Skkn một vài biện pháp giúp học sinh lớp một giải toán có lời văn

  • Số trang: 25 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

SKKN: một I. vài biện pháp giúp học sinh lớp một giải toán có lời văn TÊN ĐỀ TÀI MỘT VÀI BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP MỘT GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN II. ĐẶT VẤN ĐỀ 1) Lí do chọn đề tài : Môn toán lớp Một mở đường cho trẻ đi vào thế giới kì diệu của toán học, rồi mai đây các em lớn lên trở thành anh hùng, nhà giáo, nhà khoa học, nhà thơ… trở thành những người lao động sáng tạo trên mọi lĩnh vực đời sống và sản xuất, trên tay có máy tính xách tay, nhưng không bao giờ các em quên được những ngày đầu tiên đến trường học đếm và học tập viết 1,2,3 học các phép tính cộng, trừ các em không thể quên được vì đó là kỉ niệm đẹp đẽ nhất của đời người và hơn thế nữa những con số, những phép tính đơn giản cần thiết cho suốt cuộc đời; Qua hoạt động toán học, học sinh được rèn luyện tính cẩn thận, phân biệt rõ ràng, đúng sai. Môn toán còn có tác dụng trau dồi óc thẩm mĩ, giúp các em thích học toán, thể hiện tính lợi ích của môn toán và hình thức trình bày; Nội dung môn toán ở tiểu học bao gồm các mạch kiến thức lớn như : - Số học; - Đo đại lượng thông dụng; - Một số yếu tố ban đầu về đại số; - Một số yếu tố hình học; - Giải toán có lời văn. Việc dạy học toán ở tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những kiến thức về toán, được rèn luyện kĩ năng thực hành với những yêu cầu được thể hiện một cách đa dạng, phong phú. Nhờ việc học giải toán mà học 1 SKKN: một vài biện pháp giúp học sinh lớp một giải toán có lời văn sinh có điều kiện rèn luyện, phát triển năng lực tư duy, phương pháp suy luận và những phẩm chất của người lao động mới; Là một người giáo viên trực tiếp dạy lớp Một, đặc biệt là thực hiện chương trình đổi mới dạy học toán học ở lớp Một nói riêng, toàn bậc tiểu học nói chung. Tôi rất trăn trở và suy nghĩ nhiều về việc làm gì và làm như thế nào để học sinh làm được phép tính cộng trừ thành thạo đã khó mà việc giải toán có lời văn thì càng khó hơn đối với học sinh lớp Một còn nhiều bỡ ngỡ; Nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy học toán ở tiểu học nhất là lớp Một- lớp đầu cấp nên tôi chọn thực nghiệm đề tài : “Một vài biện pháp giúp học sinh lớp Một giải toán có lời văn” 2) Phạm vi nghiên cứu Tôi tập trung nghiên cứu nội dung về giải toán có lời văn cho học sinh lớp Một từ tuần 23 đến cuối năm 3) Đối tượng thực nghiệm Học sinh lớp 1B, Trường Tiểu học Duy Phú, năm học 2012-2013, lớp đối chứng là lớp 1C III. CƠ SỞ LÍ LUẬN Sách giáo viên, hướng dẫn dạy Toán lớp Một có ghi ở phần “Lời nói đầu” : Dạy học Toán 1 nhằm giúp học sinh : 1. Bước đầu có một số kiến thức cơ bản, đơn giản, thiết thực về phép đếm; về các số tự nhiên trong phạm vi 100 và phép cộng, phép trừ không nhớ trong phạm vi 100 : về độ dài và đo độ dài trong phạm vi 20cm; về tuần lễ và ngày trong tuần; về đọc giờ đúng trên mặt đồng hồ; về một số hình hình học (đoạn thẳng, điểm, hình vuông, hình tam giác, hình tròn); về bài toán có lời văn,... 