Skkn phát triển ngôn ngữ phổ thông cho cháu người sở tại trong trường mầm non 1-6

  • Số trang: 20 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 14 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: "PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ PHỔ THÔNG CHO CHÁU NGƯỜI SỞ TẠI TRONG TRƯỜNG MẦM NON 1-6" Như các Đ/C đã biết, Khánh Sơn là một huyện miền núi của tỉnh Khánh Hòa.Vì thế, việc đưa con tới nhà trẻ, mẫu giáo thì vẫn còn bị thờ ơ như một thứ mặt hàng cao cấp trong mối tương quan với đời sống quá nghèo của người dân nơi đây. Đối tượng của nghành học Mầm Non là đứa trẻ mới được học tiếng hoặc bắt đầu học tiếng, học theo nghĩa tự phát. Mọi cái ban đầu đều là cái khởi đầu nan, không thể không làm nhưng làm thì rất khó.Các cháu thuộc nghành học Mầm Non ở vùng dân tộc nhu cầu và quyền lợi học tiếng mẹ đẻ, đồng thời các cháu lại phải có nhiệm vụ học tiếng Việt. Bởi tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia mà các cháu đang sống, một ngôn ngữ trong một vài năm nữa các cháu sẽ phải nhanh chóng nắm bắt để lấy làm công cụ học tập ở tiểu học và các bậc học tiếp theo. Để khắc phục những khó khăn này ở huyện Khánh Sơn nói chung và trường Mầm non 1/6 nói riêng thì việc dạy cho cháu người sở tại ngôn ngữ tiếng phổ thông là một việc làm hết sức quan trọng trong giáo dục hiện nay. Vậy làm thế nào để trẻ nghe, hiểu và giao tiếp thành thạo bằng tiếng Việt, để trẻ tiếp thu những tri thức đạt chất lượng cao qua các hoạt động dạy của cô? Đây là câu hỏi đặt ra cho bản thân tôi và cho tất cả những giáo viên giảng dạy tại trường Mầm non 1/6. 1. TÌNH HÌNH CHUNG: Ngôn ngữ là công cụ của tư duy, trẻ dân tộc thiểu số có thể tư duy bằng ngôn ngữ là tiếng mẹ đẻ của chúng, nhưng để học lên chương trình tiếu học, phổ thông… trẻ phải có vốn tiếng Việt để có thể hiểu biết và khám phá thế giới xung quanh (về các sự vật, hiện tượng gần gũi trong cuộc sống, hoạt động học tập…).Như chúng ta đã biết, sự phát triển ngôn ngữ gắn liền với sự phát triển của tư duy từ đó trẻ có khả năng nhận thức thế giới bên ngoài. Ngôn ngữ của trẻ tiến bộ nhanh hay chậm tùy thuộc vào điều kiện sống, quan hệ giao tiếp với những người xung quanh. Ở trường Mầm Non: Nhà trẻ và mẫu giáo chính thời điểm đang học nói hay bắt chước người lớn vì thế cô giáo cần tận dụng để dạy các cháu tiếng phổ thông càng sớm càng tốt. Muốn phát triển ở trẻ kỹ năng: Hiểu và nói được ngôn ngữ Tiếng Việt theo cô, bạn. Trước hết phải cuốn hút trẻ tham gia vào hoạt động phát triển ngôn ngữ qua trò chuyện, đàm thoại, kể chuyện, đọc cho trẻ nghe, cho trẻ làm quen với chữ cái và thông qua các hoạt động dạy của cô, hoặc ở mọi lúc mọi nơi, nhất là trong hoạt động góc vì trong góc chơi cháu sẽ được hòa nhập cùng với các cháu người Kinh, khi đó các cháu sẽ tự giao tiếp và học hỏi lẫn nhau qua đó các cháu người sở tại sẽ nâng cao vốn từ phổ thông của mình lên. 2.CỤ THỂ Ở TRƯỜNG MẦM NON1/6 Đầu năm học: 2011- 2012 khi khảo sát chất lượng đầu năm thì tỷ lệ cháu DT nghe hiểu tiếng phổ thông như sau: Nghe hiểu vàNghe hiểu nhưng Tổng sốnói thành thạochưa Đâù năm cháu DT tiếng Việt. Chưa hiểu tiếng nói thành Việt. thạo tiếng Việt. Tổng Tỉ lệ% 2011-2012 Tổng số Tỉ lệ% Tổng số Tỉ lệ% số 20 55 