Skkn một số kinh nghiệm dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử ở trường thpt chuyên

  • Số trang: 61 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 19 |
  • Lượt tải: 0
nguyen-thanhbinh

Đã đăng 8358 tài liệu

Mô tả:

CỘN G HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ************ BẢN ĐĂNG KÍ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM 2015 TÊN SÁNG KIẾN: “MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY VÀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT CHUYÊN” Tác giả sáng kiến: NGUYỄN THÙY HƯƠNG Đơn vị công tác: Trường THPT Chuyên Lương Văn Tụy 1 CỘN G HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ************ BẢN ĐĂNG KÍ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM 2015 TÊN SÁNG KIẾN: “MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY VÀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT CHUYÊN” Tác giả sáng kiến: NGUYỄN THÙY HƯƠNG Chức danh: Giáo viên Học vị: Cử nhân Sư phạm Lịch sử Đơn vị công tác: Trường THPT Chuyên Lương Văn Tụy CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 2 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ************ BẢN ĐĂNG KÍ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM 2015 I. TÊN SÁNG KIẾN: “Một số kinh nghiệm dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử ở trường THPT Chuyên” - Lĩnh vực áp dụng: dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử II. TÁC GIẢ SÁNG KIẾN: - Họ và tên: Nguyễn Thùy Hương - Chức danh: Giáo viên môn Lịch sử - Học vị: Cử nhân sư phạm Lịch sử - Địa chỉ: Tổ Sử - Địa, trường THPT Chuyên Lương Văn Tụy, TP Ninh Bình - ĐT: 01254071980 - Đ/c mail: ngthuyhuonglvt@gmail.com III. NỘI DUNG SÁNG KIẾN 1. THỰC TRẠNG CỦA DẠY VÀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN LỊCH SỬ HIỆN NAY - Trong lịch sử dân tộc ta, vấn đề giáo dục, đào tạo nhân tài cho đất nước từ lâu đã đóng một vai trò quan trọng: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia…”. - Hiện nay, ở các tỉnh, thành phố trong cả nước đều có trường THPT chuyên. Điều đó thể hiện Đảng và Nhà nước ta từ Trung ương đến địa phương đều rất quan tâm đến công tác phát hiện, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước. Nhiệm vụ của các trường chuyên là vừa phải thực hiện giáo dục toàn diện, vừa phải bồi dưỡng để phát triển năng khiếu của học sinh về một môn học. Nhiệm vụ phát triển năng khiếu của học sinh về một môn học 3 nhất định nói ngắn gọn là công tác dạy chuyên và bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ chính trị thường xuyên, quan trọng của trường chuyên. - Công tác dạy chuyên và bồi dưỡng học sinh giỏi mà kết quả của nó là có những học sinh đạt kết quả cao trong các kì thi học sinh giỏi, nhất là cấp Quốc gia không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ của Bộ Giáo dục-Đào tạo, của các trường chuyên trên khắp cả nước mà còn là nhiệm vụ, trách nhiệm, là danh dự nghề nghiệp của mỗi giáo viên dạy chuyên. Chính vì vậy, giáo viên dạy chuyên thường phải chịu áp lực lớn về tỉ lệ, số lượng học sinh giỏi đạt giải Quốc gia. Ở tỉnh ta, giáo viên dạy lớp 10, 11 chuyên lại thêm áp lực nữa là đến khoảng đầu năm học lớp 11, học sinh phải được trang bị đầy đủ kiến thức của chương trình toàn cấp, để các em có thể tham dự và đạt giải trong kì thi Học sinh giỏi cấp Tỉnh lớp 12 và Học sinh giỏi cấp Quốc gia. - Trong bối cảnh hiện nay, vị trí xã hội của bộ môn Lịch sử còn rất thấp. Mặc dù môn Lịch sử có vai trò là “ôn cố tri tân” – học quá khứ để hiểu biết về hiện tại và hướng tới tương lai; đồng thời còn góp phần giáo dục đạo đức, nhân cách cho học sinh. Nhưng lâu nay, môn Sử vẫn bị coi là “môn phụ” ở các trường từ tiểu học đến trung học. Hơn nữa, một thực tế không ai có thể phủ nhận được là nếu học sinh chuyên tâm vào bộ môn Lịch sử thì cơ hội tốt đối với các em rất ít, trong khi các ngành khác như kinh tế, kĩ thuật… thì lại đảm bảo cho các em một tương lai tốt hơn. Vì vậy, nhiều