Skkn-một số kinh nghiệm lồng ghép giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản trong giảng dạy môn sinh học

  • Số trang: 21 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 374 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Đã đăng 42601 tài liệu

Mô tả:

Phòng GDĐT TP PLEKU SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ KINH NGHIỆM LỒNG GHÉP GIÁO DỤC GIỚI TÍNH VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN TRONG GIẢNG DẠY MÔN SINH HỌC LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI . Page 1 Giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản phải bắt đầu bằng giáo dục gia đình, vai trò của cha mẹ,truyền thống,đạo đức,luật pháp của quốc gia,sau đó là kiến thức cơ bản về cơ thể học,sinh lý học, các kỹ năng của con người để bước vào quan hệ tình dục an toàn có trách nhiệm,nắm các thông tin về tình dục và sinh sản cơ bản. Muốn thực hiện được điều đó thì việc mang lại phổ biến các kiến thức chuyên môn về cơ thể học,sinh lý học,tâm lý học và các quan điểm về đời sống tình dục phải trình bày một cách công khai. Trong giảng dạy sinh học ngoài việc truyền thụ những kiến thức cơ bản, đồng thời phải lồng ghép việc giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản cho học sinh có ý thức bảo vệ cơ thể khỏe,sống lành mạnh …. Trong các năm học qua để giáo dục học sinh có thức tốt trong ý thức bảo vệ sức khỏe tôi luôn lồng ghép vấn đề này vào trong bài dạy, và tôi nhận thấy đã đạt được một số hiệu quả nhất định và tôi tiếp tục áp dụng phương pháp này vào trong năm học và trong những năm học tiếp theo với hy vọng góp phần nâng cao được ý thức cho học sinh để bảo vệ cơ thể mình từ đó có ý thức bảo vệ bản thân và gia đình thông qua môn học.Học sinh là những người chủ nhân tương lai của đất nước, chúng ta phải làm sao cho các thế hệ học sinh có ý thức và góp sức mình vào công cuộc xây dựng đất nước . Giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản hiện nay đã trở thành một nhu cầu cấp bách của xã hội. Đối với chúng ta giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản là một môn học còn mới lạ,nó chưa được đưa vào dạy một cách công khai, có bài bản ở các trường đại học y khoa, nó chỉ mới được lồng ghép vào các môn sản phụ khoa,nam khoa,tâm lý...Ở bậc trung học thì đang dạy thử nghiệm chỉ có tính cung cấp cho học sinh thông tin về dân số và sức khỏe sinh sản, các biện pháp sinh hoạt tình dục an toàn để tránh lây nhiễm HIV. Còn ngoài xã hội, trong các cơ sở tôn giáo, trong các câu lạc bộ hôn nhân và gia đình, hay tạp chí người ta chỉ nối một cách mơ hồ chưa giám trình bày một cách rõ ràng khoa học mà chỉ nói chung chung trong các lớp dự bị hôn nhân hay trong cách giao tiếp, ứng xử...đó không phải là giáo dục giới tính đích thực. Vì vậy tôi lồng ghép chương trình giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản vào trong giảng dạy sinh học 8 . Với mong muốn giúp học sinh tích cực và chủ động trong việc tiếp thu chủ đề này,từ đó các em có thể tự giải đáp những tò mò, thắc mắc của bản thân đồng thời có những hành trang cần thiết cho việc chăm sóc sức khỏe bản thân ,tôi đã mạnh dạn thức hiện tìm hiểu thu thập thông tin, một số phương pháp dạy học lồng ghép Page 2 nhằm khai thác có hiệu quả nội dung giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản cho học sinh qua một số bài ở sách giáo khoa sinh 8 Đó là lý do tôi chọn đề tài này : MỘT SỐ KINH NGHIỆM LỒNG GHÉP GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN TRONG GIẢNG DẠY MÔN SINH HỌC ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Mục tiêu: Tuổi vị thành niên