cháu 36,36% 17 cháu 30,9% 25 cháu 45,45% cháu *Thuận lợi: Được sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, sự quan tâm ủng hộ của phụ huynh học sinh. Trường có CSVC phục vụ tốt cho các họat động của trẻ. Các cháu đều khỏe mạnh nhanh nhẹn, ngoan ngoãn. Các nhóm lớp đa số là cháu người Kinh, cháu người sở tại chiếm phần nhỏ vì thế trong các hoạt động dạy cô dễ dàng phát triển cho từng cá nhân. Đồng thời các cháu người sở tại được giao tiếp với các cháu người Kinh thì vốn từ cũng sẽ tăng lên. *Khó khăn: Đội ngũ giáo viên mầm non ở huyện Khánh Sơn đa số là giáo viên từ đồng bằng lên công tác nên không biết tiếng người sở tại. Sự bất đồng ngôn ngữ giữa cô và trẻ làm hạn chế việc tổ chức các hoạt động tăng cường tiếng Việt cho trẻ. Bên cạnh đó, môi trường ngôn ngữ của trẻ ở gia đình chủ yếu là dùng tiếng mẹ đẻ. Bố mẹ các cháu do nhận thức và điều kiện sống còn nhiều hạn chế, vốn tiếng Việt không nhiều nên chưa quan tâm đến việc dạy nói tiếng Việt cho các cháu vì vậy giáo viên gặp khó khăn trong việc giao tiếp với trẻ và phụ huynh. Trường Mầm non 1/6 có tất cả là 8 lớp. Trong đó có: 6 lớp mẫu giáo và 2 lớp nhà trẻ. Hầu hết lớp nào cũng có cháu người sở tại, đa số là các cháu mới đến trường lần đầu (chỉ một số ít trẻ đã học từ nhà trẻ lên mẫu giáo). Vì thế trẻ còn rụt rè, nhút nhát, chưa mạnh dạn tham gia các họat động cùng cô, cô nói điều gì đa số các cháu không hiểu cứ nhìn cô và không trả lời cô. Có trường hợp từ đầu năm dến cuối năm không chịu nói với cô câu nào. Tất cả đồ dùng học tập đối với trẻ cũng thật là xa lạ, nên việc học đến với trẻ cũng thật là ngỡ ngàng.. Với tình hình thực tế của trường tôi như vậy, bản thân tôi luôn trăn trở, suy nghĩ nhiều lúc thấy vô cùng lo lắng, không biết làm gì và làm như thế nào, bằng phương pháp gì? Để giúp trẻ hiểu và nói được tiếng Việt một cách trôi chảy. Chính vì điều băn khoăn trăn trở ấy bản thân tôi đã tìm tòi nghiên cứu một số biện pháp nhằm giúp trẻ ham thích được đến lớp, ham thích học tập, và nhất là ham học hỏi tiếng Việt để trẻ tham gia tốt các họat động của lớp, của trường Mầm non và là hành trang cho trẻ ở các bậc học sau này. 3.CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH: Trẻ bước vào lớp 1 phải có vốn tiếng Việt và có kỹ năng tối thiểu khi sử dụng tiếng Việt: phát âm chuẩn; dùng từ ngữ phù hợp với nội dung, ngữ cảnh. Trẻ em chậm phát triển ngôn ngữ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc lĩnh hội kiến thức, hình thành các kỹ năng và từ đó thiếu niềm tin vào hoạt động học tập dẫn đến chán học, bỏ học. Sự non yếu về tiếng Việt sẽ làm hạn chế về giao tiếp của các em trong sinh hoạt ở nhà trường, gia đình và cộng đồng. Trước khi đến trường, vốn từ và các kỹ năng giao tiếp của trẻ chủ yếu được hình thành qua thói quen. Vì vậy, vấn đề cho cháu người sở tại được phát triển về ngôn ngữ là một việc làm hết sức cần thiết, tưởng chừng như rất dễ nhưng thực tế lại rất khó, dạy trẻ phát triển ngôn ngữ là dạy cái gì? Dạy như thế nào? Thông qua các hoạt động nào? Cách trả lời những câu hỏi trên sẽ liên quan tới việc lựa chọn nội dung, phương pháp cho cháu người sở tại. Tuy nhiên, việc áp dụng các giải pháp cũng phải tùy thuộc vào từng đối tượng học sinh, từng