học sinh dù có năng lực bộ môn nhưng không muốn thi vào lớp chuyên Sử, hoặc không muốn tham dự các kì thi học sinh giỏi môn Sử; những em lực học khá, giỏi mà chọn chuyên Sử do đam mê là rất hiếm; đa phần những học sinh chọn thi vào lớp chuyên Sử là do không đủ khả năng thi vào được các lớp chuyên khác. - Trong khung chương trình THPT của Bộ GD-ĐT số giờ dạy Lịch sử ít (lớp 10 có 1,5 tiết/tuần, lớp 11 có 1 tiết/tuần, lớp 12 có 1,5 tiết/tuần), mà đa phần là dạy lí thuyết, số tiết dạy thực hành hoặc làm bài tập lịch sử là không đáng kể. Bên cạnh đó, số lượng giáo viên Lịch sử của mỗi trường cũng ít, mỗi giáo 4 viên phải dạy nhiều lớp, nhiều khối, thời gian để đầu tư cho chuyên môn không nhiều. - Tài liệu tham khảo dành cho dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử không nhiều, thường tích hợp với ôn thi Đại học, Cao đẳng nên chỉ tập trung vào kiến thức Lịch sử lớp 12, mà trọng tâm là cung cấp kiến thức chứ chưa đề cập đến phương pháp dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi. - Giáo viên dạy chuyên và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử chủ yếu dạy bằng kinh nghiệm thực tiễn đúc rút từ năm này qua năm khác: trên cơ sở khung chương trình, mỗi giáo viên phải lựa chọn nội dung kiến thức, tự tìm tài liệu để phục vụ việc giảng dạy và ôn luyện. Thực tế đó gây khó khăn, lúng túng cho các giáo viên trẻ khi được phân công dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử. - Thời gian gần đây, Bộ Giáo dục-Đào tạo có nhiều thay đổi về qui chế thi tốt nghiệp THPT và thi Đại học, Cao đẳng, trong đó cho thí sinh được phép lựa chọn môn thi; Bộ Giáo dục-Đào tạo cũng đang xây dựng đề án Đổi mới Chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông, trong đó môn Lịch sử được tích hợp với một số môn khác thành môn khoa học xã hội. Thực tế đó càng tạo thêm nhiều khó khăn cho công tác dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử. 2. GIẢI PHÁP CŨ Công tác dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử ở trường chuyên có nhiệm vụ đào tạo những học sinh giỏi bộ môn Lịch sử, cần phải đạt được 3 mục tiêu chính: giáo dưỡng (cung cấp kiến thức khoa học, chính xác có căn cứ xác thực), giáo dục (đạo đức, phẩm chất, tư tưởng, tình cảm dựa trên cơ sở kiến thức khoa học) và phát triển kỹ năng (khả năng tư duy và hành động). Do đó, những học sinh giỏi bộ môn Lịch sử không chỉ là những học sinh nắm vững những kiến thức về khoa học Lịch sử mà cần phải hiểu sâu sắc và biết vận dụng những kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra trong cuộc sống. 5 Tuy nhiên, việc dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử lâu nay vẫn thường theo phương pháp truyền thống: - Giáo viên: + Việc giảng dạy chủ yếu là truyền đạt, cung cấp kiến thức, nên ít gây được hứng thú học tập bộ môn của học sinh. + Việc hướng dẫn học sinh kĩ năng học và làm bài có được chú ý nhưng chưa thường xuyên. + Việc sử dụng hệ thống câu hỏi thường tập trung trong giai đoạn ôn luyện, kiểm tra. - Học sinh: + Phải học nhiều kiến thức, phải nhớ nhiều sự kiện lịch sử theo lối thụ động, “học vẹt”, thày dạy gì – học nấy nên chưa có mục tiêu, động cơ, hứng thú học tập. + Không thường xuyên được hướng dẫn kĩ năng học và làm bài môn Lịch sử. + Đến giai đoạn ôn luyện mới được trang bị hệ thống câu hỏi nên choáng ngợp trước khối lượng kiến thức đồ sộ, dễ “học tủ”, “học lệch”. Công tác dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử theo phương pháp cũ có ưu điểm và hạn chế như sau: - Ưu điểm: bảo đảm được thời gian và tiến độ thực hiện chương trình dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn. - Nhược điểm: lệ thuộc nhiều vào kiến thức của người thày, không kích thích được khả năng tư duy, sáng tạo của học sinh; học sinh phải học nhiều kiến thức nên có tâm lí sợ, ngại học lịch sử. Để góp phần nâng cao chất lượng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử, trên cơ sở kinh nghiệm của bản thân đúc rút được