Skkn-Một vài kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 học tốt môn học vấn

  • Số trang: 27 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 487 |
  • Lượt tải: 1
dangvantuan

Đã đăng 42096 tài liệu

Mô tả:

Sáng kiến kinh nghiệm Một vài kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 học tốt môn học vấn -1- I. ĐẶT VẤN ĐỀ: Mục tiêu của môn Tiếng Việt là hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (đọc, viết, nghe , nói) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của trẻ. Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp, so sánh, phán đoán...) Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người; về văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài. Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Từ mục tiêu trên, việc học Tiếng Việt ở bậc Tiểu học là rất quan trọng. Học Tiếng Việt ở lớp 1 càng quan trọng hơn. Bởi nếu nói việc dạy học ở bậc Tiểu học như xây một ngôi nhà thì dạy học lớp 1 chính là chuẩn bị phần nền móng của ngôi nhà đó. Để ngôi nhà được vững chắc thì móng phải vững. Đúng vậy, để các em nắm vững kiến thức và học tốt ở các lớp trên thì ngay từ lớp 1, các em phải học tốt Tiếng Việt và cơ bản ở đây là đọc thông viết thạo. Để đạt được điều này, việc học âm vần rất quan trọng, các em phải nắm chắc âm vần để đọc viết đúng âm, vần, tiếng, từ, câu,…Nếu không học tốt môn Học vần chắc chắn các em sẽ gặp khó khăn khi học các môn học khác. -2- Do đó, việc giúp các em học sinh lớp Một học tốt môn Học vần là rất cần thiết. Mỗi GV cần phải có những biện pháp thích hợp giúp học sinh học tốt môn Học vần. III.CƠ SỞ LÍ LUẬN: Dạy Tiếng Việt cho học sinh có hiệu quả vấn đề có tính chất quyết định là phương pháp dạy học. Phương pháp dạy học là phương pháp được xây dựng và vận dụng vào một quá trình cụ thể: “Quá trình dạy học”. Quá trình dạy học là quá trình nhận thức của học sinh được tiến hành dưới tác động chủ đạo của thầy. Như vậy PPDH với tư cách là tổng hợp những cách thức tổ chức các hoạt động của thầy và trò, phải góp phần tích cực của mình - nhiều khi góp phần quyết định - vào việc thực hiện quá trình nhận thức của học sinh. Đặc điểm PPDH Tiểu học là phụ thuộc vào nội dung dạy học Tiểu học, phụ thuộc vào đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của trẻ. Các PPDH phải đan xen nhau , bởi sự tập trung chú ý của trẻ kém, kéo dài không được lâu. Nhận thức của trẻ ở lứa tuổi này thiên về cảm tính, thấy sao nói vậy, hay bắt chước hoặc nói theo; phần lớn các em chưa biết tư duy. Để giúp trẻ tư duy, chúng ta phải đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng thì vai trò của phương pháp trực quan trong nhà trường Tiểu học cực kỳ quan trọng. -3- Tóm lại, PPDH Tiểu học có mối liên quan mật thiết đến mục đích, nội dung dạy học cũng như đặc điểm lứa tuổi của trẻ và hơn hết phụ thuộc vào chính người thầy Tiểu học. Một số PPDH ở Tiểu học được sử dụng phổ biến ở lớp một có tính lặp lại nhiều lần như: Phương pháp làm mẫu, phương pháp quan sát trực quan, phương pháp so sánh, phương pháp luyện tập,… *Phương pháp làm mẫu: là phương pháp GV đưa ra mẫu, làm mẫu để HS quan sát và làm theo nhiều lần thành thói quen để hình thành kiến thức, kĩ năng cho HS; *Phương pháp quan sát trực quan: là phương pháp dựa trên vật thật, đồ dùng trực quan, GV hướng dẫn cho các em quan sát để phân tích, so sánh, tổng hợp, phán đoán, nêu vấn đề,…nhằm giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức cần học; * Phương pháp luyện tập: Luyện tập là lặp đi lặp lại nhiều lần những hành động nhất định nhằm hình thành và củng cố những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết; *Phương pháp so sánh: là phương pháp thường được kết hợp với phương pháp quan sát để giúp HS trên cơ sở quan sát, HS có so sánh hai hay nhiều sự vật, hiện tượng với nhau; từ đó rút ra kết luận vấn đề cần ghi nhớ. Đối với HS Tiểu học, các phương pháp trên được sử dụng nhiều nhất vì trong các lớp đầu cấp, kiến thức mà HS chiếm lĩnh được phải được cung cấp hết sức cụ thể, mọi sự vật hiện tượng đều được các em quan sát bằng nhiều giác quan (bằng tai, mắt, mũi, miệng, tay,…) để đi đến chiếm lĩnh và rèn luyện thành kĩ năng, kĩ xảo. Để tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp một cách có hiệu quả người giáo viên cần lựa -4- chọn, vận dụng các phương pháp dạy học sao cho phù hợp với mục đích và nhiệm vụ từng bài học; đảm bảo cho các em phát triển khả năng quan sát nhanh, luyện tập thói quen biết phân tích, so sánh, tổng hợp và bước đầu biết phán đoán những sự vật, hiện tượng đơn giản có liên quan đến bài học, gần gũi xung quanh các em. IV.CƠ SỞ THỰC TIỄN: -Qua tìm hiểu thực tế ở các lớp một trong cùng địa bàn, tôi nhận thấy các em học yếu các môn đều thường bắt đầu từ việc yếu đọc, viết, nghe, nói. Các em học chưa tốt môn Tiếng Việt thì chắc rằng khả năng diễn đạt khi nói, viết đều khó khăn. Mà muốn học tốt môn Tiếng Việt phải bắt đầu từ lúc học âm (7 tuần đầu tiên của năm học), vần (17 tuần từ tuần 8 đến tuần 24) và được ôn luyện trong suốt thời gian học Tập đọc (Từ tuần 25 trở đi); -Học yếu Tiếng Việt thường biểu hiện ở việc đọc sai, đọc chậm; viết sai phụ âm đầu, vần; viết sai cở chữ; đọc, viết không đảm bảo tốc độ. -Thực tế ở lớp tôi dạy, đầu năm chất lượng môn Tiếng Việt đọc, viết như sau: Phân môn Giỏi (Tỉ lệ) Khá (Tỉ lệ) Đọc 8 (24.3 %) 5 (15.1%) 10 (30.3%) 10 (30.3%) Viết 6 (18.2 %) 4 (12.1%) 11 (33.3 %) 12 (36.4 %) -5- TB (Tỉ lệ) Yếu (Tỉ lệ) *Vậy để nâng cao chất lượng học tập của lớp và nhằm giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt Một mỗi GV phải biết vận dụng các phương pháp dạy học một cách linh hoạt, lựa chọn những phương pháp đặc trưng cho từng tiết học sao cho hợp lí nhất, khơi dậy được tinh thần học hỏi, tính đồng đội của lớp. V.NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: Học tốt môn Học vần lớp Một, trước hết phải đọc, viết đúng các âm và chữ ghi âm, đọc viết đúng phần vần; biết nghe để ghi nhận thông tin, xử lí thông tin. Vì vậy, những nội dung tôi quan tâm nghiên cứu để thực hiện đó là: 1.Dạy học sinh phát âm đúng để viết đúng: -Phát âm trong dạy Tiếng Việt cho học sinh rất quan trọng, học sinh phát âm đúng thì sẽ nhận diện chữ (đọc) đúng và viết đúng. Ngược lại, nếu không được GV quan tâm kĩ phần này, không được sửa chữa kịp thời các em sẽ dễ bị đọc sai do thói quen ở địa phương và dẫn đến viết sai do đọc sai. Đối với học sinh ở địa phương tôi đang dạy, số học sinh phát âm sai rất nhiều do ảnh hưởng của tiếng địa phương dẫn đến viết sai; viết sai thì tất yếu