Skkn nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ mầm non

  • Số trang: 10 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đề tài: “NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NUÔI DƯỠNG TRẺ” I/ Đặt vấn đề: Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, mỹ…hình thành những yếu tố của nhân cách chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1. Để đạt được mục tiêu phát triển toàn diện thì việc kết hợp hài hoà giữa nuôi dưỡng, chăm sóc sức khoẻ và giáo dục là điều tất yếu, giúp cơ thể trẻ khoẻ mạnh, phát triển cân đối, giúp trẻ kiến thức tự bảo vệ, giữ gìn sức khoẻ. Ngày nay cùng với sự phát triển chung của xã hội, mỗi gia đình đều có cuộc sống sung túc hơn. Chinh vì vậy trẻ em được hưởng sự chăm sóc mđặc biệt hơn của gia đình và toàn xã hội. Thế nhưng có những ông bố, bà mẹ vẫn phàn nàn rằng “ không hiểu con mình vẫn được ăn uống đầy đủ của ngon vật lạ mà vẫn gầy yếu và biếng ăn… Các chế độ dinh dưỡng cho trẻ như thế nào là hợp lý, là khoa học thì chắc rằng nhiều bật phụ huynh còn nhiều băn khoăn chưa hiểu hết. Với kinh nghiệm nhiều năm trong công tác ở tổ nuôi, công việc chế biến thức ăn cho trẻ tại trường Mẫu giáo bán trú tôi xin trình bày một số biện pháp về cách giúp trẻ ăn ngon miệng, khoẻ mạnh và phát triển toàn diện đã được thực hiện tại trường. II/ Khảo sát thực trạng: Từ đầu năm đến nay tôi, được nhà trường và Ban giám hiệu tín nhiệm cho tôi làm tổ trưởng tổ nuôi bản thân tôi tự nhận thấy có những thuận lợi và khó khăn sau: 1/ Khó khăn: - Phần đông con em được gửi đến trường Mẫu giáo bán trú này hầu hết là con em dân lao động có mức thu nhập tương đôí thấp, chưa đủ điều kiện chăm sóc tốt, nhiều trẻ thể lực chưa đạt yêu cầu so với độ tuổi, vệ sinh cá nhân chưa thật sự gọn gàn, sạch sẽ. - Số lượng trẻ gửi đến đây là tương đối đông 199.cháu; trong đó khối mầm có 50 cháu; khối chồi có 68 cháu; khối lá có 81 cháu. - Số trẻ suy dinh dưỡng đầu năm chiếm: 34%. Trong đó, trẻ kênh C: 4% - Diện tích bếp chật hẹp, ẩm thấp ảnh hưởng rất lớn đến cường độ lao động của chị em trong tổ nuôi. 2/ Thuận lợi: - Diện tích của bếp tuy có chật nhưng được xây dựng và bố trí theo quy trình bếp một chiều, cơ sở vật chất được bố trí sắp xếp gọn gàn đồng bộ. - Chị em trong tổ yêu ngành, mến nghề, có đạo đức, có tinh thần trách nhiệm nhiệt tình trong công tác, không ngại khó ngại khổ. - Được Ban giám hiệu luôn tận tình quan tâm giúp đỡ hướng dẫn động viên tinh thần chị em nên đã tích cực khắc phục những khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. III/ Các biện pháp thực hiện: Để đáp ứng yêu cầu nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ được tốt hơn, bản thân tôi cùng với các thành viên trong tổ cố gắng tạo nên một bữa ăn ngon hợp lý, đầy đủ chất dinh dưỡng và thực hiện đúng theo tuần tự như sau: * Bước 1: xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn. Nhận thức tầm quan trọng trong công tác hăm sóc dinh dưỡng trẻ, cùng với tinh thần trách nhiệm cao tôi thường xuyên theo dõi các bữa ăn của các cháu, xem thức ăn có hợp khẩu vị với trẻ không để có biện pháp hợp lý tham mưu với Ban giám hiệu xây dựng thực đơn tốt hơn. Đồng thời đề xuất BGH xây