được định nghiã là giai đoạn chuyển tiếp của sự tăng trưởng và phát triển từ cuối trẻ em đến bắt đầu tuổi trưởng thành,từ 13-19 tuổi.Tuổi dây thì,nói chung có thể chia làm ba giai đoạn( bắt đầu, trung gian và cuối) ,hoặc tiền dậy thì,dậy thì và sau dậy thì. Suốt lứa tuổi vị thành niên có nhiều thay đổi về mặt thể chất, cảm xúc và xã hội diễn ra ở mỗi cá nhân. Những thay đổi này xảy ra đồng thời hoặc từng đợt nối tiếp nhau trong tất cả ba lĩnh vực nối trên.những thay đổi đó liên quan tới nhau ảnh hưởng lẫn nhau.Tuy vậy, để nhận biết và hiểu biết các thay đổi quan trọng đó, ta xem xét riêng từng phương diện, song bao Page 3 giờ cũng cần nhớ rằng trong cuộc sống thực, chúng không hoàn toàn diễn ra đúng như vậy Thế kỷ 20 với vô số các thay đổi của xã hội chúng ta phải đương đầu với những đòi hỏi của thời đại trong đó tình dục học sẽ là một môn học phải được dạy ngay từ lớp 5. Những biến đổi về tâm sinh lý ảnh hưởng mạnh đến lối sống,nếp sinh hoạt, quan hệ xã hội và sự phát triển nhân cách.Tuy nhiên, đây cũng là những vấn đề chưa được nhiều bậc phụ huynh quan tâm.Phim ảnh, báo chí,những nếp sống,hoạt động không lành mạnh,ăn chơi,ma túy... làm cho các em dễ bị lôi cuốn,bị sa ngã, bị xâm hại tình dục..... Vậy nên tôi chọn đối tượng nghiên cứu là học sinh khối lớp 8, thông qua giảng dạy bộ môn sinh hoc lớp 8 để giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ sức khỏe của mình. Bởi vì đây là lứa tuổi giao thời giữa thiếu niên và thanh niên , do vậy các em có nhiều chuyển biến về nhận thức. Trong thực tế cho thấy đa số các em có ý thức tốt , nhưng bên cạnh đó vẫn có những em nhận thức sự việc còn thiên về cảm tính, bắt chước, chưa có sự chọn lọc nhưng các em lại không nhận thức được điều đó. Trong những trường hợp như vậy giáo viên và phụ huynh cần có biện pháp giúp đỡ, chỉ bảo , giáo dục cho các em để các em nhận thức được sự việc, sự tác hại của những trò, những việc làm, từ đó các em có ý thức cao hơn trong mọi hành vi, việc làm của mình đối với cơ thể mình. Với biện pháp vừa truyền thụ tri thức, vừa giáo dục cho học sinh có ý thức đối với bản thân, để hình thành nhân cách, ý thức cho học sinh, để các em trở thành một con người vừa có tri thức vừa có đạo đức. Đạo đức có thể nói là cái gốc của con người. Người Trung Quốc có câu “ Nhân chi sơ tính bản thiện” nghĩa là con người khi sinh ra ai cũng hiền, ai cũng thiện cả còn về sau có thể trở thành người tốt hay xấu đều do môi trường và giáo dục. Chính vì thế khi các em bước chân vào ghế nhà trường ngoài việc truyền thụ kiến thức các thầy cô giáo cần phải dạy các em những cái hay, cái đẹp cái tốt trong cuộc sống. Đối với bộ môn sinh học trong trường trung học cơ sở góp phần cho học sinh có đươc những kiến thức cơ bản và cung cấp những hiểu biết khoa học về đặc điểm cấu tạo và mọi hoạt động sống của con người. Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp vệ sinh, rèn luyện thân thể, bảo vệ và tăng cường sức khỏe. -Dạy sinh học 8 nhằm hình thành ở học sinh những hiểu biết về đặc điểm cấu tạo,các bộ phận và chức năng của cơ thể con người. Nhằm giúp học sinh trong việc tìm hiểu cơ thể của con người ngừơi qua các bài học, đặc biệt trên mô hình thưc tế. Từ đó có thể nhận biết các cơ quan , bộ phận trên cơ thể mình, rèn luyện kỹ năng Page 4 nghiên cứu bộ môn, giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ cơ thể,vệ sinh một cách hợp lý, đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục trung học cơ sở. 2. Nhiệm vụ: - Nhiệm vụ trang bị tri thức, hình thành ở học sinh những kiến thức cơ bản có hệ thống về các đặc điểm hình thái cấu