qua quá trình được phân công dạy chuyên Sử và tham gia bồi dưỡng Học sinh giỏi Quốc gia môn Lịch sử, tôi chọn đề tài sáng kiến: “Một số kinh nghiệm dạy và bồi dưỡng Học sinh giỏi môn Lịch sử ở trường THPT chuyên”. Với sáng kiến này, tôi 6 muốn trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm của mình với các đồng nghiệp, nhất là với những giáo viên môn Lịch sử trẻ mới bước vào nghề; cũng như mong muốn góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giáo dục môn Lịch sử và tăng cường vị thế về giáo dục - đào tạo của tỉnh nhà. 3. GIẢI PHÁP MỚI 3.1. Nội dung giải pháp - Học tập nói chung và học tập môn Lịch sử nói riêng là quá trình tiếp thu kiến thức. Kiến thức lịch sử lại hết sức phong phú và tăng lên với mức độ nhanh chóng mà trường chuyên cũng không sao truyền thụ hết được. Trong khi đó, khả năng hiểu biết và khả năng học tập của con người trong cả cuộc đời là có giới hạn. Cho nên, việc dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường chuyên cần phải phù hợp với đặc điểm tâm lí và khả năng nhận thức của học sinh năng khiếu, cần phải làm cho quá trình học tập của học sinh trở thành quá trình chủ động, tiến dần lên quá trình tự nghiên cứu độc lập. - Nhiệm vụ tư duy đặt ra cho học sinh chuyên phần lớn là những vấn đề lịch sử tổng hợp, sâu rộng. Nếu không có vốn tri thức phong phú, không thông hiểu và nắm vững tri thức đã có, không có lòng ham muốn hiểu biết, ham muốn học hỏi, tự học, tự tìm tòi, suy nghĩ, và không biết vận dụng kiến thức đã học để hiểu biết kiến thức mới thì học sinh không thể nào giải quyết được các vấn đề đặt ra của đề thi học sinh giỏi các cấp. Muốn học sinh có những phẩm chất trên, vai trò của người thày là rất lớn. Trong những năm được phân công giảng dạy ở lớp chuyên Sử và tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi Quốc gia môn Lịch sử, tôi đã tiến hành một số biện pháp sau: 3.1.1.Biện pháp 1: Phải xác định mục tiêu, động cơ, hứng thú học tập lịch sử cho học sinh Về mặt lí luận, xác định mục tiêu học tập là hình thành ở học sinh động cơ đúng đắn trong học tập. Động cơ là động lực bên trong thúc đẩy trực tiếp con người ta hoạt động. Mọi động cơ của con người đều là biểu hiện của nhu 7 cầu. Nhu cầu lại được biểu hiện dưới nhiều hình thức như hứng thú, ý định, ham muốn… Hứng thú là biểu hiện tình cảm, nhu cầu nhận thức của con người. Nếu không có động cơ học tập, học sinh sẽ không có nhu cầu tham gia tích cực vào bài học, không có hứng thú với bài học, do đó không học tập một cách tích cực, không trở thành học sinh giỏi được. Để nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT nói chung, bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử nói riêng đầu tiên phải hình thành mục tiêu, động cơ, thái độ học tập đúng đắn, tức là người thày phải khơi gợi được hứng thú của học sinh đối với việc học tập, giúp các em xác định được mục đích học tập. Công việc này được thường được tiến hành trong bài mở đầu, tiết học đầu tiên, nhưng vẫn có thể được nhắc lại nhiều lần trong suốt quá trình giảng dạy ở lớp chuyên Sử. Động cơ học tập môn Lịch sử của học sinh có thể được tạo ra bằng sức mạnh của nội dung bài học: Trong bài mở đầu, giáo viên giúp học sinh thấy được mục đích, yêu cầu của học kì, của năm học, thậm chí của cả cấp học đồng thời biết nêu ra 1 số vấn đề trong nội dung học tập có khả năng khêu gợi hứng thú của học sinh, khiến các em khao khát muốn được biết, muốn được chiếm lĩnh tri thức, từ đó kích thích tính tích cực học tập của học sinh. Động cơ học tập môn Lịch sử của học sinh cũng có thể được tạo ra bởi quyền lợi được hưởng của các em (được khen thưởng, được cộng điểm hoặc được vào thẳng 1 số trường Đại học, Cao đẳng…). Thông qua việc được giáo viên truyền cảm hứng trong những tiết học đầu tiên, học sinh xác định được mục tiêu học tập, có động cơ, hứng thú trong học tập môn Lịch sử, đây chính là khởi nguồn để phát huy tính tích cực của các em trong học tập, là tiền đề để có