hiểu sai thông tin được ghi nhận. Chẳng hạn: oa đọc “a”, oe đọc là “e” (hoa hoè đọc là ha hè), oai đọc là oi (bà ngoại đọc thành bà ngọi), uôi đọc là ui; uôm đọc là ôm, lưới đọc là lứ,… -Để dạy cho các em phát âm đúng quả là rất khó, không phải chỉ một vài hôm là xong. Như chúng ta đã biết việc phát âm liên quan tới các cơ quan phát âm. Nếu -6- chúng ta giúp học sinh vừa được nghe, vừa được quan sát (PPTQ) sự phối hợp các cơ âm phát âm như hình dạng của môi, vị trí của răng, lưỡi thì các em sẽ dễ dàng phát âm đúng những âm cần học hơn là chỉ được nghe. Vì vậy, khi dạy học sinh phát âm, GV cần kết hợp sử dụng nhiều phương pháp, vừa nhìn (quan sát) kết hợp với nghe rồi làm theo mẫu và luyện tập thực hành ngay trên lớp. Trong quá trình dạy học GV cần sử dụng đồ dùng trực quan để hướng dẫn các em quan sát, so sánh,…Đồ dùng không phải lúc nào cũng đòi hỏi những thiết bị hiện đại mà có khi đơn thuần chỉ là môi, miệng, lưỡi, răng của GV khi dạy các em phát âm. *Ví dụ: khi dạy các em phát âm vần oa, GV cần cho các em quan sát tranh vẽ hoặc vật thật “cái loa” để nhận diện vần oa, so sánh với cách đọc âm a trong tiếng “la” (la hét). Từ quan sát tranh, HS nghe GV phát âm kết hợp với nhìn động tác từ miệng của GV để nhận ra cách đọc và làm theo mẫu. Nhất là khi phát âm những âm có liên quan nhiều tới môi, đầu lưỡi, răng. Chẳng hạn như các âm b, đ, g, l, m, n, p, r, s, t, v, x, tr, ch, kh,… Đối với những âm học sinh khó nhớ, qua việc phát âm mẫu, GV cần chú trọng tới việc so sánh các âm đó với âm khác có cách đọc giống nhau. *Ví dụ: s – x ; tr – ch ; p – ph Ngoài ra, với những âm không thể dùng phương pháp khẩu hình – so sánh, GV có thể mô tả bằng hình vẽ hoặc bằng động tác cho dễ phân biệt. Chẳng hạn như khi dạy cho HS đọc âm “sờ”, GV có thể làm động tác lấy tay sờ vào một đồ vật nào -7- đó để giúp các em nhận diện đúng, phát âm đúng và phân biệt với “x” khi ghép tiếng. Việc hướng dẫn HS phát âm được tiến hành ở trong giờ dạy âm, vần cũng như khi dạy đọc, GV cần biết lựa chọn và sử dụng các phương pháp một cách hợp lí bởi không nên sử dụng riêng lẻ một phương pháp nào mà cần phải biết kết hợp và sử dụng liên hoàn nhiều phương pháp sao cho hiệu quả nhất. Nhất thiết các em phải được nhìn, nghe, làm theo mẫu; luyện tập nhiều lần qua các hình thức: cá nhân, nhóm, lớp và tích hợp trong các môn học khác mới hình thành kĩ năng để vận dụng trong giao tiếp được. Song song với việc giúp HS phát âm đúng để viết đúng thì chúng ta cần phải giúp cho HS hiểu nghĩa của từ. 2.Giúp HS hiểu nghĩa của từ ngữ để đọc đúng, viết đúng: -Dạy âm vần cho HS lớp 1 không chỉ dạy cho các em đánh vần, đọc trơn các tiếng, từ chứa âm vần đó mà bước đầu còn cần giải thích ngắn gọn để các em hiểu nghĩa của các từ này. Đồng thời việc hiểu nghĩa của từ ngữ sẽ giúp các em đọc đúng và viết đúng chính xác các từ đó. Hai vấn đề này có mối quan hệ biện chứng với nhau. Vì vậy, khi dạy âm và chữ cái, dạy vần, dạy đọc câu và bài ứng dụng GV cần quan tâm cung cấp nghĩa của từ khóa cũng như từ ứng dụng. HS có hiểu được nghĩa thì các em mới dễ nhớ; đọc đúng, viết đúng, nắm chắc chắn được các vần, tiếng đã học một cách có cơ sở. -8- -Việc cung cấp nghĩa của từ có thể tiến hành dưới nhiều hình thức: +Cho HS quan sát vật thật qua các đồ vật