tạo, chức năng của các cơ quan cơ thể người. - Nhiệm vụ phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện các kỹ năng, nhận thức cảm tính, kỹ năng quan sát, chú ý ghi nhớ nhận thức lý tính,kỹ năng so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa trừu tượng hóa, cụ thể hóa,hệ thống hóa. Đây là những kỹ năng cần thiết cho việc tự học và học tập liên tục sau này. - Nhiệm vụ giáo dục: Dạy học sinh 8 góp phần: +Giaó dục giới tính và sức khỏe sinh sản cho lứa tuổi học sinh lớp 8 để phòng được môt số vấn đề nhạy cảm của lứa tuổi này. + Giáo dục thế giới quan khoa học, vạch rõ mối quan hệ giữa các cơ quan trong cơ thể. + Giáo dục tình cảm, đạo đức cho học sinh, bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ vẻ đẹp là góp phần giáo dục thẩm mỹ. *Nhiệm vụ của giáo dục giới tính -Nâng cao nhận thức đúng đắn cho học sinh THCS + Về giới +về giới tính +Về những đặc tính của giới tính +Về những vấn đề có liên quan đến mối quan hệ giữa những người khác giới -Hình thành cho học sinh THCS có những thái độ, tình cảm và hành động đúng đắn trong: +Những vấn đề có liên quan đến giới +Quan hệ những người khác giới(nhất là bạn khac giới) VD: +Tình trạng có thai sớm +Phá thai vô ý thức +Bệnh truyền nhiễm Page 5 +Bệnh lây qua đường tình dục *Các phương pháp GDGT ở trường THCS Việc lựa chọn và sử dụng phương pháp GDGT có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm kết quả của giáo dục.Một trong ngững nhiệm vụ của GDGT là hình thành ý thức(khái niệm, phán đaons, niềm tin cho học sinh THCSvề những vấn đề có quan hệ đến giưới và các quan hệ giữa những người ở các giới khác nhau,về giới tính vai trò của chúng trong cuộc sống xã hội. Vì vậy, để hình thành ý thức cho HS ý thức về các vấn đề vừa nêu trên, cần lựa chọn và sử dụng các phương pháp diễn giảng, đàm thoại, tranh luận.Những phương pháp này có tác động đưa lí luận vào ý thức HS và khái quát những kinh nghiệm, những hành vi, ứng xử của HS Tuy nhiên không được biến các phương pháp này thành các phương pháp thuyết giáo.Các phương pháp này phải làm cho HS biết tự mình phân tích và tổng kết kinh nghiệm ứng xử đối với người khác giới, đối với những vấn đề giới tính của bản thân của bạn bè, biết tự nhận thức,tự đánh giá,và biết bảo vệ những quan điểm, niềm tin và nguyên tắc mình đã tự xây dựng. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I.Mục tiêu Hiện nay, trong chương trình đào tạo của Việt Nam, vấn đề giáo dục giới tính cho học sinh chưa được quan tâm đúng mức. Chưa hề có môn giáo dục giới tính được đưa vào nội dung giảng dạy. Vấn đề này được lồng ghép vào một số nội dung trong môn sinh học hay một số bài trong môn Giáo dục công dân, địa lí. Tuy nhiên, những nội dung đó vẫn còn chung chung, chưa đáp ứng được nhu cầu hiểu biết và sự cần thiết phải nắm vững các kiến thức về giới tính của các em học sinh. Thái độ của các em khi nói đến những vấn đề liên quan đến giới tính còn khá dè dặt, các em chưa hề mạnh dạn trong quá trình tìm hiểu hay tiếp thu những kiến thức đó. Trong khi có khoảng 96,1% các em học sinh khi được hỏi đều cho rằng cần được trang bị đầy đủ các kiến thức về tâm - sinh lí và giao tiếp ứng xử ngay trong giai đoạn THCS. Bên cạnh đó, đội ngũ giáo viên chuyên trách về những vấn đề này hầu như chưa trường nào có. Các hoạt động giáo dục của nhà trường chỉ dùng lại ở một số buổi nói chuyện với các chuyên gia về một số vấn đề sức khoẻ giới tính, phòng chống HIV/AIDS...Các giáo viên giảng dạy các bộ môn khi đề cập đến việc dạy các kiến thức về giới tính cho các em, một số người còn nói rằng: Giáo viên nói ra những vấn đề đó còn