2. Hình thành các kĩ năng thực hành : đọc, viết, đếm, so sánh các số trong phạm vi 100; đo và ước lượng độ dài đoạn thẳng (với các số đo là số tự 2 SKKN: một vài biện pháp giúp học sinh lớp một giải toán có lời văn nhiên trong phạm vi 20cm); nhận biết hình vuông, hình tam giác, hình tròn, đoạn thẳng, điểm; vẽ đoạn thẳng có độ dài đến 10cm; giải một số dạng toán đơn về cộng, trừ : bước đầu biết diễn đạt bằng lời, bằng kí hiệu một số nội dung đơn giản của bài học và bài thực hành; tập dượt so sánh, phân tích tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá trong phạm vi của những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế của học sinh; 3. Chăm chỉ, tự tin, cẩn thận, ham hiểu biết và hứng thú trong học tập Toán là cơ sở để học tập các môn học khác. Đối với mạch kiến thức : “Giải toán có lời văn” là 1 trong 5 mạch kiến thức cơ bản xuyên suốt chương trình Toán bậc tiểu học. Thông qua giải toán có lời văn, các em phát huy được trí tuệ, được rèn luyện kĩ năng tổng hợp: đọc, viết, diễn đạt, trình bày, tính toán. Toán có lời văn là mạch kiến thức tổng hợp của các mạch kiến thức toán học, giải toán có lời văn các em sẽ được giải các bài toán về số học, các yếu tố đại số, các yếu tố hình học và đại lượng. Toán có lời văn là chiếc cầu nối giữa toán học và thực tế đời sống, giữa toán học với các môn học khác. IV. CƠ SỞ THỰC TIỄN Trong quá trình giảng dạy ở Tiểu học, đặc biệt dạy lớp Một, tôi nhận thấy hầu như giáo viên nào cũng phàn nàn khi dạy đến phần giải toán có lời văn ở lớp Một. HS rất lúng túng khi nêu câu lời giải, thậm chí nêu sai câu lời giải, viết sai phép tính, viết sai đáp số. Những tiết đầu tiên của giải toán có lời văn mỗi lớp chỉ có khoảng 20% số HS biết nêu lời giải, viết đúng phép tính và đáp số. Số còn lại là rất mơ hồ, các em chỉ nêu theo quán tính hoặc nêu miệng thì được nhưng khi viết các em lại rất lúng túng, làm sai, một số em làm đúng nhưng khi cô hỏi lại lại không biết để trả lời. Chứng tỏ các em chưa nắm được một cách chắc chắn cách giải bài toán có lời văn. Giáo viên (GV) phải mất rất nhiều công sức khi dạy đến phần này. 3 SKKN: một vài biện pháp giúp học sinh lớp một giải toán có lời văn Kết quả điều tra năm học 2011-2012 Lớp TT 1 2 1A 1B sĩ HS viết HS viết HS viết HS giải số đúng câu đúng phép đúng đáp đúng cả 3 32 30 lời giải 17 53,2% 13 43,4% tính 24 75% 17 56,7% số 27 85% 20 66,6% bước 18 56,3% 13 43,4% Phân tích những nguyên nhân 1. Nguyên nhân từ phía GV - GV chưa chuẩn bị tốt cho các em khi dạy những bài trước. Những bài nhìn hình vẽ viết phép tính thích hợp, đối với những bài này hầu như HS đều làm được nên GV tỏ ra chủ quan, ít nhấn mạnh hoặc không chú ý lắm mà chỉ tập trung vào dạy kĩ năng đặt tính, tính toán của HS mà quên mất rằng đó là những bài toán làm bước đệm, bước khởi đầu của dạng toán có lời văn sau này. Đối với GV dạy lớp Một khi dạy dạng bài nhìn hình vẽ viết phép tính thích hợp, cần cho HS quan sát tranh, tập nêu bài toán và thường xuyên rèn cho HS thói quen nhìn hình vẽ nêu bài toán. Có thể cho những em HS giỏi tập nêu câu trả lời, cứ như vậy trong một khoảng thời gian chuẩn bị như thế thì lúc học đến phần bài toán có lời văn, HS sẽ không ngỡ ngàng và các em sẽ dễ dàng tiếp thu, hiểu và giải đúng. 2. Nguyên nhân từ phía HS Do HS mới bắt đầu làm quen với dạng toán này lần đầu, tư duy của các em còn mang tính trực quan là chủ yếu. Mặt khác, ở giai đoạn này, các em chưa đọc thông viết thạo, các em đọc còn đánh vần nên khi đọc xong bài toán rồi nhưng các em không hiểu bài toán nói gì, thậm chí có những em đọc đi đọc lại nhiều lần nhưng vẫn chưa hiểu bài toán. Vì vậy, HS không làm đúng cũng là điều dễ hiểu; 4 SKKN: một vài biện pháp giúp học sinh lớp một giải toán có lời văn Vậy làm thế nào để HS nắm được cách giải một cách chắc chắn chính xác, tôi tiến hành nghiên cứu thực nghiệm đề tài bằng các biện pháp ở phần nội dung nghiên cứu sẽ trình bày cụ thể V. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU @Biện pháp 1 : Rèn kĩ năng nhìn tranh, nêu phép tính Tôi thấy việc dạy học sinh “Giải toán có lời văn” đối với học sinh lớp 1 là vô cùng khó. Mặc dù đến tận tuần 23, học sinh mới chính thức học cách giải toán có lời văn, song tôi đã phải có ý thức chuẩn bị từ xa cho việc làm ngay từ bài : Phép cộng trong phạm vi 3 - tiết luyện tập ở tuần 7. Ở thời điểm này, học sinh lớp tôi chỉ có vài em đọc thông viết thạo, nhưng tôi đã rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm các bài tập : “Nhìn tranh nêu phép tính” - Xem tranh vẽ; - Nêu bài toán bằng lời; - Nêu câu trả lời; - Điền phép tính thích hợp với tình huống trong tranh. Ví dụ 1: Ở tiết luyện tập - bài 5 - trang 46. Sau khi cho học sinh xem tranh. Tôi cho học sinh nêu bằng lời: “Có 1 quả bóng trắng và 2 quả bóng xanh. Hỏi có tất cả mấy quả bóng ?” Sau khi cho học sinh xem tranh. Tôi cho học nêu bằng lời : “Có tất cả mấy quả bóng” Từ đó học sinh viết vào dãy 5 ô trống để có phép tính. 1 + 2 = 3 Cứ như thế đến tuần 17, học sinh lớp tôi đã có được khoảng 7 em quen với việc đọc, tóm tắt, rồi nêu bài toán bằng lời, sau đó nêu bài giải và tự điền số vào phép tính thích hợp theo mẫu trên. Nhưng ở đây, mức độ nâng dần lên, không còn dựa vào các ô nữa mà học sinh tự ghi được phép tính và kết quả phép tính. 5 SKKN: một vài biện pháp giúp học sinh lớp một giải toán có lời văn Ví dụ 2 : Ở tiết : Bảng cộng và bảng trừ trong phạm vi 10. Tôi đã cho học sinh tiếp cận với giải toán ở học kì II. Bài 3b trang 87 Có : 10 quả bóng Cho : 3 quả bóng Còn lại…. quả bóng ? Ở bài toán này không có tranh vẽ, tôi cho học sinh đọc kĩ tóm tắt. Dựa vào tóm tắt, học sinh có thể nêu đề toán bằng lời : “Hoa có 10 quả bóng, Hoa cho bạn 3 quả bóng. Hỏi Hoa còn lại mấy quả bóng ?” Học sinh nêu được câu trả lời bằng lời : “Hoa còn lại 7 quả bóng” 10 - 3 = 7 Ngoài ra, tôi còn cho học sinh làm các bài tập mở có rất nhiều cách giải quyết dẫn đến nhiều đáp số hoặc câu trả lời khác nhau. Ví dụ : Ở bài 5 (b) trang 50 Viết phép tính thích hợp : Nhìn tranh : Có 4 con chim đang đậu. 1 con nữa bay đến. Hỏi có tất cả mấy con chim ? Học sinh có thể nêu bài toán bằng nhiều cách khác nhau * Cách 1: Có 4 con chim đang đậu, 1 con nữa bay đến. Hỏi có tất cả mấy con chim ? 4 + 1 = 5 * Cách 2 : Có 1 con chim đang bay đến và 4 con chim đậu trên cành. Hỏi trên cành có tất cả mấy con chim ? 1 + 4 = 5 Cách 3 : Có 5 con chim, bay đi mất 1 con. Hỏi còn lại mấy con chim ? 5 - 1 = 4 Cách 4 : Có tất cả 5 con chim, trong đó có 4 con chim đậu trên cành. Hỏi có mấy con chim đã bay đến ? 6 SKKN: một vài biện pháp giúp học sinh lớp một giải toán có lời văn 5 - 1 = 4 Qua bài tập này, học sinh có rất nhiều cách giải nên tôi không áp đặt cho học sinh chỉ có một cách giải mà khuyến khích học sinh nêu nội dung bài toán, bài toán có nhiều cách tìm ra đáp số đúng nhưng tôi hướng cho học sinh thực hiện cách 1 là cách giải hợp lí nhất. Từ bài này, tôi cứ làm như vậy, học sinh quen dần với cách nêu bài toán bằng miệng, các em sẽ dễ dàng viết câu lời giải sau này. Như vậy, ở học kì 1, chủ yếu giúp học sinh thực hiện thao tác đọc đề toán, khâu này sẽ có hai tác dụng đó là : Học sinh rèn kĩ năng đọc hiểu và thao tác xem tranh vẽ, tập phát biểu bài toán bằng lời, tập nêu câu trả lời và điền phép tính thích hợp (với tình huống trong tranh). Sang học kì 2, chính thức học giải toán có lời văn từ tuần 23. Lúc này, học sinh được học về cấu tạo của bài toán có lời văn gồm hai phần chính : Những cái đã cho (đã biết) và cái phải tìm (chưa biết), nhưng khó có thể giải thích cho học sinh bài toán là gì nên tôi chỉ giới thiệu 2 bộ phận của bài toán cụ thể : Những cái đã cho (dữ kiện) cái cần tìm (câu hỏi) Ví dụ 1 : Bài 1- trang 115 có yêu cầu : Viết số thích hợp vào chỗ chấm để có bài toán Bài toán : Có….bạn, có thêm….bạn đang đi tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu bạn ? Trước tiên, tôi yêu cầu học sinh đọc thầm, tự nêu nhiệm vụ cần thực hiện (Viết số thích hợp vào chỗ chấm). Sau đó, tôi cho học sinh quan sát mô hình, tôi đính trên bảng lớp, học sinh nhìn và nêu miệng các số liệu vào chỗ các dữ kiện để được bài toán ; 7 SKKN: một vài biện pháp giúp học sinh lớp một giải toán có lời văn    = Học sinh có thể nêu nhiều ý kiến, đây là cơ hội để tôi rèn kĩ năng nói cho học sinh. Chắc chắn sẽ có nhiều học sinh nêu. Ví dụ như “Có 3 bạn, có thêm 2 bạn nữa. Hỏi có tất cả bao nhiêu bạn ?” Tôi hỏi, học sinh trả lời : + Bài toán cho biết gì ? (Có 3 bạn, thêm 2 bạn nữa) Tôi yêu cầu học sinh nêu câu hỏi của bài toán (hỏi có tất cả bao nhiêu bạn ?). Tôi hỏi tiếp : Theo câu hỏi này em phải làm gì ? (Tìm xem có tất cả bao nhiêu bạn ?) Ví dụ 2 : Bài 4- trang 116 lại thiếu cả dữ kiện và câu hỏi Bài 4 : Nhìn tranh vẽ tiếp vào chỗ chấm để có bài toán Có……..con chim đậu trên cành, có thêm….con chim bay đến. Hỏi……………? Ở bài này, tôi cũng cho học sinh quan sát tranh, gọi học sinh nêu miệng đề toán và cho học sinh điền số vào dữ kiện và điền từ vào chỗ chấm của câu hỏi. Sau đó, tôi tập cho học sinh nhận xét;    = Tôi gợi ý câu hỏi : Bài toán thường có những gì ? (Bài toán có các số liệu) và có câu hỏi. Nếu trường hợp học sinh không trả lời được tôi hướng dẫn học sinh trả lời, học sinh trả lời đúng rồi, tôi cho học sinh khác nhắc lại, kết hợp tôi sửa lỗi diễn đạt bằng lời cho học sinh; 8 SKKN: một vài biện pháp giúp học sinh lớp một giải toán có lời văn Qua các thao tác này, bước đầu, tôi đã dẫn dắt học sinh tìm được hai phần chính của bài toán có lời văn. Đây là điểm tựa cơ bản để tôi tập cho học sinh làm quen với việc tóm tắt bài toán. Học sinh làm tốt yêu cầu nhìn tranh nêu các dữ liệu bài toán thành thạo, tôi tiến hành biện pháp 2. @ Biện pháp 2 : Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề toán Đến giai đoạn này, tiết học tiếp theo về giải toán có lời văn, đã có đầy đủ dữ kiện và câu hỏi, tôi đi sâu vào hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán. Tôi cho học sinh đọc to, rõ nội dung bài toán, hướng dẫn học sinh đọc và hiểu một số từ khóa quan trọng có trong đề toán như : thêm, tất cả; bớt hay bớt đi; ăn mất, còn lại; bay đến, bay đi,…. kết hợp hình minh họa để học sinh hiểu thêm. Vấn đề quan trọng ở đây là làm như thế nào để giúp học sinh hiểu được bài toán thông qua việc giúp học sinh tóm tắt được bài toán. Tôi luôn trăn trở, đắn đo và tôi đã đưa ra cách làm như sau : + Đàm thoại : bài toán cho biết gì ? bài toán hỏi gì; + Bút đàm : dùng bút chì gạch chân dữ kiện bài toán, sau đó xóa bằng bút chì; + Dựa vào câu trả lời của học sinh tôi viết tóm tắt ở bảng lớp; + Dựa vào tóm tắt, tôi cho học sinh nêu lại nội dung bài toán; Đây cũng là cách tốt nhất để giúp học sinh biết phân tích đề toán. Học sinh xác định rõ được cái đã cho và cái phải tìm, học sinh viết thẳng cột và có thể lựa chọn phép tính giải nhưng dòng cuối phần tóm tắt là một câu hỏi (viết gọn lại) cần phải đặt dấu chấm hỏi (?) ở cuối. Ví dụ : Tuấn có 4 viên bi, Nam có 3 viên bi. Hỏi cả hai bạn có bao nhiêu viên bi ? Tuấn có : 4 viên bi Nam có : 3 viên bi 9 SKKN: một vài biện pháp giúp học sinh lớp một giải toán có lời văn Cả hai bạn :…..viên bi ? @ Biện pháp 3 : Hướng dẫn học sinh lựa chọn lời giải và