiến hành trong ba năm học (năm học 2010 – 2011 và năm học 2011 – 2012) và tiếp tục thực hiện trong năm học 2012 – 2013 kết quả thi thử tốt nghiệp THPT đã được nâng lên đáng kể (tỉ lệ học sinh đạt điểm trung bình trở lên các lớp khá cao trong đó học sinh đạt điểm khá, giỏi là 50%) 2 Từ kinh nghiệm thực tiễn của ba năm ôn thi tốt nghiệp cho học sinh lớp 12 THPT, tôi mạnh dạn viết lại một trong những kinh nghiệm ôn thi của của mình, đó là: “Phương pháp ôn tập tốt nghiệp môn Ngữ văn(áp dụngphần truyện ngắn Văn học Việt nam)nhằm đạt kết quả cao . B- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I/ CƠ SỞ LÍ LUẬN: Trên thực tế, mỗi con người chúng ta không phải được đọc và học cái gì một lần mà nhớ hết. Trí tuệ của mỗi người thì có hạn mà kiến thức của nhân loại thì vô hạn, nhiều khi tiếp thu cái mới ta lại quên cái cũ. Vì vậy người xưa mới có câu “Ôn cố tri tân” (Ôn tập cái cũ, biết cái mới) nghĩa là bên cạnh việc tiếp thu kiến thức mới thì ta phải ôn luyện, củng cố kiến thức đã học. Mặt khác nhiều kĩ năng của con người được hình thành là do được làm đi làm lại một thao thác nào đó, từ đó mà hình thành thói quen. Ôn tập là để rèn cho học sinh kĩ năng làm bài. Học sinh sẽ làm đi làm lại một dạng bài thì sẽ hình thành cho mình kĩ năng cần thiết để tìm hiểu đề, lập dàn ý cho dạng bài đó. Không chỉ có vậy mà ôn tập còn giúp cho học sinh rèn luyện kĩ năng diễn đạt: viết câu, dùng từ, lấy dẫn chứng để chứng minh cho luận điểm, …. - Truyện ngắn là một thể loại chính của văn học Việt Nam được đưa vào giảng dạy trong trường phổ thông. Bên cạnh thơ thì truyện ngắn là một thể loại được dạy nhiều hơn cả. Trong những bài kiểm tra, thi cử rất hay đề cập đến kiến thức của thể loại này. Đặc điểm chung của truyện ngắn là có cốt truyện, chi tiết, nhân vật, lời của người kể chuyện, kết cấu,….Trong khi dạy ôn tập truyện ngắn cần phải bám sát đặc điểm của truyện để rèn kĩ năng cho học sinh. II/ CƠ SỞ THỰC TIỄN: 3 - Theo quy định của Bộ GD – ĐT về thi tốt nghiệp thì những môn như Lí, Hóa, Sinh, Tiếng Anh thi trắc nghiệm, thời gian làm bài thi là 60 phút, còn những môn: Ngữ văn, Sử, Địa, Toán vẫn thi tự luận, thời gian làm bài của môn Sử, Địa là 90 phút, thời gian làm bài của môn Ngữ Văn, Toán là 150 phút. Đối với môn Ngữ văn cấu trúc một đề thi tốt nghiệp gồm có 2 phần: Phần chung bao gồm một câu hỏi tái hiện kiến thức 2 điểm; một câu nghị luận xã hội 3 điểm. Phần riêng học sinh có thể chọn một trong hai câu nghị luận văn học thuộc chương trình chuẩn hoặc chương trình nâng cao, mỗi câu 5 điểm. Như vậy điểm của phần nghị luận văn học chiếm tỷ lệ điểm tương đối cao. Nó là một phần rất quan trọng trong đề bài. Chính vì vậy, trong quá trình dạy ôn tốt nghiệp cho học sinh giáo viên phải rèn cho học sinh kĩ năng làm bài nghị luận văn học. - Thể loại truyện ngắn trong chương trình lớp 12 chủ yếu được biên soạn ở học kì II, gồm 5 truyện ngắn: Đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài), đoạn trích “Vợ nhặt” (Kim Lân), tác phẩm “Rừng xà nu” (Nguyễn Trung Thành), đoạn trích “Những đứa con gia đình” (Nguyễn Thi), tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu). Đây là phần kiến thức trọng tâm trong hướng dẫn ôn thi tốt nghiệp. Hầu như năm học nào đề thi tốt nghiệp của Bộ GD – ĐT cũng có câu hỏi về một vấn đề trong những tác phẩm truyện ngắn này. - Thực tế giảng dạy ở trường phổ thông cho thấy càng ngày học sinh càng lười học môn Ngữ văn. Học sinh lười đọc văn bản, lười học dẫn chứng, thái độ tiếp thu bài học cũng không được hứng thú. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến điều đáng buồn trên. Song nguyên nhân chủ yếu là do học sinh học lệch. Học lên đến THPT các em đã xác định khối thi của mình nên học theo khối. Đại đa số các em học khối A (Toán, Lí, Hóa) vì khối này có nhiều trường thi, có hội lựa chọn cũng nhiều. Vì vậy các em chỉ học 3 môn thi đại học nên dẫn đến sao nhãng những môn học còn lại. Hơn nữa học sinh quen với những thao 4 tác khoanh tròn trong những môn thi trắc nghiệm nên đến khi viết một bài văn tự luận dài là rất ngại. Xuất phát từ những nguyên nhân đó nên tình trạng học sinh làm văn là rất hạn chế. Trong những bài kiểm tra, những bài thi học sinh không biết cách tìm ý, lập dàn bài, không thuộc dẫn chứng để chứng minh cho luận điểm nên có hiện tượng học sinh chỉ đi tóm tắt văn bản đơn thuần mà không phân tích được nhân vật, hay vấn đề cần nghị luận; có hiện tượng học sinh lấy dẫn chứng của nhân vật trong tác phẩm này chứng minh cho đặc điểm của nhân vật trong tác phẩm khác….Và đặc biệt là khả năng diễn đạt của các em trong bài viết văn là rất yếu: không biết cách mở bài, kết bài, câu văn lủng củng, dùng từ không chính xác, viết sai lỗi chính tả, …. Đã có rất nhiều những câu chuyện hài hước về những bài văn của học sinh mà giám khảo cười ra nước mắt ví dụ có học sinh viết giới thiệu tác phẩm "Rừng xà nu " của Nguyễn Trung Thành viết về mảnh đất Tây Bắc " Hay " Nhân vật Mỵ trong tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân ". Trước thực tế đó, mỗi giáo viên cần phải dạy ôn tập thế nào để cho học sinh có thể nắm được cách làm bài, biết lấy dẫn chứng chứng minh cho luận điểm và nâng cao khả năng diễn đạt cho học sinh. Đó cũng là điều mà bản thân tôi trăn trở khi đứng lớp. Trong quá trình dạy ôn tập tốt nghiệp tôi cũng rút ra cho mình một số kinh nghiệm để dạy ôn tập đạt kết quả cao hơn. III/ GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN : Việc hướng dẫn ôn tập tốt nghiệp tôi đã tiến hành theo ba bước: Hướng dẫn học sinh tìm ý và lập dàn ý; Hướng dẫn học sinh cách diễn đạt; Vận dụng mộy tiết dạy cụ thể Bước 1: HƯỚNG DẪN HỌC SINH TÌM Ý VÀ LẬP DÀN Ý: Xuất phát từ đặc trưng thể loại của truyện ngắn và căn cứ vào những đề thi truyền thống mà Bộ GD-ĐT hay ra, giáo viên phân loại đề cho học sinh. Đối với 5 tác phẩm truyện ngắn trong chương trình SGK Ngữ văn 12 thì có thể trọng tâm vào những loại đề 5 như sau: phân tích nhân vật; diễn biến tâm trạng nhân vật; so sánh tính cách của hai nhân vật, phân tích tình huống truyện, phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm. 1/ Loại đề phân tích nhân vật: 1.1/ Phân tích nhân vật nói chung: Trong tác phẩm truyện, nhân vật