cảm thấy ngượng nữa là các em học sinh. Page 6 Hậu quả của sự thiếu hiểu biết về giới tính không phải ai khác mà chính các em phải chịu. Theo bệnh viện phụ sản Từ Dũ Hà Nội: Số sản phụ chưa đến tuổi 18 đến khám phá thai ngày càng tăng. Năm 2003 gấp 2 lần năm 2001, Riêng những tháng đầu năm 2009, trung bình mỗi tháng có hơn 40 ca. Thực tế là tình trạng nạo phá thai khi chưa lập gia đình xảy ra rất phổ biến, đến mức báo động. Theo một nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường phát triển (CGFED), Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới (Đứng thứ 3 trên thế giới) với hơn 500.000 ca mỗi năm. Con số thực tế còn có khả năng cao hơn do báo cáo và ghi chép không đầy đủ khi tình trạng phá thai không an toàn tại các cơ sở y tế tư nhân rất khó kiểm soát… Trong đó, 30% ca phá thai là ở lứa tuổi chưa lập gia đình. Đáng báo động có tới 20% người nạo phá thai ở lứa tuổi vị thành niên. Theo đó, những bà mẹ sinh con trước 18 tuổi là khoảng 5% và khoảng 15% sinh con trước tuổi 20. Chưa kể có khoảng 65% các ca nhiễm HIV là ở những người dưới 29 tuổi và một phần không nhỏ rơi vào những đối tượng chưa lập gia đình,... Cũng theo báo cáo, đây chỉ là số nổi, thực tế còn nhiều hơn vì các em không khai đúng tuổi hay không dám đến bệnh viện để xử lí. Hậu quả của sự thiếu hiểu biết về kiến thức giới tính làm các em dễ mang thai ngoài ý muốn, dễ mắc một số bệnh như: Lậu, Giang mai, sùi mào gà, AIDS. Xã• hội hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề nên hay không nên đưa chương trình giáo dục sức khoẻ giới tính vào chương trình giáo dục PTTH. Có ý kiến cho rằng: không nên vẽ đường cho hươu chạy, ý khác lại cho rằng: Thà vẽ đường cho hươu chạy còn hơn để con em chúng ta lao xuống vực. Vấn đề lớn được đặt ra ở đây là làm thế nào để lấp lỗ hổng trong công tác giáo dục giới tính cho các em đang ở giai đoạn vị thành niên. Theo ý kiến của cá nhân tôi, việc cần thiết phải trang bị cho các em các kiến thức về vấn đề giới tính là không cần phải bàn cải. Với vai trò là một giáo viên dạy môn sinh học THCS, tôi thấy có một số nội dung trong chương trình SGK có đề cập đến một số vấn đề về dạng kiến thức GDGT. Nếu GV biết cách triển khai tốt, khai thác bổ sung thêm một số vấn đề thì sẽ trở thành một bài dạy về giáo dục giới tính rất tốt cho các em. Trước đây, chúng ta áp dụng phương pháp dạy học vấn đề, trong đó lấy giáo viên là trung tâm truyền đạt lại kiến thức cho Học sinh, do đó Học sinh học tập một cách thụ động, thiếu sáng tạo dẫn đến hiệu quả giảng dạy không cao. Hiện nay, công tác đổi mới phương pháp dạy học đang vận dung phương pháp dạy học khám phá, lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên giữ vai trò tổ chức, giám sát, định hướng Page 7 các hoạt động của học sinh nhằm giúp các em tìm hiểu và lĩnh hội các kiến thức mới. Mục đích chung của môn Cơ thể người và vệ sinh ở THCS là cung cấp những hiểu biết khoa học về đặc điểm cấu tạo và mọi hoạt động sống của con người. Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp vệ sinh, rèn luyện thân thể, bảo vệ và tăng cường sức khỏe, nâng cao năng suất, hiệu quả trong học tập,góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo những con người lao động linh hoạt, năng động, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Những hiểu biết về cơ thể người giúp học sinh hiểu rõ cơ sở khoa học của các biện pháp vệ sinh, phòng bệnh, cách sử lý các tình huống gặp phải trong đời sống và sức khỏe của con người,trong đó có sức khỏe sinh sản. Qua các phương pháp dạy mà hình thành cho học sinh phương pháp học tập bộ môn nói riêng và