phép tính Sau khi học sinh đã biết tóm tắt bài toán một cách chắc chắn, thành thạo, tôi hướng dẫn học sinh thao tác viết lời giải và phép tính dựa vào câu hỏi bài toán để trả lời. Ví dụ bài toán trên, tôi gợi ý, hướng dẫn để học sinh lồng cốt câu lời giải vào trong tóm tắt để dựa vào đó học sinh dễ viết câu lời giải hơn. Chẳng hạn, học sinh dựa vào dòng cuối của phần tóm tắt có thể viết lại ngay câu lời giải với nhiều cách khác nhau chứ không phải gò ép học sinh phải trả lời theo một kiểu; + Cả hai bạn có số viên bi là; + Số viên bi của hai bạn có tất cả là; + Cả hai bạn có là. (nên hạn chế câu trả lời này); Đây là dịp để học sinh phát huy khả năng sáng tạo của mình, các em được trình bày ý kiến của bản thân; Việc dạy cho trẻ đặt câu lời giải còn vất vả hơn dạy trẻ lựa chọn các phép tính và thực hiện các phép tính ấy để tìm ra đáp số. Vì vậy từ tuần 23, học sinh lớp tôi đã đọc thông, viết thạo, tôi chỉ chọn câu hỏi trong đề toán sao cho chỉ cần chỉnh sửa một chút thôi là được ngay câu lời giải. Còn khi viết phép tính, tôi bắt buộc học sinh viết bằng chữ số (kèm theo tên đơn vị đặt trong dấu ngoặc sau kết quả) mà thôi; Ví dụ : Từ bài toán trên, tôi hỏi : Cả hai bạn có mấy viên bi ? Em làm phép tính gì ? (Tính cộng) mấy cộng mấy ? (3+4); 3+ 4 bằng mấy ? (7) hoặc muốn biết cả hai bạn có mấy viên bi ? (7) Em tính thế nào để được 7 ? (3+4=7); Tới đây, tôi để học sinh nêu tiếp 7 là 7 viên bi. Ta viết “viên bi” vào trong dấu ngoặc đơn 3 + 4 = 7 (viên bi), còn đối với đáp số thì không cần viết tên đơn vị trong dấu ngoặc đơn nữa (Đáp số : 7 viên bi); Khâu này tôi làm 10 SKKN: một vài biện pháp giúp học sinh lớp một giải toán có lời văn chậm và ghi bảng rõ ràng để học sinh nhìn mẫu trình bày bài toán hoàn chỉnh, khoa học nhằm giáo dục tính cẩn thận, thẩm mĩ cho học sinh; Sau đây, tôi hệ thống hóa lại nội dung các bài toán giải có lời văn để hướng dẫn học sinh một cách hiệu quả. Trong phạm vi 27 tiết dạy từ tiết 81 đến tiết 108 tôi đặc biệt chú ý vào 1 số tiết chính sau đây : Tiết 81: Bài toán có lời văn Có ...bạn, có thêm ... bạn đang đi tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu bạn ? HS quan sát tranh và trả lời câu hỏi Điền vào chỗ chấm số 1 và số 3. - Bài 2 tương tự. Qua tìm hiểu bài toán giúp cho học sinh xác định được bài có lời văn gồm 2 phần : - Thông tin đã biết gồm 2 yếu tố. - Câu hỏi (thông tin cần tìm) Từ đó, học sinh xác định được phần còn thiếu trong bài tập ở trang 116 : Có 1 con gà mẹ và 7 con gà con. Hỏi có tất cả bao nhiêu con gà ? Kết hợp giữa việc quan sát tranh và trả lời câu hỏi gợi ý của giáo viên, học sinh hoàn thành bài toán 4 trang 116 : Có 4 con chim đậu trên cành, có thêm 2 con chim bay đến. Hỏi có tất cả bao nhiêu con chim ? Tiết 82 Giải toán có lời văn. - Giáo viên nêu bài toán. Học sinh đọc bài toán - Đây là bài toán gì ? Bài toán có lời văn. -Thông tin cho biết là gì ? Có 5 con gà, mua thêm 4 con gà. - Câu hỏi là gì ? Hỏi nhà An có tất cả mấy con gà ? Dựa vào tranh vẽ và tóm tắt mẫu, GV đưa ra cách giải bài toán mẫu : Bài giải 11 SKKN: một vài biện pháp giúp học sinh lớp một giải toán có lời văn Nhà An có tất cả là : 5 + 4 = 9 (con gà) Đáp số: 9 con gà Bài 1 trang117: Học sinh đọc bài toán - phân tích đề bài- điền vào tóm tắt Và giải bài toán. Tóm tắt : An có : 4 quả bóng Bình có : 3 quả bóng Cả hai bạn có :....quả bóng ? Bài giải Cả hai bạn có là : 4+3= 7 (quả bóng) Đáp số : 7 quả bóng Bài 2 trang 118 : Tóm tắt : Có : 6 bạn Thêm: 3 bạn Có tất cả :... bạn ? Bài giải Có tất cả là : 6+3= 9 (bạn) Đáp số: 9 bạn Qua 2 bài toán