chiếm vị trí quan trọng nhất nhằm thể hiện ý đồ tư tưởng của nhà văn và tư tưởng chủ đề tác phẩm. Do đó, phân tích nhân vật là một trong những con đường quan trọng để tiếp cận, khám phá tác phẩm. a/ Trước khi đi vào ôn tập những nhân vật cụ thể của các tác phẩm thì giáo viên cần phải định hướng cho học sinh cách làm bài chung về dạng đề này. Dạng bài phân tích nhân vật các em đã được học ở THCS. Giáo viên khái quát lại những luận điểm chính khi làm bài: * Mở bài: - Giới thiệu tác giả, tác phẩm; - Giới thiệu nhân vật cần nghị luận * Thân bài: - Ngoại hình (nếu có): ngoại hình xấu/đẹp -> suy nghĩ của em về ngoại hình của nhân vật. - Số phận (nếu có): Đối với những tác phẩm trong chương trình lớp 12 thì chủ yếu là nhân vật có số phận bất hạnh. Khi đó thì cần chú ý đến số phận khi còn nhỏ, khi trưởng thành (đời sống vật chất và tinh thần). - Phẩm chất: các nhân vật đều có phẩm chất. Học sinh cần khái quát được phẩm chất của nhân vật trong từng tác phẩm. - Đánh giá: + Nghệ thuật khắc họa nhân vật 6 + Ý nghĩa của hình tượng nhân vật trong tác phẩm. * Kết bài: - Đánh giá vẻ đẹp, sức sống của nhân vật trong văn học - Tài năng, vị trí của nhà văn. b/ Ví dụ cụ thể: Đề 1: Phân tích nhân vật Mị trong đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” (SGK Ngữ văn 12 – tập 2)? - Yêu cầu học sinh xác định luận điểm: Ở nhân vật Mị có ngoại hình đẹp, có số phận bất hạnh, có những phẩm chất tốt đẹp. - Yêu cầu học sinh tìm dẫn chứng để chứng minh cho từng luận điểm -> Gv củng cố, hình thành dàn bài cho học sinh. * Mở bài: - Tô Hoài là nhà văn viết rất thành công về đề tài miền núi - Hoàn cảnh st của tp: Là kết quả của chuyến đi 8 tháng, Tô Hoài cùng với bộ đội giải phóng lên Tây Bắc…Tác phẩm được giải Nhất của Hội văn nghệ Việt Nam năm 19541955. - Trong tác phẩm, tác giả đã khắc họa thành công nhân vật Mị. * Thân bài: 1/ Ngoại hình: Mị là một cô gái xinh đẹp. Ngoại hình của Mị không được miêu tả trực tiếp mà được gợi lên qua chi tiết “Trai làng đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị” -> Với ngoại hình ấy Mị xứng đáng được hưởng một cuộc sống hạnh phúc. 2/ Số phận: bất hạnh 7 - Sinh ra trong một gia đình nghèo: cha mẹ lấy nhau không có tiền cưới, phải vay bạc nhà giàu đến khi mẹ Mị chết mà vẫn không trả được nợ, để rồi người ta bắt Mị về làm dâu gạt nợ. - Khi làm dâu nhà thống lí: Mị bị đầy ải về cả thể xác lẫn tinh thần: + Thể xác: Làm việc quần quật như trâu ngựa “ Tết đến thì giặt đay xe đay,……cài một bó tay ở cánh tay để tước thanh sợi”-> Mị như một công cụ lao động, bị thống lí Pá Tra bóc lột hết sức lao động. Mị còn bị đánh đập rất dã man: Đêm tình mùa xuân Mị đang chuẩn bị đi chơi thì nó đi đâu về. Thấy thế nó liền trói Mị vào cột “trói Mị bằng một thúng sợi ……..”