phương pháp học tập tích cực và tự lực nói chung,tạo cho các em có cách nhìn một cách có hệ thống về sự tiến bộ khoa học và công nghệ của xã hội mới đối với người lao động. II. Nội dung: Một phần ba dn số thế giới ở vào độ tuổi từ 10 đến 24 tuổi; v 4 phần 5 dn số ny hiện sống ở các nước đang phát triển. Từ trước đến nay, các chương trình về sức khỏe của đối tượng thanh nin trẻ ít khi được định hướng ưu tiên, bởi vì hầu hết cc thống k về y tế đều cho thấy tỷ lệ bệnh tật v tử vong có khuynh hướng thấp đối với thanh nin. Gần đây, với quan niệm rộng hơn và có chiều sâu hơn về sự pht triển về nhn cch vị thnh nin v cc hậu quả lu di của nó đ đặt ra nhiều tranh ci, địi hỏi phải ưu tiên cho những chương trình phục vụ cc yu cầu bức thiết đảm bảo sự pht triển lnh mạnh về thể chất v tinh thần của lứa tuổi ny. Vị thnh nin l một giai đoạn pht triển rất nhanh về thể chất, tm sinh lý v tinh thần. Nhiều vấn đề về sức khỏe ở người lớn xuất pht từ những thĩi quen dung nhập trong giai đoạn vị thành niên, như hành vi tình dục, rượu ch, ma ty... Trong thời buổi bng nổ thông tin như hiện nay, cc gi trị văn hóa phương Tây xâm nhập vo từng thnh phố, lng mạc ở các nước thứ ba, làm thay đổi v ảnh hưởng rất nhiều đến suy nghĩ v hnh vi của lứa tuổi vị thành niên. Các em đi kiếm tìm những gi trị từ bố mẹ, thầy cơ, bạn b cng lứa, ngôi sao điện ảnh, ngơi sao nhạc nhẹ... để tự khẳng định mình. Trong bối cảnh đó, sức khỏe vị thnh nin l một trong những thch thức nghim trọng nhất đối với những nh hoạch định chiến lược pht triển. Bn cạnh những đặc điểm về số lượng dn số của lứa tuổi ny, về tính cấp thiết và đặc th của cc nhu cầu sức khỏe của cc em, chng ta phải nhìn thấy rằng tương lai của trẻ vị thành niên là tương lai thật sự của nhn loại. Người ta ước tính trn thế giới cĩ khoảng 500 triệu trẻ vị thnh nin sẽ đối mặt với sự chọn lựa hnh vi tình dục vào năm 2000. Nhiều triệu trong số đó bước vo tuổi hoạt động tình dục với nguy cơ có thai ngoài ý muốn, AIDS v cc bệnh ly truyền qua đường tình dục (BLTĐTD) khác. Rất nhiều lớn khơng chấp nhận một thực tế l con ci họ đang ở tuổi hoạt động tình dục, mặc d nhiều nghin cứu cho thấy rằng bất chấp rng buộc về văn hóa, tập tục, tơn gio, phần lớn đều bắt đầu cĩ hoạt động tình dục, dưới cc hình thức khác nhau, trước tuổi 20. Ở hầu hết cc quốc gia, trường học, chính phủ v bố mẹ vẫn chưa cung cấp cho trẻ vị thnh nin những thơng tin cần thiết để chng cĩ thể cĩ những quyết định và hành vi đúng đắn, ảnh hưởng đến tương lai về sức khỏe sinh sản của chính mình. Page 8 -Trẻ vị thành niên (từ 10-17 tuổi) ở nước ta có khoảng 23,8 triệu người, chiếm 31% dân số. Theo thống kê của Hội Kế hoạch hóa gia đình thì Việt Nam là một trong ba nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới (1,2-1,6 triệu ca mỗi năm), trong đó 20% thuộc lứa tuổi VTN, thậm chí có em mới... 12 tuổi. Điều tra quốc gia về VTN và thanh niên Việt Nam cho thấy, 7,6% trong độ tuổi này có quan hệ tình dục trước hôn nhân. Đó là chưa kể tới rất nhiều ca NPT tại những cơ sở y tế tư nhân nhưng không thể kiểm soát và thống kê được. Một số khái niệm có liên quan đến giáo dục sức khỏe sinh sản và giới tính: 1 .