học sinh giỏi bộ môn Lịch sử. (Xem thêm phụ lục trang 28, 29) 3.1.2.Biện pháp 2: Phải trang bị cho học sinh những kĩ năng học và làm bài thi môn Lịch sử 8 Lâu nay, theo quan niệm của nhiều người, thậm chí là của cả một bộ phận giáo viên dạy Lịch sử cho rằng: Lịch sử là một môn học thuộc, chỉ cần học nhiều, đọc nhiều, nhớ được nhiều sự kiện là trở thành người giỏi sử. Đây là một quan niệm khá sai lầm. Tất nhiên, khi học bất kì một môn học nào (Toán, Lí, Hóa, Văn, Ngoại ngữ, Lịch sử…), yếu tố đầu tiên là phải học thuộc, phải nhớ. Có nhớ công thức (của các môn tự nhiên), có nhớ tác phẩm văn học, có nhớ từ mới hoặc cấu trúc câu (của môn ngoại ngữ), có nhớ sự kiện và thời gian diễn ra sự kiện (của môn Lịch sử)… mới làm được bài kiểm tra, bài thi môn đó. Muốn trở thành học sinh giỏi môn Lịch sử, yếu tố cơ bản đầu tiên là phải học, phải nắm được các kiến thức lịch sử cơ bản. Tuy nhiên, không phải học sinh nào nhớ được nhiều sự kiện, thời gian cũng trở thành giỏi sử, cũng đạt giải cao trong các kì thi học sinh giỏi môn Lịch sử. Các đề thi học sinh giỏi, nhất là đề thi Quốc gia không đòi hỏi thí sinh học thuộc lòng sách giáo khoa để khi làm bài chép lại như sách mà phải: trên cơ sở nắm chính xác những sự kiện cơ bản, phù hợp với trình độ học sinh, các em phải hiểu và giải quyết được vấn đề thực tiễn đặt ra. Thực tế trong dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử nhiều năm, tôi thấy: muốn trở thành một học sinh giỏi môn Lịch sử, đi thi đạt giải cao, học sinh đó phải có những kĩ năng học và làm bài thi môn Lịch sử. Những kĩ năng này không phải tự nhiên, hoặc ngày một ngày hai mà có. Những kĩ năng ấy phải được các thày, cô giáo dạy Lịch sử hình thành, bồi dưỡng cho học sinh ngay từ khi các em học lớp 10 trường THPT chuyên. 3.1.2.a. Kĩ năng ghi nhớ kiến thức lịch sử Trí nhớ có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người cũng như trong học tập. Trong học tập Lịch sử, việc ghi nhớ kiến thức vô cùng quan trọng, là cơ sở để học sinh đi sâu, tìm hiểu bản chất của các sự kiện, hiện tượng lịch sử; là nền tảng để học tập bộ môn có hiệu quả, để vận dụng một cách linh hoạt trong học tập và cuộc sống. 9 Lịch sử là cụ thể. Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử luôn luôn gắn liền với một không gian, thời gian, nhân vật lịch sử nhất định, mà nếu tách các yếu tố đó ra thì chúng ta không thể hiểu Lịch sử được nữa. Vì vậy, trong quá trình dạy học, để học sinh có kĩ năng ghi nhớ kiến thức lịch sử hiệu quả, giáo viên cần hướng dẫn học sinh sử dụng và thường xuyên rèn luyện các cách nhớ, dạng nhớ khác nhau bao gồm: Ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng lịch sử điển hình; Ghi nhớ thời gian xảy ra sự kiện, hiện tượng lịch sử; Ghi nhớ không gian xảy ra sự kiện, hiện tượng lịch sử; Ghi nhớ nhân vật lịch sử. 3.1.2.a.1. Để ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng lịch sử điển hình: giáo viên có thể rèn luyện cho học sinh bằng các cách như: - Tìm ý, diễn đạt các ý bằng ngôn ngữ của mình để ghi nhớ: Sách giáo khoa thường viết theo một trật tự nhất định, trong đó gồm phần kiến thức trọng tâm – các “từ khóa”, và các “từ nối”. Để ghi nhớ được nội dung cơ bản, học sinh cần kết hợp đọc sách giáo khoa với bài giảng của giáo viên để tìm xem mỗi nội dung có mấy ý, chỉ cần nhớ ý chính mà không cần nhớ trọn vẹn câu chữ. Trên cơ sở các ý đã chọn, học sinh tự diễn đạt (nói hoặc viết) bằng ngôn ngữ của mình, không nhất thiết phải lặp lại câu chữ trong sách giáo khoa. Việc này không khó nhưng phải luyện nhớ nhiều lần. Ví dụ: Khi học diễn biến một cuộc cách mạng, nhất thiết phải chọn các mốc mở đầu, đỉnh cao, kết thúc, cùng một số sự kiện quan trọng khác để nhớ. Khi học ý nghĩa thắng lợi của mỗi cuộc cách mạng lớn đều có ý nghĩa dân tộc và ý nghĩa quốc tế; ý nghĩa dân tộc thường là kết thúc cái gì và mở ra cái gì, ý nghĩa quốc tế thường là tác động ra sao đến bạn và thù của lực lượng làm cách mạng. - So sánh sự kiện này