có sẵn trong lớp học hoặc đồ chơi trẻ em, mô hình để minh họa nghĩa của từ. *Ví dụ: Lớp học, nhãn vở, bảng đen, cửa sổ, bàn ghế, cổng trường, cột cờ, cây cối, hoa, bạn tốt,…Theo cách này, khi cung cấp nghĩa từ, HS xem các đồ vật, mẫu vật đồng thời các em tận tay sờ các vật mẫu, tận mắt chứng kiến. Nhờ vậy mà các em nắm chắc nghĩa từ. +Cho học sinh quan sát tranh ảnh trong sách giáo khoa, sử dụng các tình huống thật trên lớp. *Ví dụ: quả muỗm, quả chôm chôm, lỗ tai (ai), bàn tay (ay), bé trai, bé gái,… +Sử dụng thực tế gia đình, bạn bè: như các từ liên quan đến những người thân. *Ví dụ: Ông, bà, cha, mẹ, bác thợ điện, chú bộ đội, người bạn tốt,… +Có thể dùng điệu bộ, cử chỉ, nét mặt. *Ví dụ: Những từ chỉ hoạt động của con người: cười, khóc,nói, đi, đứng, chạy nhảy; chỉ tính chất: dài, ngắn, to, nhỏ, cao, thấp, vui, buồn… +GV có thể sử dụng các chuyện có thật, các hiện tượng, thực tế phổ biến để cung cấp nghĩa của từ cho HS. Việc giúp HS hiểu nghĩa của từ còn được tiến hành bằng cách khai thác tranh ảnh trên mạng, áp dụng khi thực hiện bài dạy bằng giáo án điện tử. Ngoài cách giúp học sinh HS hiểu nghĩa từ để nắm chắc âm, vần, tiếng – GV cần phải thường xuyên cho HS luyện viết. -9- 3.Thực hành luyện viết: Trong phần cơ sở lí luận chúng ta đã biết phương pháp luyện tập là rất cần thiết đối với học sinh Tiểu học. Thật vậy, trong dạy Học vần đối với học sinh lớp 1, kiến thức mà học sinh chiếm lĩnh được phải thể hiện thành kĩ năng, kĩ xảo.Muốn vậy, cần phải thường xuyên luyện tập thực hành cho học sinh. Việc luyện tập ở đây có nghĩa là luyện đọc và luyện viết. Khi một học sinh đọc thông, viết thạo có nghĩa là em đó đã hiểu được vấn đề cần nắm. Để cho học sinh học tốt môn Học vần, GV phải thường xuyên luyện viết cho học sinh, bởi khi các em viết đúng vần, tiếng , từ do GV đọc có nghĩa là các em đã nắm chắc được các âm, vần trong phạm vi đã học. Để đạt được điều đó, khâu làm mẫu từ động tác rê bút đến viết các nét tạo tiếng; mẫu phải to, rõ ràng, chuẩn xác sao cho mọi HS trong lớp đều nhìn thấy được. GV cần tăng cường cho học sinh viết bảng con. Ngoài thời gian viết bảng con trong giờ học chính khoá môn Học vần, GV còn luyện tập nhiều lần trong giờ Tập viết, giành thời gian cho học sinh luyện tập trong lúc kiểm tra bài cũ, trong giờ học buổi chiều. Ngoài những từ có sẵn trong sách giáo khoa, GV cho học sinh viết thêm các tiếng ngoài bài có vần vừa học. Cho học sinh luyện viết càng nhiều càng tốt. Việc viết bảng con rất là thuận tiện, GV có thể quán xuyến được lớp đồng thời theo dõi giúp đỡ được học sinh yếu hằng ngày. - 10 - Ngoài việc viết bảng con trên lớp, GV có thể phân nhóm cho học sinh tự luyện đọc, viết ở nhà. Để học sinh học có hiệu quả, tôi phân cho những HS ở gần nhà học cùng nhóm và chọn một em học giỏi có khả năng quản lí các bạn làm nhóm trưởng.Tôi hướng dẫn các em cách tự học ở nhà đồng thời thông qua nhóm trưởng tôi theo dõi kiểm tra thường xuyên. Với học sinh lớp 1các em rất hay quên do đó để học sinh lĩnh hội được kiến thức chúng ta cần phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Để học sinh học tốt môn Học vần, song song với việc dùng những biện pháp trên chúng ta còn cần phải chú ý thay đổi các hình thức dạy học như: học cá nhân, học theo đôi bạn, học