ĐỊNH NGHĨA SỨC KHỎE SINH SẢN VÀ SỨC KHỎE TÌNH DỤC: -Sức khỏe sinh sản: Theo tổ chức Y tế thế giới, SKSS là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan tới bộ máy sinh sản chứ không phải là không có bệnh hay khuyết tật của bộ máy đó. Như vậy SKSS bao hàm ý nghĩa là mọi người đều có thể có một cuộc sống tình dục được thỏa mãn, có trách nhiệm và an toàn đồng thời họ phải có khả năng sinh sản và sự tự do lựa chọn việc có sinh con hay không, thời điểm sinh con và số con. Định nghĩa này cũng bao hàm cả quyền của phụ nữ và nam giới phải được thông tin, tư vấn đầy đủ và được tiếp cận với các biện pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn, hiệu quả, phù hợp với khả năng và chấp nhận được theo sự lựa chọn của bản thân họ, và quyền tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe phù hợp cho người phụ nữ mang thai cũng như sinh đẻ an toàn. -Sức khỏe tình dục: Theo tổ chức Y tế thế giới, SKTD là trạng thái thoải mái về thể chất, tình cảm, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan tới hoạt động tình dục chứ không phải chỉ là không có bệnh, hoạt động bất thường hay yếu ớt. SKTD đòi hỏi cách tiếp cận tích cực và tôn trọng đối với hoạt động tình dục và các mối quan hệ giới tính, cũng như khả năng có được cuộc sống tình dục an toàn và khoái cảm, không bị cưỡng bức, phân biệt và bạo lực. Để có và duy trì SKTD, các quyền về tình dục của tất cả mọi người phải được tôn trọng, bảo vệ và đảm bảo. 2.TÌM HIỂU SỰ PHÁT TRIỂN VỀ THỂ CHẤT Trong suốt thời trẻ em, các cơ quan sinh dục chăng thay đổi bao nhiêu, song trong giai đoạn vị thành niên, sự tăng trưởng từ dạy thì đến chín muồi diễn ra theo một trình tự nhất định.Tuổi dậy thì được phát khởi từ vùng dưới đồi, nó kích Page 9 thích tuyến yên.Tuyến yên kiểm soát toàn bộ sự tăng trưởng,kích thích sự sản xuất các hoocmon của buồng trứng,tinh hoàn và tuyến thượng thận.Các tác nhân đặc hiệu của tuổi dậy thì là hoocmon giới tính Estrogen từ buồng trứng và Andrnogen từ tinh hoàn.Con gái thường đạt tới tuổi chín muồi sớm hơn con trai 2 năm. Tuổi dậy thì trung bình của trẻ gái là 11-14 tuổi, ở trẻ trai 13-16 tuổi.Mỗi cá nhân có một thời gian biểu riêng, nam hay nữ cũng vậy thành thử có những biến thiên lớn về thời gian, song trình tự chín muồi về giới tính thì như nhau. Sự phát triển kịch tính của các cơ quan sinh dục dẫn đến sự thức tỉnh và các ham muốn tình dục, nhưng lại có những ràng buộc rất nghiêm ngặt chi phối các ứng xử tình dục của người vị thành niên. Mặc dù chín muồi về chức năng sinh lý, người vị thành niên vẫn được xem là trẻ em về mặt cảm xúc và xã hội . Người vị thành niên tháy sợ hãi bối rói vì những cảm nghĩ mới mẻ về giơi tính này mà ngay cả bản thân,( và cả bậc cha mẹ) , thường cho đó là “điều xấu xa”.Người ở lứa tuổi này cần có cơ hội bày tỏ các cảm nghĩ đó và học cách là sao kềm chế và chuyển hướng các ham muốn tính dục của mình.Đồng thời với sự tăng trưởng về giới tính,cũng diễn ra giai đoạn”nước rút” của sự tăng trưởng toàn thân cơ rhể lớn lên từng ngày.Trong thời kỳ dây thì, trung bình mỗi em cao thêm khoảng 9- 20 cm.Trong giai đoạn này, cơ thể không chỉ lớn lên về mặt chiều cao và cân nặngmà còn cả về các kích thước khác: đầu, ngực, mông, tay ,chân...tất cả các bộ phận cơ thể không lớn lên thoe cùng một tốc độ, nên người vị thành niên trông có dáng ngượi ngịu và có phần không cân đối. 3.LỒNG GHÉP VÀO MỘT SỐ BÀI SINH 8 Bài 58: TUYẾN SINH DỤC Hoạt động 1: Tìm hiểu về chức năng của hoocmon sinh dục nam đôi với tuổi dậy thì ở các em trai Có 2 hoạt động nhỏ: + Tìm hiểu về vai trò của tinh hoan ở phần này Gv hướng dãn cho học sinh quan sát hình vễ, sơ đồ trao đổi nhóm để hoàn thành phần điền từ.