điều kiện, hoàn cảnh của từng lớp, từng độ tuổi để áp dụng những giải pháp khác nhau, trong đó có những giải pháp chung và có những giải pháp mang tính đặc thù: * Những giải pháp chung : a.Mọi lúc mọi nơi: Giờ đón, trả trẻ đối với cả nhà trẻ và mẫu giáo các cô luôn vui vẻ, thương yêu cháu, sửa sang quần áo, chải tóc cho cháu và không quên kèm theo một số câu hỏi giao. Qua trò chuyện với trẻ như vậy các cô sẽ nắm được khả năng phát âm của mỗi trẻ để có biện pháp và giành nhiều thời giờ hơn giúp trẻ phát âm đúng, phát âm chuẩn. Giờ chơi tự do dẫn trẻ đến các góc trò chuyện và phát âm các từ có trong tranh, từ ở mỗi góc, các cô dạy trẻ phát âm nhiều lần và cho trẻ chỉ, phát âm chữ cái đã học qua nhiều lần như vậy trẻ phát âm chuẩn hơn và mạnh dạn hơn trong giao tiếp với cô, với bạn. Bạn biết chỉ cho bạn chưa biết, cô luôn khuyến khích trẻ mạnh dạn đến hỏi cô, vì thế trẻ lớp tôi không còn rụt rè như trước nữa. Ngoài ra trong giờ hoạt động ngoài trời tôi cho trẻ ôn kiến thức đã học qua trò chuyện, đọc thơ, kể chuyện, chơi các trò chơi dân gian, cho trẻ đọc đồng dao, ca dao trong hoạt động này giúp trẻ phát âm thành thạo hơn, lưu loát hơn. Cô dạy cháu ở mọi lúc , mọi nơi Hoạt động ngoài trời Giờ hoạt động góc, nhất là ở góc đóng vai đây là một giờ các cháu người sở tại phát triển được ngôn ngữ nhiều nhất. Ở góc này các cháu người Kinh và sở tại được chơi cùng nhau, giao tiếp với nhau qua đó trẻ học được nhiều ngôn ngữ từ bạn mình. trẻ được giao lưu trao đổi mua bán và thể hiện hết vai chơi của mình. Để giúp trẻ học tập đạt hiệu quả cao qua vui chơi thì chúng ta cần phải xác định hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo: “Học mà chơi - Chơi mà học ”. Hoạt động vui chơi sáng tạo hàng ngày ở lớp, trẻ được chọn bạn chơi, chọn góc chơi, chọn đồ chơi mà trẻ thích. Ở các góc chơi này giúp phát triển trí tưởng tượng ngôn ngữ khi giao tiếp với bạn chơi, mở rộng vốn từ, vốn hiểu biết của trẻ. Trong khi chơi trẻ tiếp thu tri thức một cách nhẹ nhàng, thoải mái bên cạnh đó cô luôn khuyến khích các cháu người kinh và người sở tại đổi vai chơi cho nhau, tăng cường cho các cháu người sở tại nói theo bạn vì trẻ ở lứa tuổi mầm non đa số học thông qua bắt chước . b.Cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ thông qua giờ họat động chung: Hình thức dạy rất đa dạng, phong phú song hình thức dạy trên giờ hoạt động chung vẫn có những ưu việt nhất định. Trên tiết học các kiến thức mà trẻ tiếp thu được ở mọi lúc, mọi nơi được củng cố lại theo một hệ thống lôgic. Vì thế trong giờ hoạt động chung muốn phát triển được nhiều ngôn ngữ cho cháu người sở tại thì giáo viên phải biết lồng ghép tích hợp các môn học khác nhau, cần xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp với khả năng nhận thức của từng độ tuổi, đối tượng dạy. Đối với các môn học trong khi dạy giáo viên phải luôn chú ý tới các cháu người sở tại vì giờ này là cung cấp kiến thức chung cho cả lớp . Phát triển vốn từ cho cháu người sở tại trong giờ hoạt động chung là hết sức thuận lợi. Bằng vốn từ của mình, cô mời trẻ lên diễn đạt sự hiểu biết của mình cho bạn và cô hiểu được ý nghĩa của mình muốn nói gì, từ đó giúp trẻ tích cực hoạt động giao tiếp với mọi người. Qua