. Không những thế, khi Mị ngồi bóp thuốc cho A Sử vì mệt quá nên đã ngủ thiếp đi vậy mà A Sử liền đạp vào mặt Mị. Trong những đêm đông trên núi cao dài và buồn Mị trở dậy thổi lửa hơ tay, có những đêm A Sử đi chơi về đã vô cớ đánh Mĩ ngã gục xuống cửa bếp -> Mị là nạn nhân của xã hội vô nhân đạo. Thằng A Sử - chồng Mị đã coi Mị như một nơi để thỏa mãn thú tính của mình. + Tinh thần: Về làm dâu nhà thống lí càng ngày Mị càng không nói “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa” “Mị tưởng mình là con trâu con ngựa” -> với nghệ thuật so sánh vật hóa tác giả đã làm nổi bật thân phận vật của Mị. Câu văn “Ở lâu trong……” thật xót xa bởi nó cho thấy Mị bị đầy ải như thế nào khi ở nhà thống lí Căn buồng Mị ở “kín mít ……..” – là một thứ ngục thất giam hãm tinh thần của Mị, nó giết chết tuổi trẻ, tình yêu, tự do ở Mị. Ngồi trong căn buồng ấy Mị dường như mất hết ý niệm về thời gian, không gian, mất hết tri giác về cuộc sống. => Mị bị áp bức bóc lột về cả thể xác lẫn tinh thần. 3/ Phẩm chất: 8 - Tài thổi sáo “Mị uốn chiếc ……” - Yêu tự do, trẻ trung yêu đời: Trước khi về làm dâu nhà thống lí, mùa xuân nào Mị cũng đi chơi, Mị cũng đã có người yêu. Mị đã xin cha đừng gả con cho nhà giàu - Mị biết lao động, chăm chỉ lao động và rất hiếu thảo: Mị sẵn sằng cuốc nương làm ngô trả nợ cho cha. Khi bị bắt làm dâu nhà thống lí Mị đã định ăn lá ngón tự tự nhưng vì thương cha nên Mị đã không chết. - Đặc biệt Mị là một cô gái có sức sống tiềm tàng: + Khi mới về làm dâu nhà thống lí: Máy tháng đêm nào Mị cũng khóc/ định ăn lá ngón tự tử + Trong đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài năm ấy: Phân tích sự hồi sinh tâm hồn của Mị: Sự tác động của ngoại cảnh Tiếng sáo tác động đến Mị nên tâm hồn của Mị dần dần được hồi sinh: tiếng sáo ở đầu núi, Mị thấy thiết tha bổi hổi, Mị nhẩm thầm theo bài hát của người đang thổi. Tiếng sáo đầu làng, Mị uống rượu ừng ực từng bát/ thấy nhớ quá khứ “ngày xưa Mị thổi sáo giỏi…..” / Mị ý thức được hiện tại, ý thức được quyền sống “Đã từ nãy Mị thấy …..Mị thấy mình còn trẻ……chỉ thấy nước mắt ứa ra. Tiếng sáo gọi bạn vẫn lơ lửng bay ngoài đường. Tiếng sáo rập rờn trong đầu Mị thì Mị đã quấn lại tóc, lấy váy hoa…..A Sử trói Mị rất đau mà Mị vẫn không hề biết, sau đó cứ lúc mê lúc tỉnh lúc tình thì thấy mình không bằng con ngựa, lúc mê thì thấy nồng nàn tha thiết nhớ -> chứng tỏ sức sống, khao khát sống đã trỗi dậy mạnh mẽ trong Mị. + Trong đêm mùa đông: Lúc đầu Mị thản nhiên “A Phủ là cái xác chết …..hơ tay” -> nhìn thấy “dòng nước mắt bò xuống …..” thì Mị mới nghĩ đến tình cảnh của mình -> nhận ra chúng nó thật độc ác, thương A Phủ -> cắt dây trói cho A Phủ -> chạy theo A 9 Phủ đến Phiềng Sa -> Hành động cắt dây trói chứng tỏ sức sống tiềm tàng mạnh mẽ của nhân vật…. 4/ Đánh giá: - Nghệ thuật: + Khắc họa nv Mị tác giả đã sử dựng nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật. Tâm lí nhân vật chủ yếu được thể hiện qua nội tâm. Tô Hoài đã diễn tả được những trạng thái tâm lí rất phức tạp, tinh tế của Mị. + Ngôn ngữ phong phú, sinh động + Chi tiết giàu sức gợi - Ý nghĩa của hình tượng nhân vật Mị: qua nv nhà văn thể hiện sâu sắc giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tp. Tô Hoài đã thể hiện niềm xót thương đối với những người lao động miền núi; đồng thời ca ngợi những phẩm chất của họ, nhà văn thể hiện niềm tin vào sức sống của người lao động là dù có bị áp bức như thế nào thì họ vẫn có