(GV dùng tranh màu phóng to giới thiệu cho HS vị trí của các tế bào kẽ, chức năng của tế bào kẽ, sau khi hoạt động GV cho đại diện HS nhóm báo cáo phần điền từ đồng thời chỉ Page 10 trên tranh vẽ vị trí của các tế bào kẽ, sự điều hòa hoạt động của các tuyến nội tiết là cơ sở để các em học bài 59 dễ hơn) Kết luận: Vai trò nội tiết của tinh hoàn là tiết hoocmôn phụ sinh dục nam: TESTÔSTÊRÔN: Tìm hiểu vai trò của hôc môn do tế bào kẽ tiết ra để thực hiện tốt phàn này GV cho các em HS nam chuân bị trước ở nhà phiếu học tập ( bảng 58.1) GV thu lại đề phát hiện một số em phát triển không bình thường để kịp thời có lời khuyên thích hợp cho các em Hoạt động 2: cách tiến hành như hoạt động 1 song Gv đặc biệt chú ý giới thiệu kỹ hình 58.3 ( buồng trứng,ống dẫn trứng,phễu dẫn trứng,trứng và các nang trứng gốc, sự phát triển của trứng, trứng chín và rụng trứng sự hình thành thể vàng, vai trò của thể vàng) đây là cơ sở để các em học tốt bài 62. Đặc biệt GV cần lưu ý các em gái trong việc vệ sinh cơ quan sinh dục. -Vai trò nội tiết của buồng trứng là tiết hoocmôn phụ sinh dục nữ:ƠSTRÔNGEN Sau hai hoạt động Gv cần lưu ý cho HS: trong các dấu hiệu biến đổi của cơ thể ở tuổi dậy thì , thì dấu hiệu quan trọng nhất là xuất tinh lần đầu ở các em nam và sự hành kinh lần đầu ở nữ.Đây là dấu hiệu có khả năng sinh sản, song các em chưa thể sinh sản được, Vì sao? Gv giải thích rõ cho các em vì sao ở tuổi các em chưa sinh sản được.Đồng thời qua đó giáo dục các em cần có lối sống trong sáng lành mạnh, trong quan hệ bạn bè, trong phim ảnh, vui chơi.... Gv: giải thích một số thắc mắc của HS cũng như một sô hiện tượng thực tế:Pêđê là do rối loạn hoạt động nội tiết ( các tê bào kẽ không tiết hoocmon Testostêrôn hoặc tiết qua ít đối với các em nam, hoặc nang trứng không tiết ra hoocmôn Ơstrrôgen hoặc quá ít với các em nữ) các đặc tính sinh dục phụ có thể thay đổi do hoocmon phụ sinh dục song cơ quan sinh dục là yếu tố quyết định giới tính không thể thay đổi. Page 11 Ví dụ bài 62: THỤ TINH, THỤ THAI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THAI Hoạt động : Tìm hiểu những điều kiện cho sự thụ tinh và thụ thai Gv dung tranh màu phóng to giới thiệu rõ đường đi của tinh trùng nơi tinh trùng gặp trứng sau khi thụ tinh hợp tử di chuyển về làm toỏ ở tử cung, thời gian hợp tử di chuyển từ nơi thụ tinh về tử cung, bám vào tử cung, và được là tổở tử cung đã được chuẩn bị sẵn( dày và xốp và xung huyết nhờ hoocmôn của thể vàng được duy trì trong suốt thời gian phụ nữ mang thai. HS đọc thông tin, lĩnh hội kiến thức trao đổi nhóm xác điịnh điều kiện cần cho sự thụ tinh và thụ thai: +Điều kiện cần cho sự thụ tinh: Trứng được gặp tinh trùng và tinh trùng được lọt vào trứng để tạo thành hợp tử. + Điều kiện cần cho sự thụ thai xảy ra khi trứng đã thụ tinh bám được và làm tổ trong lớp niêm mạc tử cung (GV cần khắc sâu và ghi nhớ hai điều kiện này , vì đây là cơ sở cho việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình,sẽ học bài 63) Hoạt động: Tìm hiểu sự nuôi dưỡng thai khi mang thai -Để thực hiện tốt hoạt động này giáo viên cho HS điều tra trước thực tế: Sức khỏe bà mẹ mang thai, chế độ dinh dưỡng của người mang thai, sức khỏe của trẻ sơ sinh: Người phụ nữ có sức khỏe tốt chế độ dinh dưỡng đầy đủ, không bị đau oóm trong thòi gian mang thai, không sử dụng các chất gây nghiện... thì đứa trẻ sinh ra có sức khỏe tốt, cân nặng đảm bảo, không thiếu cân và chiều cao, trí tuệ phát triển tốt...) GV cho HS đọc thông tin SGK dùng tranh giới thiệu sự thai sinh ở người, sau đó cho HS đọc báo cáo kết quả điều tra thực tế: +Sức khỏe của thai tùy thuộc vào sức khỏe của mẹ. Do đó, trong thời gian mang thai( cũng như thời kỳ cho con bú người mẹ cần bồi dưỡng đủ chất, đủ lượng để Page 12 đảm bảo đủ dinh dưỡng cho thai nhi phát triển tốt ( không bị suy dinh dưỡng) không dùng các chất gây nghiện như rượu bia, thuốc lá... có ảnh hưởng trực tiêp đến sự phát triển của thai Hoạt động : Tìm hiểu và giải thích