trên tôi rút ra cách viết câu lời giải như sau : Lấy dòng thứ 3 của phần tóm tắt và thêm chữ là : VD - Cả hai bạn có là : - Có tất cả là : Tương tự bài 3 trang118 câu lời giải sẽ là : 12 SKKN: một vài biện pháp giúp học sinh lớp một giải toán có lời văn - Có tất cả là : Tiết 84 Luyện tập Bài 1 và bài 2 trang 121 tương tự bài 1, 2, 3 trang 117. Nhưng câu lời giải được mở rộng hơn bằng cách thêm cụm từ chỉ vị trí vào trước cụm từ có tất cả là Cụ thể là - Bài 1 trang 121 : Trong vườn có tất cả là : - Bài 2 trang 121 : Trên tường có tất cả là : Tiết 85 Luyện tập Bài 1 trang 122 HS đọc đề toán – phân tích bài toán (như trên) Điền số vào tóm tắt Vài ba học sinh nêu câu lời giải khác nhau GV chốt lại một cách trả lời mẫu : -Số quả bóng của An có tất cả là : Tương tự : Bài 2 trang 122 - Số bạn của tổ em có là : Bài 3 trang 122: - Số gà có tất cả là : Vậy qua 3 bài tập trên học sinh đã mở rộng được nhiều cách viết câu lời giải khác nhau, song GV chốt lại cách viết lời giải như sau : Thêm chữ Số + đơn vị tính của bài toán trước cụm từ có tất cả là như ở tiết 82 đã làm. Riêng với loại bài mà đơn vị tính là đơn vị đo độ dài (cm) cần thêm chữ dài vào trước chữ là VD cụ thể : Tóm tắt Đoạn thẳng AB : 5cm Đoạn thẳng BC : 3cm Cả hai đoạn thẳng : ... cm ? Bài giải 13 SKKN: một vài biện pháp giúp học sinh lớp một giải toán có lời văn Cả hai đoạn thẳng dài là : 5+ 3 = 8 (cm) Đáp số : 8 cm Tiết 86 Tiết 104 Hầu hết đều có bài toán có lời văn vận dụng kiến thức toán được cung cấp theo phân phối chương trình. Tuy nhiên, việc phân tích đề - tóm tắt - giải bài toán phải luôn luôn được củng cố duy trì và nâng dần mức độ. Song cơ bản vẫn là các mẫu lời giải cho các bài toán thêm là : - Có tất cả là : - Số (đơn vị tính) + có tất cả là : - Vị trí (trong, ngoài, trên, dưới, ...) + có tất cả là : - ... đoạn thẳng....+ dài là : Tiết 105 : Giải toán có lời văn (tiếp theo) Bài toán : Nhà An có 9 con gà, mẹ đem bán 3 con gà. Hỏi nhà An còn lại mấy con gà ? HS đọc – phân tích bài toán : +Thông tin cho biết là gì ? Có 9 con gà. Bán 3 con gà. +Câu hỏi là gì ? Còn lại mấy con gà ? GV hướng dẫn HS đọc tóm tắt - bài giải mẫu. GV giúp HS nhận thấy câu lời giải ở loại toán bớt này cũng như cách viết của loại toán thêm đã nêu ở trên chỉ khác ở chỗ cụm từ có tất cả được thay thế bằng cụm từ còn lại mà thôi. Cụ thể là : Bài giải Số gà còn lại là : 9-3= 6 (con gà) Đáp số: 6 con gà. Bài 1 trang 148 : Có Tóm tắt : 8 con chim 14 SKKN: một vài biện pháp giúp học sinh lớp một giải toán có lời văn Bay đi : 2 con chim Còn lại :... con chim ? Bài giải Số chim còn lại là : 8 - 2 = 6 (con chim) Đáp số : 6 con chim. Bài 2 trang 149 Tóm tắt Có : 8 quả bóng Đã thả : 3 quả bóng Còn lại :....quả bóng ? Bài giải Số bóng còn lại là : 8 - 3 = 5 (quả bóng) Đáp số: 5 quả bóng Bài 3 trang 149 Tóm tắt Đàn vịt có : 8 con ở dưới ao : 5 con Trên bờ : ... con ? Bài giải Trên bờ có là : 8 -5= 3 (con vịt) Đáp số: 3 con vịt Tiết 106 Luyện tập Bài 1, 2 (tương tự tiết 105) Tiết 107 Luyện tập Bài 1, 2 (tương tự như trên) 15 SKKN: một vài biện pháp giúp học sinh lớp một giải toán có lời văn Nhưng bài 4 trang 150 và bài 4 trang151 thì lời giải dựa vào dòng thứ 3 của phần tóm tắt bài toán: Số hình tam giác không tô màu là : Số hình tròn không tô màu là: 8 - 4 = 4 (hình) 15 - 4 = 11 (hình) Đáp số: 4 hình tam giác Đáp số: 11 hình tròn. Bài 3 trang 151 Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng ? cm 2cm 13cm Bài giải Sợi dây còn lại dài là : 13 – 2 = 11 (cm) Đáp số : 11cm Tiết 108 Luyện tập chung Đây là phần tổng hợp chốt kiến thức của cả 2 dạng toán đơn thêm và bớt ở lớp 1 Bài 1 trang 152 a) Bài toán : Trong bến có .....