sức sống vươn lên. Tác giả còn lên án bọn chúa đất miền núi độc ác, vô nhân tính,…. Khi giáo viên hướng dẫn học sinh hình thành dàn ý về nhân vật Mị xong giáo viên yêu cầu học sinh dựa trên dàn bài về nhân vật Mị tự lập dàn ý cho đề “Phân tích nhân vật A Phủ” trong đoạn trích. Sau đó giáo viên củng cố dàn bài cho học sinh (ở nhân vật A Phủ trọng tâm làm nổi bật số phận và phẩm chất như khỏe mạnh, lao động giỏi; gan góc, cương trực; có sức sống mạnh mẽ) Đề 2: Phân tích hình tượng nhân vật bà cụ Tứ trong “Vợ nhặt” – Kim Lân? - Yêu cầu học sinh xác định luận điểm: Ở nhân vật bà cụ Tứ có ngoại hình xấu, có những phẩm chất tốt đẹp. 10 - Yêu cầu học sinh tìm dẫn chứng để chứng minh cho từng luận điểm -> Gv củng cố, hình thành dàn bài cho học sinh. * Phần mở bài và kết bài tương tự như dàn bài về Tràng * Phần thân bài: 1/ Ngoại hình: dáng đi lọng khọng, vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán gì trong miệng -> tội nghiệp, già nua, dáng đi hé mở cuộc đời lam lũ. 2/ Phẩm chất: - Là một người mẹ nhân hậu, giàu lòng vị tha, bao dung, độ lượng: + Đối với con trai: thương con / lo cho con + Đối với con dâu: độ lượng chấp nhận người phụ nữ là dâu con trong nhà, thậm chí là hàm ơn / bà an ủi vỗ về nàng dâu - Là người mẹ có niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng: + Động viên con “Ai giàu 3 họ, ai khó 3 đời…..” + Cùng con dâu dọn dẹp quét tước nhà cửa + Vẽ ra viễn cảnh tương lai tươi sáng: bà nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau…+ Dáng vẻ lật đật, đon đả, tươi cười của bà cụ trong bữa cơm ngày đói đã giúp cho con có thêm niềm tin vào cuộc sống. 3/ Đánh giá về nhân vật: - Nghệ thuật xây dựng nhân vật: + Đặt nhân vật vào tình huống truyện độc đáo 11 + Thành công trong nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật, tính cách nhân vật chủ yếu được bộc lộ qua độc thoại nội tâm + Sử dụng bút pháp tả thực, ngôn ngữ sinh động, gần với đời sống tự nhiên - Ý nghĩa hình tượng: + Qua nhân vật bà cụ Tứ, tác giả muốn ca ngợi hình ảnh của bao người mẹ Việt Nam giàu đức hi sinh + Hình ảnh bà cụ Tứ đã góp phần quan trọng làm cho tác phẩm trở thành một bài ca ca ngợi tình người -> thể hiện sâu sắc giá trị nhân đạo của tác phẩm. Ngoài hai nhân vật trên, giáo viên yêu cầu học sinh phân tích thêm nhân vật người vợ nhặt trong tác phẩm (ngoại hình và phẩm chất). Đề bài: Phân tích nhân vật Việt trong đoạn trích “Những đứa con trong gia đình” – Nguyễn Thi? - Yêu cầu học sinh xác định luận điểm: Ở nhân vật Việt không có ngoại hình xấu, không có luận điểm số phận, chỉ có những phẩm chất tốt đẹp. - Yêu cầu học sinh xác định luận điểm nhỏ và tìm dẫn chứng để chứng minh cho từng luận điểm -> Gv củng cố, hình thành dàn bài cho học sinh. * Mở bài: - Giới thiệu tác giả Nguyễn Thi: Là nhà văn gắn bó với người nông dân Nam Bộ nên được mệnh danh là nhà văn của người nông dân Nam Bộ. - Giới thiệu tác phẩm: “Những đứa con trong gia đình” được sáng tác vào năm 1966 khi cuộc kháng chiến chống Mĩ ác liệt nhất. - Giới thiệu đối tượng nghị luận: Tác phẩm đã khắc họa thành công nhân vật Việt. 12 * Thân