theo nhóm có cùng khả năng, hoạt động cả lớp tạo cho các em không khí vui vẻ, thoải mái vừa học vừa chơi. Đặc biệt, thông qua các trò chơi giúp học sinh học nắm kiến thức tốt hơn. 4.Phương pháp tổ chức trò chơi trong quá trình dạy học: Chúng ta đã biết thông qua chơi giúp HS học và học cũng thoải mái như chơi. Vì vậy mỗi GV cần xác định rõ mục đích của mỗi trò chơi, tuân thủ các nguyên tắc và thay đổi các hình thức tổ chức cho HS chơi. 4.1Mục đích: -Giúp học sinh củng cố, hệ thống hoá kiến thức được học, mở rộng vốn từ, khắc sâu kiến thức, nắm chắc âm vần vừa học, biết vận dụng vào từng trường hợp cụ thể; - 11 - -Tạo môi trường để rèn luyện sự linh hoạt, nhạy bén, có thói quen phản ứng nhanh cho HS; giúp các em mạnh dạn khi thể hiện mình trước tập thể; -Thông qua trò chơi tạo không khí thi đua sôi nổi trong mỗi tiết học, làm cho tiết học của HS trở nên nhẹ nhàng hơn, sinh động và hiệu quả hơn. 4.2Nguyên tắc: Tổ chức trò chơi phải phù hợp với thời điểm của từng tiết dạy; Nội dung chơi phải đảm bảo về mặt kiến thức, kĩ năng theo chuẩn quy định, các yêu cầu về kiến thức phải có tính hệ thống; Trò chơi phải đảm bảo tính vừa sức, không quá khó sẽ không thu hút được sự ham thích của HS cả lớp, dễ quá cũng làm giảm độ hấp dẫn; Trò chơi phát huy được tinh thần tập thể, kích thích được tính thi đua học tập, tình cảm gắn bó giữa thầy trò, bạn bè; Tiến hành trò chơi thật tự nhiên, đảm bảo tính tích cực, sáng tạo qua chơi, giúp HS tăng khả năng ghi nhận thông tin và giải quyết thông tin qua nghe, viết, đọc, nói. 4.3Phương pháp tiến hành: Tổ chức trò chơi, có khi để vào bài, có khi để dẫn dắt các em đến chiếm lĩnh kiến thức mới cần đạt, có lúc để củng cố, hệ thống hoá kiến thức trong một bài hay trong một chương, GV cần phổ biến tên trò chơi, nội dung chơi, vật dụng phục vụ cho trò chơi, luật chơi, và trước khi tổ chức chơi nên cho các em chơi thử để các em tự tin hơn. - 12 - 4.4Hình thức: có khi thi đua giữa các cá nhân với nhau, có khi giữa các nhóm, các dãy trong lớp tuỳ từng lúc, từng nội dung mà GV có thể lựa chọn sao cho thích hợp với các em nhất. *Sau đây là những trò chơi trong số nhiều các trò chơi tôi thường sử dụng ở lớp có hiệu quả. a)-Trò chơi “Thi tìm tiếng có âm, vần vừa học” +Mục tiêu: Giúp học sinh mở rộng vốn từ, khắc sâu kiến thức, nắm chắc vần vừa học, biết vận dụng vào từng trường hợp cụ thể; *GV cho các em chuẩn bị phấn viết, bảng con, giẻ lau. +Cách chơi: Trong vòng 2 phút các nhóm thi đua tìm tiếng có vần vừa học ghi vào bảng nhóm, hết thời gian quy định đính lên bảng lớp. Đánh giá theo điểm: Tìm và viết đúng 1 tiếng có trong bài được 5 điểm, 1 tiếng ngoài bài được 10 điểm.Viết chữ đúng trình bày đẹp cộng thêm 1 điểm. Nhóm nào nhiều điểm hơn, nhóm đó chiến thắng. +Hình thức chơi theo nhóm 4 – 5 HS hoặc theo tổ học tập. Thường được tiến hành khi dạy Học vần (Cuối tiết 1 hoặc tiết 2) *Ví dụ: Bài 44: on-an Học sinh tìm được tiếng, từ có vần vừa học như: lon ton, cái nón, son môi, thợ hàn, cây đàn, bàn tay... - 13 - b)Trò chơi “rung chuông vàng” +Mục tiêu: Giúp cho hoc sinh củng cố kiến thức đồng thời rèn luyện cho học sinh tính nhanh nhẹn. GV chuẩn bị các câu hỏi : Hỏi về đồ vật, hỏi về con vật, cây cối, hiện tượng có tiếng mang vần vừa học; HS chuẩn bị phấn viết, bảng