dựng thực đơn theo ngày, tuần và phù hợp theo mùa, cân đối về dinh dưỡng.Nghĩa là phải đủ 2 chất đủ lượng, cân đối giữa thức ăn động vật và thực vật, đầy đủ 4 nhóm thực phẩm sau: - Nhóm cung cấp chất đạm (prôtit) như: Thịt, tôm, cua, các loại đậu hạt, đậu tương chúng tạo khoáng thể đặc biệt cho sự phát triển của các tế bào xây dựng cơ bắp khoẻ,chắc. - Nhóm cung cấp chất béo (lipit) như: Dầu, mỡ, đậu phọng, mè, nhóm vừa cung cấp năng lượng cao vừa làm tăng cảm giác ngon miệng giúp trẻ hấp thu các chất vitamin và chất béo như A,D, E, K. - Nhóm chất bột đường ( gluxit) như: Bột, cháo, cơm, mì, bún…nhóm cung cấp năng lượng chủ yếu cho cơ thể và cơ bấp. - Nhóm cung cấp vitamin và khoáng chất như: Các loaị rau quả, đặc biệt là các laọi rau quả có màu xanh thẩm như rau ngót, rau dền, rau cải, mồng tơi…và các loại quả có màu đỏ như xoài, đu đủ, cam, cà chua, gấc…nhóm cung cấp các loại vi dưỡng chất đóng vai trò là chất xúc tác giữa các thành phần hoá học trong cơ thể. Ví dụ: Dưới đây là một số thực đơn được thực hiện ở trường trong ngày, tuần, tháng cung cấp đầy đủ nhu cầu năng lượng bảo đảm cho một cháu khoảng 60% so với nhu cầu năng lượng cần thiết hàng ngày.(thực đơn sẽ được thay đổi hợp lý theo từng các bữa của tuần kế tiếp). - Cân đối tiền ăn ở 2 bữa chính và phụ trong ngày đều phù hợp với lượng calo theo quy định. Thứ Bữa chính Bữa phụ ngày 3 Thứ - Xế: Cháo (tim, gan, đậu xanh) 2 - Chiều: Sữa Nuti Canh :chua (cà, giá, me, cá) Món mặn: Thịt kho đậu hủ Trán g miện g: Su xoa Thứ -Canh: Cải trắng, cà chua, thịt heo 3 -Món mặn: Mực, tôm xào cárốt, đậu côve -Xế: Phở bò -Chiều: sữa Nuti -Tráng miệng: Sữa chua 4 Thứ -Canh: Bầu, rau ngót (thịt heo, tôm -Xế: Bánh mì trứng chiên (nước 4 khô) sốt cà chua) -Món mặn: Mực, tôm xào càrốt, -Chiều: Sữa đậu nành Thứ đậu côve -Canh: Bầu, rau ngót (thịt heo, tôm -Xế: Chè chuối (cốt dừa, đậu 5 khô) xanh, bột khoai) -Món Mặn: Thịt bò xào (cà, dứa, Chiều: Sữa Nuti hành tây) Thứ Tráng miệng: sữa chua -Canh: Bí đỏ, khoai lang, đậu -Xế: Bún riêu 6 phụng -Chiều: Sữa Nuti -Món mặn: Cá thu kho, thịt heo -Tráng miệng: Su xoa  Bước 2: Dinh dưỡng về vệ sinh an toàn thực phẩm. Nhận thực phẩm: - Khi chọn rau, thực phẩm phải tươi, ngon không có chất trừ sâu hay chất kích thích, xúc tác. Thức ăn chế biến phải chọn nới có thương hiệu uy tín về chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Cụ thể: Bằng việc làm hàng ngày tôi cùng chị em thực hiện nghiêm ngặt việc ký kết giao nhận thực phẩm với các nơi cung cấp thực phẩm bảo đảm sạch, an toàn, uy tín có cam kết. Thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm từ khâu sơ chế đến khâu chế biến phải tuân thủ đúng quy trình một chiều, không để dụng xcụ sống chín lẫn lộn. Rau quả rửa sạch trước khi sơ chế, xương thịt chần qua nước sôi sau đó mới đem sơ chế, chế biến có như vậy mới giảm được các lượng độc tố có trong thực phẩm. * Bước 3: Kỷ thuật chế biến thức ăn. 5 Đây là khâu quyết định một bữa ăn ngon đạt độ cảm quan cao. - Để trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất thì thức ăn phải có mùi vị thơm ngon hấp dẫn, thay đổi thường xuyên cách chế biến. Trong quá trình nấu nướng, biết cách phối hợp từng mùi vị