bài: 1/ Việt là một người giàu tình yêu thương: - Yêu thương má: + Việt sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống cách mạng và có mối thù sâu sắc với giặc Mĩ: ông nội và cha đều bị giặc giết, má Việt chết dưới bom đạn kẻ thù nên Việt cùng chị đã quyết tâm đi tòng quân để trả thù cho ba má. Ở Việt thù nhà gắn với nợ nước. Việc đăng kí đi tòng quân là xuất phát từ ý thức trách nhiệm, từ bổn phận chứ không phải theo phong trào “ý nghĩ đi bộ độ thôi thúc Việt” + Mặc dù má đã hi sinh nhưng trong tâm trí của Việt thì dường như má vẫn còn, vẫn về che chở,bảo ban hai chị em: Trong đêm ghi tên tòng quân hai chị em bàn tính thu xếp việc nhà “cả 2 chị em đều nhớ đến má…..” + Tình thương má được thể hiện trong khi hai chị em khiêng bàn thờ má sang gửi nhà chú Năm: hai chị em làm cơm cúng má để thể hiện lòng hiếu thảo / em trước chị sau khiêng bàn thờ má sang gửi nhà chú Năm với một niềm kính trọng nhất / trong khi khiêng bàn thờ Việt vừa đi vừa như nói chuyện với má, Việt nghĩ là má sẽ hiểu được lòng mình “Nào chúng con đưa má sang ở tạm ……” - Tình yêu thương đối với chị: được thể hiện rõ trong giây phút thiêng liêng khi hai chị em khiêng bàn thờ má sang ở tạm nhà chú Năm “nghe tiếng chân …..rõ như thế” - Tình cảm đối với đồng đội: + Việt được mọi người trong đơn vị quý gọi là cậu Tư chứng tỏ tình cảm yêu mến của mọi người đối với Việt + Khi bị thương ở ngoài chiến trường Việt vẫn còn nhớ như in từng khuôn mặt, nụ cười của đồng chí: cái cằm nhọn hoắ của anh Tánh,….. => Việt là người giàu tình cảm. 13 2/ Là người vô tư, hồn nhiên, tính cách còn “trẻ con”: + Hay tranh giành với chị và lúc nào cũng đòi phần hơn. + Trước khi lên đường trong khi chị Chiến lung bung thu xếp việc nhà thì Việt lại vô lo vô nghĩ “sải chân ra giường/ chụp con đom đóm trong lòng bàn tay/ cười khì khì / ngủ quên lúc nào không biết”. Tất cả những điều chị Chiến tính toán Việt đều đồng ý hết + Khi vào chiến trường mặc dù chiến đấu rất dũng cảm nhưng Việt vẫn sợ sự vắng lặng, sợ bóng đêm, sợ con ma cụt đầu và thằng chỏng thụt lưỡi “Việt muốn chạy thật nhanh về níu chân anh Tánh…….” => Với 2 phẩm chất trên Việt toát lên vẻ đẹp đời thường. 3/ Phẩm chất anh hùng, dũng cảm, kiên cường: - Hăng hái xung phong tòng quân mà không sợ gian khổ, hi sinh - Trước khi lên đường chị Chiến có dặn: “Mầy với tao…….chặt đầu” thì Việt đã nói “Chị có bị chặt đầu thì chặt …..mới bị” -> câu nói giản dị, mộc mạc nhưng thể hiện quyết tâm rất cao, quyết là thù ba má chưa trả thì chưa về. - Khi vào chiến trường Việt một mình hạ được xe bọc thép của giặc và bị thương nặng, lạc mất đồng đội nhưng Việt vẫn không rên rỉ, đau đớn mà vẫn kiên cường, luôn ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu: ngón tay cái lúc nào cũng chuẩn bị nổ súng / Việt còn lấy cùi tay đẩy người về phía có tiếng súng của quân ta đang chiến đấu. -> Việt là chiến sĩ trẻ tuổi nhưng anh hùng. 3/ Đánh giá: - Nghệ thuật khắc họa nhân vật: 14 + Tác giả đã khắc họa nhân vật qua nghệ thuật trần thuật độc đáo. Qua dòng hồi tưởng của Việt thì tính cách của Việt được bộc lộ. + Tính cách