con, giẻ lau. +Cách chơi: GV nêu câu hỏi - HS viết kết quả vào bảng con rồi đưa lên theo hiệu lệnh của GV. Em nào viết sai bị loại, viết đúng được chơi tiếp. Cuối cùng tìm ra em giỏi nhất được tuyên dương. +Hình thức: Thi cả lớp – dùng bảng con. Thường được tiến hành khi củng cố bài hoặc học hết một chương. *Ví dụ: Bài 30: ua-ưa -GV cho HS giải một số câu đố sau, các em sẽ có một số từ mang vần ưa, ua.Gạch dưới từ trong lời giải mang vần ưa, ua Qủa gì mọc tít trên cao Mà sao đầy nước, ngọt ngào bên trong? (là trái hay quả gì?) Cây gì bé nhỏ Hạt nó nuôi người Tháng năm tháng mười Cả làng đi gặt (là cây gì?) -HS tìm được kết quả như sau: quả dừa, cây lúa. - 14 - c)Trò chơi “Thi ghép đúng – Ghép nhanh” +Mục tiêu: Giúp học sinh nắm chắc âm vần cần học, biết vận dụng vào từng trường hợp cụ thể; GV cho HS chuẩn bị mỗi em một bộ chữ thực hành Tiếng Việt. +Cách chơi: Trong thời gian nhất định, khi có lệnh của GV các em thi đua tìm tiếng có vần vừa học vào bảng cài, hết thời gian quy định, HS đưa bảng lên cho lớp kiểm tra. Đánh giá theo điểm: Tìm và ghép đúng 1 vần, tiếng theo yêu cầu của GV được 10 điểm. Tổ nào có ít lược bạn ghép sai tổ đó chiến thắng. +Hình thức chơi theo tổ học tập. Thường được tiến hành khi dạy các em chiếm lĩnh kiến thức ở Học vần tiết 1. d)Trò chơi “Đọc nhanh, nối giỏi” +Mục tiêu: Giúp học sinh nhận diện nhanh âm vần vừa học, biết ghép các tiếng riêng lẻ vào thành cụm từ có nghĩa mới; GV chuẩn bị mỗi dãy một bảng nhóm, phấn viết, giẻ lau. +Cách chơi: Trong thời gian nhất định, khi có lệnh của GV các em thi đua tìm tiếng thích hợp để ghép thành cụm từ có nghĩa, hoàn thành bài tập đem đính lên bảng lớp để GV tổ chức lớp kiểm tra, bổ sung, đánh giá. Đánh giá theo điểm: nối được một cụm từ có nghĩa đúng, GV ghi 10 điểm, đọc đúng mỗi cụm từ được ghi thêm 10 điểm nữa. +Hình thức chơi theo dãy học tập. - 15 - *Thường tiến hành khi dạy Học vần tiết 2. *Ví dụ: Bài 64: im-um -GV cho các từ sau: chim, cá, tôm, hùm, bồ câu, kìm -HS nối được kết quả như sau: chim hùm cá bồ câu tôm kìm e)Trò chơi “Nét chữ nết người” +Mục tiêu: Giúp học sinh viết đúng các chữ ghi âm, vần, tiếng đã học. Rèn luyện đức tính chăm chỉ, cẩn thận và kiên nhẫn trong học tập. GV cho HS chuẩn bị mỗi em một quyển vở luyện viết theo mẫu. +Cách chơi: Trong cùng thời gian nhất định, khi có lệnh của GV các em thi đua viết theo mẫu; yêu cầu viết đúng, thẳng dòng, đẹp. Em nào có bài viết đủ nội dung theo yêu cầu, viết đúng và đẹp (không tẩy xoá) em đó được lớp khen là “Bạn có nết tốt nhất”. +Hình thức chơi: thi đua giữa các cá nhân với nhau đồng thời tổ nào có nhiều bạn được khen là “Nết tốt”, tổ đó chiến thắng. - 16 - *Thường tổ chức ở tiết Tập viết. VI.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: Sau thời gian sử dụng các biện pháp trên trong dạy Học vần lớp một, tôi thấy không khí lớp học vui tươi, rất nhiều HS tham gia học tập tích cực, giúp được nhiều HS yếu môn Học vần tiến bộ; giúp các em mạnh dạn, tự tin trong học tập, tinh thần đồng đội, tình thầy trò, tình bạn bè được phát triển mạnh mẽ. Đặc biệt là khắc phục được những hạn chế trong việc đọc, viết giai đoạn học vần của HS lớp tôi phụ trách, được quý đồng nghiệp ghi nhận sự tiến bộ của thầy và trò; góp phần thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo chương trình Tiểu học năm 2000 và đạt được yêu cầu về chuẩn kiến thức, kĩ năng mà BGD&ĐT quy định. Chất lượng cụ thể qua các lần kiểm tra định kì như sau: * Đầu năm: Giỏi:21,2% Khá:15,2% TB: 30,3% Yếu: 33,3% * GKI: Giỏi: 30,3% Khá:21,2% TB: 27,3% Yếu:21,2% * CKI: Giỏi: 39,4% Khá:30,3% TB: 15,2% Yếu: 15,1% * GKII: Giỏi: 57,6% Khá:27,3% TB: 9,1% Yếu: 6,0% Nói chung, đến nay hầu hết học sinh trong lớp đều đọc thông, viết thạo, khắc phục được tốc độ đọc quá chậm. Bên cạnh đó vẫn còn một vài em đọc còn chậm, dự - 17 - kiến tiếp tục rèn luyện đến cuối năm học này, 100% HS lớp tôi đều đạt được yêu cầu về chuẩn kiến thức, kĩ năng cơ bản môn Tiếng Việt theo quy định của Bộ GD&ĐT. VII. KẾT LUẬN: Từ thực tiễn phong trào thi đua “Hai tốt” trong nhà trường những năm qua và nhất là năm học 2009 – 2010 này, tôi nhận thấy việc lựa chọn phương pháp dạy học, việc thay đổi các hình thức dạy học, việc vận dụng các đồ dùng trực quan sinh động trong quá trình tổ chức các hoạt động học cho HS rất cần thiết và hết sức quan trọng mà mỗi GV cần phải nghiên cứu. + Các phương pháp phải được áp dụng một cách đồng bộ, thường xuyên và linh hoạt. Không có phương pháp nào là ngu dốt và chẳng có phương pháp nào là tối ưu cả mà tối ưu hay không là phụ thuộc chủ yếu vào cách sử dụng của GV vào điều kiện cụ thể của đối tượng HS lớp mình, tùy nội dung từng bài mà quyết định áp dụng một hay một số phương pháp thích hợp. GV cần lưu ý làm mới cách tổ chức các hoạt động học để luôn hấp dẫn các em. + Giáo viên phải tận tụy, nhiệt tình, theo dõi sát sao từng HS, qua đó phát hiện những yếu kém của từng em, tìm nguyên nhân, hướng khắc phục cho từng nhóm để có biện pháp giúp đỡ kịp thời; đôi trường hợp phải sử dụng phương châm “mưa lâu thấm đất” mới có hiệu quả, không nôn nóng, không vội vả để rồi quở trách HS. + Cần có sự đánh giá, rút kinh nghiệm qua từng tháng, học kỳ để kịp thời điều chỉnh phương pháp nhằm đạt hiệu quả tốt nhất. - 18 - + Phải có sự hỗ trợ, phối hợp giúp đỡ từ phía phụ huynh HS để việc áp dụng các biện pháp được thuận lợi, có hiệu quả. VIII.ĐỀ NGHỊ: -Với tổ chuyên môn cùng thử nghiệm để thẩm định kết quả đồng thời cùng nhau rút kinh nghiệm để tổ chức thực hiện đại trà trong tổ và vận dụng một số biện pháp vào môn học khác góp phần thực hiện tốt tinh thần đổi mới phương pháp dạy học; -Nhà trường cần quan tâm hơn đến việc bổ sung hoặc thay đổi một số thiết bị dạy học đã quá cũ như Bộ thực hành Tiếng Việt lớp một dành cho HS; -Với ngành nên quan tâm đến việc tổ chức giao lưu chuyên môn có nội dung dành cho GV dạy lớp một. - 19 - IX.TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.Giáo trình Giáo dục học của trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng; 2.Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học – NXB Giáo dục; 3.Tài liệu bồi dưỡng chuyên môn theo chuẩn kiến thức, kĩ năng hè 2009; 4.Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ III; 5.Trò chơi thực hành Tiếng Việt lớp một –NXB Giáo dục, tác giả Vũ Khắc Tuân; 6.Tài liệu hướng dẫn tăng cường Tiếng Việt cho HS Dân tộc lớp 1 của Ban chỉ đạo thử nghiệm chương trình Tiếu học năm 2000 thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo; 7.Tâm lí giáo dục học – NXB Giáo dục; - 20 -
- Xem thêm -