riêng biệt tạo nên mùi vị đặc trưng. Ví dụ: Khi chế biến thức ăn tôi thường phối hợp các loại rau quả có màu sắc đẹp để trẻ dễ cuốn hút, lôi cuốn tạo nên cảm giác hứng thú, thích ăn. Tẩm ướp thức ăn khoản từ 10 – 15 phút trước khi phi hành, tỏi thơm đem xào nấu. . Để tăng cường bổ sung chất sắt cho trẻ đề phòng chống thiếu máu cũng nên tập trung chú ý trong khi chế biến tôi giảm bớt lượng muối tăng cường lượng nước mắm giàu dinh dưỡng (nước mắm có bổ sung chất sắt), phối hợp thêm một số loại rau quả chứa nhiều vitamin C để cơ thể trẻ dễ hấp thụ chất sắt, phòng được các bệnh tật khi chuyển mùa. Cụ thể các loại rau có chứa nhiều hàm lượng vitamin C như mồng tơi là 72; bắp cải là 30; cà chua là 40; bí ngô là 40…Tăng lượng thức ăn giàu canxi giúp cho sự phát triển chiều cao của trẻ kết hợp với việc uống sữa hàng ngày (các loại sữa của các công ty có uy tín, chất lượng cao hoặc sữa đậu nành). Một điểm cần lưu ý trong khi chế biến thức ăn phải chú ý xay hoặc băm nhỏ các loại thực phẩm thịt, cá (bỏ xương) nấu nhừ, mềm cho trẻ dễ ăn, dễ hấp thụ, dễ tiêu hoá. Ngoài ra, để công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ đạt kết quả tốt tôi còn thường xuyên kết hợp với giáo viên phụ trách lớp xem các cháu nào có biểu hiện biếng ăn sút ký, tăng cân béo phì. Từ đó, tôi đề xuất ý kiến với BGH trường điều chỉnh thực đơn cho các cháu hàng ngày để phù hợp với thể trạng của các cháu đó, đồng thời phối hợp với giáo viên các lớp tăng cường chăm sóc đặc biệt đến những trẻ suy dinh dưỡng. 6 + Đối với các cháu không tăng cân thì cố gắng thường xuyên động viên, khích lệ cho các cháu ăn hết suất. + Đối với các cháu có biểu hiện béo phì thì cho các cháu ăn ít cơm, đường, cho uống sữa trước khi ăn và cho ăn nhiều rau quả. Đồng thời tôi cùng các cô phụ trách lớp tuyên truyền, phổ biến với gia đình cách chăm sóc, chế biến thức ăn hợp lý, khoa học đầy đủ chất dinh dưỡng giúp trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt. * Tôi xin trình bày khái quát cách chế biến món ăn giàu dinh dưỡng được chế biến tại trường như sau: * Ví dụ 1: Canh rau thập cẩm, dùng cho 10 suất. Nguyên liệu: thịt bò 200g; đậu que 150g; tỏi tây 100g; dầu oliu 30g; khoai tây 200g; bắp cải 200g; hành 20g; cà chua 100g; nước dùng 500g; một ít tiêu bột; muối nêm vừa đủ. Cách làm: - Thịt bò xay nhỏ ướp tiêu, muối, các loại rau sơ chế sạch thái hạt lựu. - Đun dầu sôi, phi thơm hành tỏi trút thịt vào xào cho thơm, cho tiếp cà chua đã băm nhuyễn vào om cho thịt ngấm, tiếp trút nước dùng vào đun sôi và cho nhỏ lửa khi thịt gần mềm cho các loại rau vào nấu đến khi rau thịt mềm nhừ, sau đó nêm muối, bột ngọt, đường cho vừa ăn là được, tiếp là cho rau gia vị như ngò vào cho thức ăn thêm hương vị thơm, hấp dẫn. Thành phẩm đạt yêu cầu: - Trạng thái: Rau, quả, củ chín mềm không bị nát. - Màu sắt biến đổi tự nhiên. - Mùi vị thơm ngon của rau củ, gia vị vừa ăn. * Ví dụ 2: Thịt heo, gà xào lơ sốt cà chua (dùng cho 10 suất ăn). 