ô tô, có thêm....ô tô vào bến. Hỏi................? HS quan sát tranh và hoàn thiện bài toán thêm rồi giải bài toán với câu lời giải có cụm từ có tất cả b) Bài toán : Lúc đầu trên cành có 6 con chim, có ....con bay đi. Hỏi .....? HS quan sát tranh rồi hoàn thiện bài toán bớt và giải bài toán với câu lời giải có cụm từ còn lại Lúc này, HS đã quá quen với giải bài toán có lời văn nên hướng dẫn cho HS chọn cách viết câu lời giải gần với câu hỏi nhất đó là : 16 SKKN: một vài biện pháp giúp học sinh lớp một giải toán có lời văn - Đọc kĩ câu hỏi. - Bỏ chữ Hỏi đầu câu hỏi. - Thay chữ bao nhiêu bằng chữ số. - Thêm vào cuối câu chữ là và dấu hai chấm Cụ thể Bài 1 trang 152 a) Câu hỏi là : Hỏi có tất cả bao nhiêu ô tô ? Câu lời giải là : Có tất cả số ô tô là : b) Câu hỏi là: Hỏi trên cành còn lại bao nhiêu con chim ? Câu lời giải là : Trên cành còn lại số con chim là : VD khác : a) Câu hỏi là : Hỏi hai lớp trồng được tất cả bao nhiêu cây ? Câu lời giải là : Hai lớp trồng được tất cả số cây là : b) Câu hỏi là : Hỏi con sên bò được tất cả bao nhiêu xăng-ti-mét ? Câu lời giải là : Con sên bò được tất cả số xăng-ti-mét là ? c) Câu hỏi là : Hỏi Lan còn phải đọc bao nhiêu trang nữa thì hết quyển sách ? Câu lời giải là : Lan còn phải đọc số trang nữa là : Trên đây là 2 mẫu toán đơn điển hình của phần giải toán có lời văn ở lớp 1. Tôi đã đưa ra phương pháp dạy từ dễ đến khó để HS có thể giải toán mà không gặp khó khăn ở bước viết câu lời giải. Tối thiểu HS có lực học trung bình yếu cũng có thể chọn cho mình 1 cách viết đơn giản nhất bằng cụm từ : Có tất cả là: ; Hoặc : Còn lại là: Còn HS khá giỏi các em có thể chọn cho mình được nhiều câu lời giải khác nhau nâng dần độ khó thì lời giải càng hay và sát với câu hỏi hơn. VI. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Qua việc nghiên cứu và áp dụng phương pháp dạy toán có lời văn cho học sinh lớp Một cho thấy giải toán có lời văn ở lớp Một không khó ở việc viết 17 SKKN: một vài biện pháp giúp học sinh lớp một giải toán có lời văn phép tính và đáp số mà chỉ khó ở câu lời giải của bài toán. Sau quá trình nghiên cứu và áp dụng kinh nghiệm sáng kiến thì HS biết viết câu lời giải đã đạt kết quả cao, dẫn tới việc HS đạt tỉ lệ cao về hoàn thiện bài toán có lời văn. Sau đây là kết quả của lớp thực nghiệm (1B) và lớp đối chứng (1C), chứng tỏ kết quả của lớp 1B và 1C là do tác động sư phạm thông qua các biện pháp mà có chứ không phải ngẫu nhiên Các lần Lớp sĩ HS viết HS viết HS viết đúng HSviết đúng số đúng câu lời đúng phép đáp số cả 3 bước 1B 19 giải 18 94.7% tính 17 89.5% 17 89.5% trên 16 84.2% 1C 38 20 63.1% 25 65.7% 23 60.5% 24 63.1% 1B 19 16 84.2% 18 94.7% 19 100% 17 89.5% 1C 38 29 76.3% 28 73.6% 27 71.1% 27 71.1% khảo sát Tuần 25 Tuần 30 VII. KẾT LUẬN Phương pháp dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp Một giúp học sinh hoàn thiện một bài giải đủ 3 bước : câu lời giải - phép tính - đáp số là vấn đề đang được các thầy cô trực tiếp dạy lớp Một rất quan tâm. Vấn đề đặt ra là giúp học sinh lớp Một viết câu lời giải của bài toán sao cho sát với yêu cầu mà câu hỏi của bài toán đưa ra. Quá trình thực nghiệm, tôi rút ra kinh nghiệm mới : Để dạy tốt phần “Giải toán có lời văn” cho học sinh lớp Một, giáo viên cần xây dựng quy trình hướng dẫn ở 4 mức độ đó là: + Mức độ 1 : Ngay từ đầu học kỳ I, các bài toán được giới thiệu ở mức độ nhìn hình vẽ - viết phép tính. Mục đích cho học sinh hiểu bài toán qua hình vẽ, suy nghĩ chọn