nhân vật được thể hiện qua hành động và ngôn ngữ và cả độc thoại nội tâm + Ngôn ngữ, tính cách nhân vật mang đậm màu sắc Nam Bộ. - Ý nghĩa của hình tượng: + Nhân vật Việt đại diện cho vẻ đẹp của thế hệ thanh niên miền Nam thời chống Mĩ. + Trong gia đình thì Việt là khúc sông chảy xa nhất. Qua nhân vật Việt tác giả muốn khẳng định mỗi gia đình mà biết kết hợp giữa tình cảm gia đình với tình yêu nước, truyền thống gia đình với truyền thống dân tộc thì sẽ tạo nên được sức mạnh to lớn của con người Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ. * Kết bài: - Khẳng định vẻ đẹp của nhân vật - Tài năng và vị trí của Nguyễn Thi trong nền VHVN. Tương tự nhân vật Việt giáo viên yêu cầu học sinh phân tích nhân vật Chiến trong đọan trích (chú ý ngoại hình và phẩm chất: giàu tình yêu thương má, thương em; đảm đang tháo vát; kiên cường, dũng cảm) Các nhân vật khác trong các tác phẩm còn lại giáo viên cũng hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề, lập dàn ý theo những ý chính trong dàn bài khái quát và dần dần sẽ hình thành cho học sinh kĩ năng làm bài phân tích nhân vật. Một số đề bài: 15 Đề bài: Phân tích nhân vật Tnú / hình tượng cây xà nu trong “Rừng xà nu” – Nguyễn Trung Thành? Đề bài: Phân tích hình ảnh người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” – Nguyễn Minh Châu? 1.2/ Dạng đề phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật: Về cơ bản vẫn cần có những ý như trong đề phân tích nhân vật nói chung. Chỉ lưu ý điểm khác là ở dạng đề này học sinh không phân tích theo tính cách của nhân vật mà đi theo diễn biến tâm trạng trong tác phẩm. Tâm trạng nào diễn ra trước thì phân tích trước, nét tâm trạng nào diễn ra sau thì phân tích sau. Ví dụ: Đề bài: Phân tích diễn biến tâm trạng của bà cụ Tứ trong tác phẩm “Vợ nhặt” – Kim Lân? * Mở bài: * Thân bài: - Giới thiệu về tình huống xuất hiện và ngoại hình của bà cụ. - Diến biến tâm trạng: + Ngạc nhiên, băn khoăn, không hiểu + Khi hiểu ra cơ sự: vừa ai oán xót thương cho con trai, lo cho con/ tủi phận mình / cảm thông với con dâu / chấp nhận – mừng lòng / động viên 2 con / lại lo cho con / vỗ về an ủi con dâu. + Sáng hôm sau: thu dọn nhà cửa / nói chuyện tương lai, chuyện sung sướng động viên con / tươi cười đon đả trong bưa cơm ngày đói,….. 16 - Nghệ thuật: + Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật + Ngôn ngữ gần với đời sống tự nhiên + Bút pháp tả thực… - Ý nghĩa: Thể hiện vẻ đẹp của người mẹ Việt Nam / Nhân vật bà cụ khiến cho tác phẩm mang đậm giá trị nhân đạo…. Đề bài: Diễn biến tâm trạng của Mị trong đêm mùa đông ở Hồng Ngài trong đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” – Tô Hoài? Trong phần thân bài cần làm rõ: - Giới thiệu vài nét về Mị - Diễn biến tâm trạng: Lúc đầu thì thản nhiên trước nỗi đau của A Phủ -> nhìn thấy dòng nước mắt của A Phủ mới nghĩ đến mình -> nhận ra chúng nó thật độc ác -> thương A Phủ -> cắt dây trói cho A Phủ -> chạy theo A Phủ… - Nghệ thuật: miêu tả tâm lí nhân vật,…. - Ý nghĩa: Ca ngợi sức sống mãnh liêt của người dân miền núi,… Một số đề bài: Đề bài: Phân tích diễn biến