7 Thịt gà làm sẳn 200g, thịt heo nạt (vai) 300g, cà chua 200g, lơ xanh 200g, bột đao 30g , rau mùi, gia vị (mắm, muối, bột ngọt, đường). Cách làm: - Thịt lợn, gà sơ chế sạch, xay nhỏ đem ướp gia vị, các loại rau rữa sạch thái nhỏ. Cà chua xay nhuyễn, đun sôi dầu cho cà chua đã xay vào ninh thật nhừ. - Phi thơm hành cho thịt lợn, gà vào xào săn cho ngấm gia vị, tiếp đến cho lơ vào đảo cùng tới khi hỗn hợp chín mềm thì đổ nước sốt cà chua vào đảo đều. Đồng thời khoáy bột đao đổ từ từ vào hỗn hợp thịt tới khi thắng sốt sánh, nêm lại gia vị cho vừa ăn, sau đó cho rau mùi vào đảo đều nhắc xuống. Thành phẩm đạt yêu cầu: - Trạng thái: Thịt chín mềm, nước sốt hơi sánh. - Màu sắt: Biến đổi tự nhiên của rau, màu hồng nhạt của cà chua. - Mùi vị: Thơm ngon đặc trưng của thịt và rau mùi. vị vừa ăn. IV/ Kết quả đạt được: Nhờ sự nỗ lực và tinh thần trách nhiệm của bản thân, hay tìm tòi chế biến các món ăn đồng thời kết hợp với các biện pháp khoa học như trình bày ở trên. Tôi cùng các chị em trong tổ nuôi làm việc hết mình với công việc nuôi dưỡng của mình như tiêu chí của nhà trường đề ra từ đầu năm học, đó là: - Quản lý nuôi dưỡng tốt. - Vệ sinh bảo đảm khoa học. - Kỹ thụât chế biến thức ăn tốt. - Cải tiến thực đơn theo mùa. - Tiết kiệm. Nhờ thực hiện tốt những tiêu chí trên nên đã góp phần giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng so với đầu năm học, khi phụ huynh đưa đến, được cấp trên đánh giá cao. 8 Tỷ đạt ở quý I: + Tỷ lệ kênh A: 65,67 % ( 132/201 cháu). + Tỷ lệ kênh B :30,35 %, (61/201 cháu). + Kênh C:3,98% (8/201 cháu). Trong năm không có trường hợp nào dịch bệnh, ngộ độc thức ăn xảy ra. Trường được Trung tâm Y tế Huyện kiểm tra đột xuất về công tác VSATTP và đánh giá, xếp loại tốt. + Không có trường hợp dịch bệnh, ngộ độc thức ăn xảy ra. Đạt được kết quả trên đây là nhờ sự cộng tác của toàn bộ cán bộ, giáo viên và nhân viên nhà trường trong quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ, đáp ứng được yêu cầu đã đặt ra. V/ Bài học kinh nghiệm: - Sự đoàn kết nhất trí, lòng nhiệt tình, yêu ngành, mến nghề tinh thần trách nhiệm cao trong nội bộ giáo giáo viên, công nhân viên nhà trường nói chung và chị em tổ nuôi nói riêng. - Thường xuyên cùng tổ thảo luận về kiến thức đề phòng dịch bệnh phát sinh từ thực phẩm. - Mạnh dạn dề suất với BGH những vấn đề liên quan đến công tác nuôi dưỡng. - Hàng tuần họp rút kinh nghiệm đề ra phương hướng tuần đến, định kỳ hàng tháng tham gia dự họp cùng BGH kiểm điểm rút kinh nghiệm những vấn đề đã làm được và chưa làm được, thông qua đó có kề hoạch thực hiện tốt hơn. - Phối hợp cùng giáo viên phụ trách thường xuyên trao đổi với phụ huynh những vấn đề liên quan đến sức khoẻ của trẻ, đồng thời hướng dẫn họ cách chăm sóc, vệ sinh ăn uống, phòng trừ dịch bệnh xãy ra. - Thục hiện đúng quy trình bếp một chiều. 9 - Tham gia đủ các lớp tập huấn về vệ sinh an toàn thực phẩm Trung tâm y tế Huyện tổ chức. Hàm Thắng, ngày tháng năm 2009 Người viết Nguyễn Thị Mười Ý kiến của Hội đồng khoa học trường: - Nôi dung trình bày thể hiện được công việc thực tế cho công tác nuôi dưỡng trẻ. - Các phương pháp được thể hiện cụ thể. - Công tác nuôi dưỡng đạt hiệu quả cao, giúp trẻ suy dinh dưỡng giảm rõ rệt và không có trường hợp ngộ độc thực phẩm xảy ra trong năm. - Hình thức trình bày quá gọn, chưa diễn đạt cụ thể các biện pháp sáng tạo. Hội đồng khoa học trường thống nhất xếp loại: B 10
- Xem thêm -