phép tính thích hợp. Thông thường sau mỗi phép tính ở phần luyện tập 18 SKKN: một vài biện pháp giúp học sinh lớp một giải toán có lời văn có một hình vẽ gồm 5 ô vuông cho học sinh chọn ghi phép tính và kết quả phù hợp với hình vẽ. + Mức độ 2 : Đến cuối học kì I, học sinh đã được làm quen với tóm tắt bằng lời. Học sinh từng bước làm quen với lời thay cho hình vẽ, học sinh dần dần thoát ly khỏi hình ảnh trực quan từng bước tiếp cận đề bài toán. Yêu cầu học sinh phải đọc và hiểu được tóm tắt, biết diễn đạt đề bài và lời giải bài toán bằng lời, chọn phép tính thích hợp nhưng chưa cần viết lời giải. Tuy không yêu cầu cao, tránh tình trạng quá tải với học sinh, nhưng có thể động viên học sinh khá giỏi làm nhiều cách, có nhiều cách diễn đạt từ một hình vẽ hay một tình huống sách giáo khoa. + Mức độ 3 : Giới thiệu bài toán có lời văn bằng cách cho học sinh tiếp cận với một đề bài toán chưa hoàn chỉnh kèm theo hình vẽ và yêu cầu hoàn thiện. Tư duy HS từ hình ảnh phát triển thành ngôn ngữ, thành chữ viết. Giải toán có lời văn ban đầu được thực hiện bằng phép tính cộng là phù hợp với tư duy của HS. Cấu trúc một đề toán gồm 2 phần : phần cho biết và phần hỏi, phần cho biết gồm có 2 yếu tố. + Mức độ 4 : Để hình thành cách giải bài toán có lời văn, sách giáo khoa đã nêu một bài toán, phần tóm tắt đề toán và giải bài toán hoàn chỉnh để học sinh làm quen. Giáo viên cần cho học sinh nắm vững đề toán, thông qua việc tóm tắt đề toán. Biết tóm tắt đề toán là yêu cầu đầu tiên dể giải bài toán có lời văn. Chú ý rằng, tóm tắt không nằm trong lời giải của bài toán, nhưng phần tóm tắt cần được luyện kĩ để học sinh nắm được bài toán đầy đủ, chính xác. Câu lời giải trong bài giải không yêu cầu mọi học sinh phải theo mẫu như nhau, tạo diều 19 SKKN: một vài biện pháp giúp học sinh lớp một giải toán có lời văn kiện cho HS diễn đạt câu trả lời theo ý hiểu của mình. Quy ước viết đơn vị của phép tính trong bài giải HS cần nhớ để thực hiện khi trình bày bài giải. Bài toán giải bằng phép tính trừ được giới thiệu khi HS đã thành thạo giải bài toán có lời văn bằng phép tính cộng. GV chỉ hướng dẫn cách làm tương tự, thay thế phép tính cho phù hợp với bài toán. (ném bài cho HS) Ở lớp Một, HS chỉ giải toán về thêm, bớt với 1 phép tính cộng hoặc trừ, mọi HS bình thường đều có thể hoàn thành nhiệm vụ học tập một cách nhẹ nhàng nếu được giáo viên hướng dẫn cụ thể. VIII. ĐỀ NGHỊ Nội dung đề tài mà tôi thực nghiệm đã được áp dung trên lớp 1B, bước đầu đã có kết quả khả quan, đã tạo điều kiện cho học sinh phát huy được tính năng động, sáng tạo trong học tập. Để nâng cao hiệu quả của đề tài trong thời gian đến, tôi có một số đề nghị cụ thể : + Giáo viên cần nhận thức rõ việc dạy học “Giải toán có lời văn” ở lớp Một là nền tảng cho việc giải toán sau này. Do đó giáo viên không được phép chủ quan trong phần “Nhìn hình, nêu phép tính” mà dạy kĩ phần này, tập trung rèn kĩ năng quan sát và diễn đạt bằng lời nói cho học sinh một cách cô đọng, tường minh, súc tích; + Kịp thời sửa chữa những lỗi máy móc khi vận dụng nòng cốt câu giải từ câu hỏi ở phần tóm tắt, tránh tình trạng học sinh dùng từ “Số” ở đầu câu giải một cách cơ học, không hiểu ý nghĩa cụ thể của bài toán; + Phải tổ chức tiết học làm sao phát huy được tính tích cực, dạy học theo hướng cá thể hóa nhằm nâng cao khả năng tư duy, trình bày ý kiến cá nhân học sinh một cách tự nhiên, nhẹ nhàng. Để làm được điều này, tôi gợi ý thầy cô nên có sự nghiên cứu chu đáo nội dung chương trình Toán 1 để có sự chuẩn bị tốt cho các tiết dạy cụ thể. 20
- Xem thêm -