tâm trạng của Mị trong đêm tình mùa xuân trong “Vợ chồng A Phủ” –Tô Hoài? Đề bài: Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật Tràng trong “Vợ nhặt” – Kim Lân? 17 1.3/ Dạng đề so sánh hai nhân vật: Học sinh làm đề bài này phải nắm được kiến thức về phân tích nhân vật. Dàn bài khái quát: * Mở bài: - Giới thiệu tác giả, tác phẩm. - Giới thiệu 2 nhân vật. * Thân bài: - Nét chung của các nhân vật - Nét riêng của các nhân vật - Đánh giá về nghệ thuật và ý nghĩa của hình tượng. * Kết bài: Ví dụ: Đề bài: So sánh tính cách của hai nhân vật Chiến và Việt trong “Những đứa con trong gia đình” – Nguyễn Thi? * Mở bài: - Giới thiệu tác giả, tác phẩm. - Giới thiệu 2 nhân vật * Thân bài: - Giống nhau: 18 + Sinh ra trong cùng một gia đình có truyền thống cách mạng, có mối thù sâu sắc với giặc Mĩ + Là những người giàu tình yêu thương. + Là những con người dũng cảm, kiên cường. - Khác nhau: + Việt tính cách còn trẻ con, vô tư, hồn nhiên. Vì Việt là em trai nên được má nuông chiều, chị nhường nhịn + Chiến giống má ở cả ngoại hình và phẩm chất đảm đang tháo vát, “người lớn”. Chiến là chị gái, phải lo toan việc nhà đặc biệt là từ khi ba má mất. - Đánh giá về nghệ thuật xây dựng hai nhân vật: - Ý nghĩa: + Ca ngợi thế hệ trẻ của miền Nam thời chống Mĩ + Trong gia đình Chiến và Việt là những khúc sông sau chảy xa nhất. Khắc họa 2 nhân vật Chiến và Việt tác giả muốn khẳng định mỗi gia đình mà biết kết hợp giữa tình cảm gia đình với tình yêu nước, truyền thống gia đình với truyền thống dân tộc thì sẽ tạo nên được sức mạnh to lớn của con người Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ. * Kết bài: - Mỗi nhân vật đã để lại ấn tượng riêng trong lòng độc giả - Tài năng của Nguyễn Thi trong việc khắc họa tính cách nhân vật Đề bài: Vẻ đẹp của người vợ nhặt trong “Vợ nhặt” _ Kim Lân và người đàn bà trong “Chiếc thuyền ngoài xa” – Nguyễn Minh Châu? - Giống nhau: 19 + Đều xấu về ngoại hình, không tên, và là nạn nhân của hoàn cảnh + Đều có những phẩm chất tốt đẹp - Khác nhau: + Người vợ nhặt: mang vẻ đẹp của một nàng dâu mới: Khát khao sống, khát khao hạnh phúc mái ấm / hiền hậu / thu vén gia đình, có niềm tin + Người đàn bà là phẩm chất của người phụ nữ gánh nặng cuộc sống mưu sinh trong hoàn cảnh nghèo đói, trong nạn bạo lực gia đình: thương con, thấu hiểu lẽ đời, bao dung độ lượng. 2/ Dạng đề nghị luận về tình huống truyện: Tình huống truyện là hạt nhân của truyện ngắn. Bất cứ tác phẩm nào cũng có tình huống truyện. Tuy nhiên, đề bài kiểm tra và đề thi hay tập trung vào những tác phẩm có tình huống truyện hay và độc đáo. Đáng lưu ý trong những tác phẩm SGK NGữ văn 12 là tác phẩm “Vợ nhặt” và “Chiếc thuyền ngoài xa”. a/ Trước khi đi vào phân tích những đề bài cụ thể giáo viên cũng phải xây dựng cho học sinh một dàn ý khái quát về dạng đề này: * Mở bài: - Giới thiệu tg, tp - Khẳng định tp có một tình huống truyện hay và hấp dẫn. * Thân bài: - Vài nét về tình huống truyện: Tình huống truyện giữ vai trò là hạt nhân của tác phẩm truyện ngắn. Nó chính là hoàn cảnh riêng được tạo nên bởi một sự kiện đặc biệt khiến 20
- Xem thêm -