hoạt động chung trẻ học được rất nhiều cả nhà trẻ và mẫu giáo: Tên gọi đồ vật, sự vật, hành động, hiện tượng, các từ chỉ đặc điểm, tính chất, công dụng và các từ biểu cảm. Khi cháu sở tại đã có một vốn từ nhất định cô luôn yêu cầu trẻ dùng từ để bày tổ tình cảm, nhu cầu và kinh nghiệm bản thân bằng các câu đơn, câu đơn mở rộng. Trẻ trả lời và đặt các câu hỏi Ai? Cái gì? ở đâu? khi nào? để làm gì? nó như thế nào? v.v …Với những nội dung và biện pháp mà giáo viên trường tôi đã áp dụng vào để dạy cho các cháu sở tại trong giờ hoạt động chung thì các cô đều nhận thấy sự tiến bộ về ngôn ngữ cũng như về nhận thức gần tương đương với cháu người Kinh. c. Kết hợp với phụ huynh: Trong một buổi học trẻ được tiếp xúc với cô rất nhiều nhưng chúng ta biết phối hợp với gia đình trong việc cung cấp vốn tiếng Việt cho trẻ lại càng tốt hơn. Vì vậy các giáo viên thường thông báo kết quả học của mỗi cháu cho phụ huynh nắm và không quên cho phụ huynh biết khả năng tiếp thu kiến thức bài học bằng ngôn ngữ Tiếng Việt của mỗi cháu ra sao và rất mong phụ huynh hợp tác trong việc cung cấp Tiếng Việt cho trẻ ở nhà như: Phụ huynh dùng Tiếng Việt để trao đổi với con em nhiều hơn, kèm cặp con em nhiều hơn trong môn học chữ cái, trẻ nắm được chữ cái, thuộc chữ cái, viết được chữ cái, phát âm đúng chữ cái và nhất là nói thạo Tiếng Việt nhất định con của phụ huynh tiếp thu bài một cách dễ dàng, học giỏi hơn trong cấp học mầm non và nhất là trong các cấp học sau này. Từ những lời nói ấy đã thúc đẩy phụ huynh quan tâm đến con em hơn, chăm lo cung cấp vốn tiếng việt ở nhà cho trẻ nhiều hơn. Cho nên đa số trẻ trường tôi hiện nay nói thạo, nói lưu loát ngôn ngữ Tiếng việt, biết dùng từ, câu để diễn đạt điều trẻ muốn nói, không còn trẻ nói câu không rõ nghĩa, câu thiếu chủ ngữ, vị ngữ, trẻ mạnh dạn giao lưu cùng cô, cùng bạn. *.Những giải pháp riêng cho độ tuổi : a.Dạy trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái Tiếng việt: Nội dung chủ yếu của việc dạy này là giúp trẻ nhận biết và phát âm đúng chữ cái. Chúng ta có thể coi việc giúp trẻ làm quen với chữ cái là cốt lõi của việc làm quen với Tiếng Việt, có nghĩa là việc cho trẻ làm quen với chữ cái chưa phải là tất cả những nội dung công việc giúp trẻ làm quen với Tiếng việt .Cách gọi làm quen với Tiếng Việt thường gợi ra một phạm vi nội dung rộng rãi hơn so với cách gọi làm quen với chữ cái .Do đó có thể thấy nội dung dạy trẻ làm quen với Tiếng việt không chỉ là dạy trẻ phát âm ,dạy trẻ tập tô 29 chữ cái mà còn dạy trẻ đọc đúng các từ, hiểu được nội dung của từ và biết dùng từ để diễn đạt thành câu, muốn được như vậy trước hết ta phải giúp trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chư cái trong Tiếng Việt. Có một số ít trẻ nói được Tiếng Việt nhưng chưa biết các chữ cái hay từ ngữ của Tiếng việt .Vì vậy, việc dạy trẻ làm quen với chữ cái giúp trẻ nhận biết chính xác cấu tạo của chữ cái, cách phát âm để từ đó trẻ nghe cô phát âm để tìm được chữ cái tương ứng, nhìn chữ cái phát âm được chữ cái tương ứng. Có thể cho bạn người kinh phát âm trước rồi cho cháu ngừơi sở tại phát âm sau. Đây là hình thức rất có khả quan vì người xưa có câu: “Học thầy không tầy học bạn” và qua đó các cháu người sở tại nhanh nhận biết các chữ cái hơn và cũng nhớ lâu hơn. b.Nhà trẻ: Ở nhà trẻ, cháu người sở tại đa số chưa biết và hiểu tiếng Kinh vì thế các cô phải thật gần gũi với trẻ, Thường xuyên trò chuyện và âu yếm trẻ, mỗi lần như vậy cô cháu sẽ được làm quen dần với tiếng phổ thông . Từ đó cô cung cấp cho các cháu những từ đơn giản nhất. Có thể thông qua hoạt động với các đồ vật, cô nên tăng cường hỏi các cháu người sở tại : “ Đây là quả gì? Quả này màu gì?... Từ những hoạt động này cũng giúp trẻ mở rộng vốn từ, có đồ dùng cụ thể cháu sẽ dễ dàng nhớ lâu hơn. Hay trong trò chơi xếp hình, xâu hạt. Cô cũng tổ chức thường xuyên để trẻ được hoạt động với đồ vật để trẻ phát triển tư duy ngôn ngữ và trẻ có thói quen sử dụng các trò chơi qua đó cũng kích hoạt cho trẻ phát triển .Trong các tiết dạy tôi cùng các đồng nghiệp đã đưa ra các bức tranh có các nhân vật, thể hiện được nội dung chủ đề. Tôi hướng dẫn trẻ quan sát một cách chi tiết những nội dung thể hiện trong tranh, trẻ rất hứng thú quan sát và từ đó hình thành kỹ năng cho trẻ. Trẻ không chỉ nhắc lời nói của cô giáo mà trẻ thể hiện sự hiểu biết của mình qua lời nói của ngôn ngữ. Với việc áp dụng dạy cháu phát triển ngôn ngữ phổ thông cho cháu người sở tại trong trường Mầm Non 1/6 trong năm học 2011-2012 , từ dầu năm học cho đến gần cuối năm và khi khảo sát chất lượng Tôi thấy kết quả trẻ nghe, hiểu diễn đạt bằng tiếng phổ thông có sự thay đổi rõ rệt. Nghe hiểu vàNghe hiểu nhưng Tổng sốnói thành thạochưa Đâù năm cháu DT tiếng Việt. học: Chưa hiểu tiếng nói thành Việt. thạo tiếng Việt. Tổng Tỉ lệ% Tổng số Tỉ lệ% Tổng số Tỉ lệ% số 2011-2012 20 55 cháu 36,36% 17 cháu 30,9% cháu 25 cháu 45,45% Nghe hiểu vàNghe hiểu nhưng Chưa hiểu tiếng Cuối Tổng số năm cháu DT học: nói thành thạochưa nói thành Việt tiếng Việt thạo tiếng Việt Tổng Tỉ lệ% Tổng số Tỉ lệ% Tổng số Tỉ lệ% số 2011-2012 45 55 cháu 81,81 % 8 cháu 14,54% 2 cháu 3,63% cháu Đến nay đã có trên 95% cháu 5 tuổi người sở tại nhận biết nhanh và phát âm đúng 29 chữ cái Tiếng Việt. So với đầu năm học cháu nghe và hiểu tiếng Kinh tăng lên 81,81%, biết dùng ngôn ngữ Tiếng Việt để diễn đạt thành câu có nghĩa. Ngoài ra trẻ rất mạnh dạn tự tin khi giao tiếp với cô, với bạn lúc ở nhà cũng như lúc ở trường. . KẾT LUẬN : Kinh nghiệm cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là một vấn đề rất khó. Đòi hỏi ở cô giáo phải thật sự yêu thương gần gũi trẻ. Luôn tạo tình cảm cho trẻ, tạo cơ hội cho trẻ giao lưu, trò chuyện với cô, nghe hiểu lời nói của cô. Cuốn hút trẻ tham gia vào các hoạt động phát triển ngôn ngữ thực sự hứng thú. Được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục ở lớp và được tích hợp vào một số hoạt động khác trong chương trình chăm sóc giáo dục trẻ. Kiến nghị: Nhằm tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non người sở tại ở Trường Mầm Non 1/6 trong thời gian tới, xin kiến nghị một số vấn đề sau: - Nhà nước có chính sách ưu tiên cho giáo viên đang công tác ở huyện miền núi hơn nữa. - Mở thêm các lớp dạy tiếng RagLay cho giáo viên . -Tăng cường công tác tuyên truyền với phụ huynh và các đoàn thể ở địa phương thấy được sự quan trọng của tiếng phổ thông khi trẻ đến trường. Xin chân thành cảm ơn./.
- Xem thêm -