với sự kiện khác tìm ra điểm tương đồng và khác biệt. Kĩ năng này giúp học sinh dễ nhớ kiến thức lịch sử. Kiến thức lịch sử có những cặp sự kiện khi mới tiếp xúc tưởng giống nhau, nếu học không kĩ, 10 rất dễ nhầm lẫn. Để phân biệt chúng, học sinh cần so sánh xem chúng giống và khác nhau ở những điểm nào. Ví dụ: So sánh Cương lĩnh tháng 2/1930 của Đảng Cộng sản Việt Nam với Luận cương tháng 10/1930 của Đảng Cộng sản Đông Dương, tìm ra điểm giống và khác nhau. - Ghi nhớ sự kiện, hiện tượng lịch sử qua hình ảnh. Đây là cách ghi nhớ rất có hiệu quả vì hình ảnh trực quan chọn lọc giúp học sinh dễ hiểu và tạo hứng thú học tập. Ví dụ: Sử dụng hình ảnh về nạn đói năm 1945 để khắc sâu kiến thức về tội ác của bọn thực dân – phát xít ở nước ta trước cách mạng tháng Tám 1945. - Sử dụng cách nói ví von để ghi nhớ sự kiện, hiện tượng lịch sử. Cách nói ví von, giàu hình ảnh tượng trưng, quy cái chưa biết về cái đã biết, biến cái phức tạp thành cái đơn giản giúp học sinh dễ nhớ kiến thức lịch sử. Ví dụ: Hồ Chí Minh ví chủ nghĩa đế quốc như “con đỉa có 2 vòi”. Tình thế nước ta sau cách mạng tháng Tám 1945 được ví như “ngàn cân treo sợi tóc”. 3.1.2.a.2. Để ghi nhớ thời gian xảy ra sự kiện, hiện tượng lịch sử: giáo viên cần hướng dẫn học sinh nhớ nhanh, nhớ lâu các mốc thời gian quan trọng, làm cơ sở để hiểu sâu sắc bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử; đồng thời hướng dẫn học sinh cách nhớ thời gian xảy ra sự kiện một cách hiệu quả như: - Nhớ thời gian xảy ra sự kiện, hiện tượng lịch sử một cách tương đối dựa theo đặc trưng của các mùa trong năm (xuân, hạ, thu, đông); nhớ theo thập niên, thế kỉ, thiên niên kỉ. Ví dụ: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào mùa xuân năm 1930. 11 Khởi nghĩa Yên Thế kéo dài gần 30 năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. - Nhớ thời gian một cách logic: Chọn một mốc thời gian quan trọng, dễ nhớ làm điểm tựa rồi suy ra các mốc thời gian khác (so sánh các con số, tìm ra quy luật để nhớ). Ví dụ: Năm 1427 khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, 100 năm sau nhà Mạc thành lập (1527), 200 năm sau chiến tranh Trịnh – Nguyễn bùng nổ (1627) Tháng 9 năm 1940, khởi nghĩa Bắc Sơn bùng nổ, 2 tháng sau (11/1940) khởi nghĩa Nam kì bùng nổ, 2 tháng sau (1/1941) binh biến Đô Lương bùng nổ. 3.1.2.a.3. Để ghi nhớ không gian xảy ra sự kiện, hiện tượng lịch sử: giáo viên có thể dùng các phương tiện như đồ dùng trực quan (bản đồ, lược đồ, sơ đồ lịch sử), tranh ảnh, phim tư liệu kết hợp với trình bày miệng (miêu tả, nêu đặc điểm...), và tài liệu tham khảo. (Xem thêm phụ lục trang 30) 3.1.2.a.4. Ghi nhớ nhân vật lịch sử: Lịch sử là do con người sáng tạo nên, hoạt động của các nhân vật góp phần cụ thể hóa quá trình phát triển của lịch sử, của một chế độ chính trị liên quan đến nhân vật đó. Để nhớ các nhân vật lịch sử, giáo viên hướng dẫn cho học sinh các cách: - Nêu đặc điểm của nhân vật, kết hợp với tranh ảnh chân dung. Ví dụ: Để nhớ nhân vật vua Hàm Nghi, cần kết hợp nhớ hình ảnh – chân dung vua, với sử dụng tài liệu tham khảo để nhớ tính cách, hoạt động của ông: trang phục giản dị như dân thường, vẻ mặt lộ rõ sự kiên nghị, tính tình khảng khái… Bixmac được mệnh danh là “Thủ tướng sắt và máu”… - “Lấy người nói việc”: Ví dụ: 12 C.Mác là linh hồn của Quốc tế thứ nhất. Ph.Ăngghen là linh hồn của Quốc tế thứ hai… - “Lấy việc nói người”: Ví dụ: Người đốt cháy tàu Pháp trên sông Nhật Tảo là Nguyễn Trung Trực. Người lấy thân mình lấp lỗ châu mai là Phan Đình Giót… - Nhớ câu nói nổi tiếng của nhân vật hay câu nói của những người nổi tiếng về một nhân vật nào đó. Ví dụ: Mác nói về Chie- “tên quỷ lùn khét tiếng tàn bạo”. Lý Thường Kiệt với kế “tiên phát chế nhân”. 