hiện tượng kinh nguyệt -GV: cho HS đọc thông tin nội dung SGK sau đó dùng tranh màu phóng to Hình 62.3 giới thiệu và giải thích rõ hiện tượng và chu kỳ kinh nguyệt +Trứng chín và rụng là hoạt động tiết hoocmôn của tuyến yên +Thời gian từ khi trứng bắt đầu phát triển đến khi chín và rụng là 14 ngày +Khi trứng rụng ngang trứng hình thành thể vàng,thể vàng +Ơstrôgen do lớp trong của ngang trứng tiết ra tăng dần và cao nhất ở ngày thứ 14,Prôgenstêrôn do thể vàng tiết ra từ ngày thứ 14 tăng dần và tăng cao nhất ở ngày thứ 23- 24, đồng thời niêm mạc tử cung xung huyết càng mạnh và mạnh nhất vào khoảng ngày thứ 22-25. Page 13 +Trứng rụng sau ngày thứ 14 kể khi trứng bắt đầu phát triển, niêm mạc tử cung còn ít xung huyết,từ ngày thứ 14 đến ngày thứ 28 niêm mạc tử cung xung huyết mạnh. Nếu trứng không được thụ tinh thể vàng teo dần, niêm mạc tử cung bị bong, kèm theo sự chảy máu đó là sự hành kinh(Dấu hiệu trứng không được thụ tinh) +Thể vàng còn có vai trò kìm hãm sự tiết hoocmon gây chín trứng của tuyến yên, nên sau ngày thứ 28( hành kinh) thể vàng không còn thì tuyên yên lại hoạt động tiết hoocmon gây chín trứng do vậy sự hành kinh lặp thành chu kỳ. +Nếu trứng được thụ tinh và làm toor thì hình thành nhau thai tiết hoocmon duy trì thể vàng, do đó trong thời gian người phụ nữ mang thai niêm mạc tử cung không bị bong tức là trong gian đó họ không có hành kinh. -GV cho HS trao đổi nhóm hoàn thành lệnh SGK GV Vận dụng kiên thức về kinh nguyệt và chu kỳ kinh nguyệt để giáo dục thực hiện kế hoạch hóa gia đình H:Chu kỳ kinh nguyệt kéo dài bao nhiêu ngày? Trong thời gian nào trứng gặp tinh trùng dễ tạo thành hợp tử? (giao hợp không an toàn)Trong thời gian nào trứng gặp tinh trùng khó và không tạo thành hợp tử?(giao hợp an toàn) GV: Giáo dục em gái trong việc giữ vệ sinh kinh nguyệt. Page 14  MỘT SỐ BIỆN PHÁP TRÁNH THAI CƠ BẢN *Nhóm 1: - Các hiện tượng đánh dấu tuổi dậy thì ở Nam: Có khả năng xuất tinh, mộng tinh. ở nữ: Xuất hiện kinh nguyệt. - Kinh nguyệt là hiện tượng chỉ xuất hiện ở nữ giới, theo chu kì. Khi trứng rụng một thời gian không được kết hợp với tinh trùng sẽ được thải ra ngoài cùng với lớp niêm mạc của dạ con bị bong ra qua đường sinh dục. Kinh nguyệt thải ra ngoài gồm máu, chất nhầy, lớp niêm mạc tử cung, trứng… - Chu kì kinh nguyệt của nữ giới: Kinh nguyệt xảy ra theo chu kỳ 28 ngày. Trong đó: + Kinh nguyệt diễn ra trong 3 ngày đầu gọi là ngày hành kinh (1, 2, 3). + Từ ngày 3-13: ngày an toàn. + Ngày 14-15: Ngày trứng rụng. + Ngày 15-28: Ngày an toàn. Page 15 Tranh : Sơ đồ chu kì kinh nguyệt của nữ giới. - Cơ chế tác dụng của phương pháp tính ngày rụng trứng: Yêu cầu trình bày như phần nội dung (Học sinh dùng tranh : Sơ đồ chu kì kinh nguyệt của nữ giới để giải thích). *Nhóm 2: Tranh: Bao cao su dành cho nam giới. Page 16 Tranh: Bao cao su dành cho phụ nữ. Tranh: Cách sử dụng BCS dành cho nam giới. + Cách sử dụng BCS dành cho nữ giới: Page 17 Tranh: Cách sử dụng BCS dành cho nữ giới. *Nhóm 3: - Cơ chế tác dụng của thuốc tránh thai: Trình bày như phần nội dung. - Một số loại thuốc tránh thai: Postino (ngừa thai khẩn cấp),olag, Ky, Exluton. Postino Page 18 Olag Ky, Exluton *Nhóm 4. - Cơ chế tác dụng của phương pháp dụng cụ tử cung: Phần nội dung, HS dùng tranh minh hoạ để trình bày. Hình: Vòng tránh thai. - Cơ chế tác dụng của phương pháp triệt sản nữ: Học sinh sử dụng hình vẽ để giải thích (như phần nội dung). Page 19 Hình: Thắt ống dẫn trứng ở phụ nữ. - Giải thích cơ chế phương pháp triệt sản nam: Học sinh dùng hình vẽ để giảI thích (như phần nội dung). Hình:Triệt s ản nam. Page 20
- Xem thêm -