3.1.2.b. Kĩ năng tư duy lịch sử Tư duy lịch sử là một hoạt động trí tuệ, giúp con người đi sâu vào nhận thức bản chất sự kiện, hiện tượng cũng như mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật giữa chúng. Đặc điểm của tư duy lịch sử là: biết miêu tả, khôi phục lại những sự kiện lịch sử quá khứ trên cơ sở tài liệu; nêu được nguyên nhân xuất hiện của sự kiện lịch sử; xác định được điều kiện, hoàn cảnh, những mối liên hệ của các sự kiện; nhận biết tính chất, ý nghĩa, bài học kinh nghiệm rút ra từ sự kiện, nhất là những sự kiện lớn, quan trọng; xác định động cơ hoạt động của những tầng lớp, tập đoàn, cá nhân trong lịch sử; biết liên hệ, so sánh, đối chiếu sự kiện lịch sử với đời sống và rút ra bài học kinh nghiệm... Theo tôi, đối với học sinh nói chung và học sinh chuyên Sử nói riêng, rất cần thiết phải được phát triển kĩ năng tư duy lịch sử. Có kĩ năng tư duy lịch sử, học sinh mới hiểu được lịch sử, say mê lịch sử và bộ môn Lịch sử mới phát huy hết giá trị “ôn cố tri tân” của mình - tức là học quá khứ để hiểu biết hiện tại và dự đoán tương lai. Nếu không có kĩ năng tư duy lịch sử thì đối với học sinh, môn Lịch sử chỉ là một môn học khô khan, chán ngấy, với một tập hợp khổng lồ những sự kiện cùng ngày, tháng khó học, khó nhớ, giá trị thực tiễn không cao. Khi học sinh không có hứng thú với bộ môn, chắc chắn 13 sẽ không có nhân tài, không có học sinh giỏi. Để phát triển kĩ năng tư duy lịch sử cho học sinh chuyên, tôi áp dụng các cách sau: tạo tình huống có vấn đề; sử dụng hệ thống câu hỏi; sử dụng bảng so sánh. 3.1.2.b.1. Tạo tình huống có vấn đề: giáo viên tạo tình huống có vấn đề thông qua bài tập nhận thức để tập trung sự chú ý của học sinh, làm nảy sinh khát vọng muốn tìm kiếm kiến thức mới để giải đáp những điều chưa biết. Ví dụ: Khi dạy bài Nhật Bản (cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX), giáo viên đưa ra bài tập nhận thức: “Vì sao trong khi hầu hết các nước châu Á đều bị biến thành thuộc địa (Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam) thì Nhật Bản là nước duy nhất giữ được độc lập và trở thành một nước tư bản hùng mạnh?”. Với bài tập nhận thức này, học sinh được đặt vào tình huống có vấn đề, tức là trong tư duy của các em xuất hiện xung đột, kiến thức cũ không giải quyết được, đòi hỏi phải huy động kiến thức mới để giải quyết, qua đó kích thích tư duy học sinh phát triển trong suốt bài học. 3.1.2.b.2. Sử dụng hệ thống câu hỏi trong dạy học lịch sử là một trong những biện pháp có ưu thế để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh. Tuy nhiên, giáo viên cũng cần đặt câu hỏi vừa sức với học sinh, tránh câu quá đơn giản chỉ cần trả lời “có”, “không” hoặc quá khó sẽ không có tác dụng phát triển tư duy cho học sinh. Trong quá trình dạy học, tôi luôn sử dụng các loại câu hỏi sau để tạo điều kiện cho phát triển tư duy học sinh: - Sử dụng loại câu hỏi “Vì sao…?”, “Nguyên nhân nào…?” (ở phần đầu của bài giảng): để kích thích học sinh tìm hiểu về sự phát sinh của các sự kiện, hiện tượng lịch sử. - Sử dụng loại câu hỏi “quá trình diễn biến, phát triển của sự kiện, hiện tượng lịch sử”: loại câu hỏi này tuy học sinh ít suy luận vì chủ yếu dựa vào sách giáo khoa để trình bày nhưng đòi hỏi các em phải có trí nhớ, phải biết nhiều về sự kiện, địa danh, nhân vật lịch sử. 14 - Sử dụng loại câu hỏi “Tìm hiểu kết quả, ý nghĩa…” của sự kiện, hiện tượng lịch sử (ở cuối bài): để buộc học sinh phải biết tổng hợp kiến thức, tự rút ra nhận định, đánh giá phù hợp với nội dung, diễn biến sự kiện. - Sử dụng loại câu hỏi “Nêu đặc trưng, bản chất…” của các hiện tượng lịch sử (ở cuối bài): loại câu hỏi này đòi hỏi học sinh phải biết phân tích, đánh giá, bày tỏ thái độ của mình đối với sự kiện, hiện tượng lịch sử. - Sử dụng loại câu hỏi “Đối chiếu, so sánh, các sự kiện, hiện tượng lịch sử này với sự kiện, hiện tượng lịch sử khác” (trong ôn tập), đòi hỏi học sinh phải đào sâu suy nghĩ để tìm ra điểm giống, khác nhau, từ đó thấy được bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử. (Xem thêm phụ lục trang 31, 32) 3.1.2.b.3. Sử dụng bảng so sánh Bảng so sánh là loại đồ dùng trực quan qui ước dùng để đối chiếu, so sánh nhằm làm rõ bản chất, đặc trưng của các sự kiện, hiện tượng lịch sử. Qua việc giáo viên sử dụng Bảng so sánh khi giảng dạy và hướng dẫn học sinh cách lập Bảng so sánh, kĩ năng tư duy đối sánh của học sinh được phát triển. Ví dụ: Lập Bảng so sánh chủ trương của Đảng thể hiện qua Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 7/1936 và tháng 11/1939. Hội nghị Ban chấp hành Chủ Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng trương Trung ương Đảng tháng 7/1936 11/1939 “Tịch thu ruộng đất của đế Nhiệm vụ Đánh đổ đế quốc và tay sai, làm quốc và địa chủ phản cách cho Đông Dương hoàn toàn độc mạng”, “Thành lập chính lập phủ dân chủ cộng hòa”Đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do, 15 dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình Kết hợp các hình thức công Phương Bí mật, bất hợp pháp khai-bí mật, hợp pháp-bất hợp pháp pháp Khẩu hiệu Đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình “Mặt trận thống nhất nhân dân Hình thức “Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương” -> 1938 mặt trận phản đế Đông Dương “ đổi thành “Mặt trận dân chủ Đông Dương “ Với việc sử dụng Bảng so sánh trên, giáo viên giúp học sinh nhận thức một cách sâu sắc hơn về sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng từ năm 1939, đồng thời học sinh thấy được sự khác nhau trong chủ trương của Đảng qua 2 thời kì cách mạng 1936-1939 và 1939-1945. 3.1.2.c. Kĩ năng sử dụng sơ đồ lịch sử và sơ đồ tư duy trong học tập Sơ đồ lịch sử là loại đồ dùng trực quan nhằm cụ thể hóa nội dung một sự kiện, hiện tượng lịch sử bằng những mô hình hình học đơn giản để học sinh nắm được những nét đặc trưng của mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử và nêu lên mối liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử. Sơ đồ tư duy là một hình thức “ghi chép” bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời những “từ khóa”, hình ảnh, đường nét, màu sắc với sự tư duy tích cực, nhằm tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa kiến thức của một chủ đề, hay cách giải của một dạng bài tập… So với sơ đồ lịch sử, sơ đồ tư duy mới được áp dụng ở Việt Nam từ năm 2006, nhưng vẫn chưa được ứng dụng đại trà trong dạy học Lịch sử. Để giúp học sinh học tập bộ môn hiệu quả, nhiều lần tôi đã sử dụng và hướng dẫn học sinh sử dụng 2 loại sơ đồ này. Tuy nhiên do điều kiện cơ sở 16 vật chất nhà trường, nên việc áp dụng sơ đồ tư duy vào dạy - học mới chỉ dừng lại ở cách lập truyền thống với hình thức đơn giản nhất (dùng phấn, bút, bảng, giấy). 3.1.2.c.1. Hướng dẫn học sinh kĩ năng xây dựng sơ đồ lịch sử và trình bày kiến thức qua sơ đồ: - Bước 1: Xây dựng khung sơ đồ. Xác định kiến thức cơ bản nhất và mã hóa bằng các hình quy ước để làm khung sơ đồ (sử dụng các hình vuông, hình chữ nhật hoặc hình tròn…) - Bước 2: Dùng mũi tên hoặc các đoạn thẳng để nối các khung sơ đồ với nhau để diễn tả mối quan hệ giữa nội dung các khung sơ đồ. - Bước 3: Hoàn thiện sơ đồ (đặt tên và kiểm tra độ chính xác của sơ đồ). - Bước 4: Tập trình bày kiến thức theo sơ đồ (theo chiều từ phải sang trái hoặc từ trên xuống dưới, từ đỉnh xuất phát đến đỉnh cuối), ngôn ngữ trình bày rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu; đánh giá, rút ra kết luận về mối quan hệ giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử qua sơ đồ. (Xem thêm phụ lục trang 33, 34) 3.1.2.c.2. Hướng dẫn học sinh kĩ năng xây dựng sơ đồ tư duy và trình bày kiến thức qua sơ đồ: - Bước 1: Xác định chủ đề trung tâm của sơ đồ, chọn cụm từ trung tâm (từ khóa) là tên của bài học hay một mục kiến thức... - Bước 2: Vẽ các nhánh cấp 1 là nội dung (ý chính) của chủ đề trung tâm, tùy theo số lượng nhánh cấp 1 mà bố trí cho cân đối xung quanh (từ khóa) trung tâm. - Bước 3: Vẽ bổ sung các nhánh cấp 2, cấp 3, cấp 4… Đây là sự lặp lại của Bước 2, các cụm từ ở nhánh cấp 1 bây giờ là (từ khóa) trung tâm của nhánh đó. - Bước 4: Hoàn thiện sơ đồ tư duy, đặt tên. - Bước 5: Trình bày kiến thức qua sơ đồ tư duy bằng ngôn ngữ rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu. (Xem thêm phụ lục trang 35) 3.1.2.d. Kĩ năng làm bài thi môn Lịch sử 17 Thi học sinh giỏi môn Lịch sử hiện nay vẫn theo hình thức thi tự luận. Mỗi đề thi học sinh giỏi có nhiều câu (cấp Quốc gia là 7 câu), trong một thời gian có giới hạn (180 phút), đòi hỏi học sinh phải có kĩ năng làm bài cơ bản mới giải quyết được đề thi. Kĩ năng làm bài gồm có: nhận thức đề, giải quyết đề, phân phối thời gian và trình bày bài. 3.1.2.d.1. Nhận thức đề và Giải quyết đề: Đề thi học sinh giỏi gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu hỏi có thể đề cập tới một hoặc nhiều sự kiện, vấn đề. Các câu hỏi trong đề thi học sinh giỏi nhất là cấp Quốc gia thường ra theo các cấp độ nhận thức như sau: - Nhận biết: thể hiện qua các động từ “nêu, liệt kê, trình bày, kể tên, nhận biết…”. - Thông hiểu: thể hiện qua các động từ “hiểu được, giải thích, phân biệt, tại sao, vì sao, hãy lí giải, vì sao nói, khái quát…”. - Vận dụng (bậc thấp): thể hiện qua các động từ “xác định, dự đoán, thiết lập liên hệ, phân biệt, chứng minh, phân tích, so sánh…”. - Vận dụng (bậc cao): thể hiện qua các động từ “bình luận, nhận xét, đánh giá, rút ra bài học lịch sử, liên hệ với thực tiễn…”. Để làm một bài thi tốt, cần phải xác định đúng đề bài, xác định đúng yêu cầu về kiến thức và kĩ năng làm từng câu hỏi: câu hỏi yêu cầu trình bày kiến thức nào, diễn ra trong thời gian nào, không gian nào; làm theo cách nào. Vì vậy, nếu không hiểu kĩ đề và không biết cách giải quyết các câu hỏi thì khó có thể bài bài đúng, đủ nội dung, không thể đạt kết quả cao. Để học sinh có những kĩ năng này, tôi thường rèn luyện cho các em theo các bước sau: - Nhất thiết phải dành thời gian từ 10-15 phút/ 180 phút của bài thi để đọc, hiểu những yêu cầu, nội dung cơ bản của mỗi câu hỏi là gì. - Gạch vào tờ đề hoặc viết ra giấy nháp những từ, cụm từ quan trọng, từ đó tìm ra những ý chính, vấn đề chính cần quan tâm; chú ý những thuật ngữ lịch sử có trong các “từ khóa” của đề. 18 - Sắp xếp các ý chính theo trình tự thời gian và tầm quan trọng để giải quyết vấn đề được đặt ra. Ví dụ: “Nêu lí do thành lập và vai trò của mặt trận thống nhất dân tộc đầu tiên của riêng Việt Nam do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo” (trích Đề thi học sinh giỏi Quốc gia năm 2011) Với câu hỏi này, mức độ kiến thức cần đạt được chỉ ở mức độ “nhận biết”, nhưng quan trọng nhất thí sinh phải xác định được mình phải trình bày về vấn đề nào thông qua các “từ khóa” của đề. Nếu học sinh không đọc kĩ đề, lại thêm tác động của tâm lí trong phòng thi, có thể học sinh sẽ chọn trình bày vấn đề “Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương”, dẫn tới làm bài lạc đề. Nhưng nếu các em đọc kĩ đề, gạch chân những “từ khóa” quan trọng (“lí do thành lập”, “vai trò”, “mặt trận thống nhất dân tộc đầu tiên của riêng Việt Nam”) thì sẽ xác định được vấn đề cần phải trình bày đó là “Mặt trận Việt Minh”. Tiếp đó, các em phải xác định được nội dung, phạm vi của kiến thức cần trình bày đó là: lí do thành lập và vai trò của “Mặt trận Việt Minh” đối với cách mạng Việt Nam; những nội dung khác không hỏi thì không trình bày để tiết kiệm thời gian. Như vậy, kĩ năng nhận thức đề và giải quyết đề rất quan trọng, tuy những thao tác này chỉ chiếm một khoảng thời gian nhỏ (10-15 phút) trong 180 phút làm bài, nhưng nó quyết định một nửa thành công của bài thi. 3.1.2.d.2. Phân phối thời gian Đề thi học sinh giỏi các cấp trong những năm gần đây thường có thời gian làm bài là 180 phút, với 7 câu hỏi, gồm cả phần lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam. Nếu học sinh không biết phân phối thời gian làm bài một cách chính xác thì không thể nào hoàn thành bài thi, không thể đạt kết quả cao được. 19 Để học sinh có được kĩ năng phân phối thời gian chính xác khi làm bài thi, trong quá trình ôn tập, tôi luôn rèn luyện cho các em: - Dành 10-15 phút để nhận thức đề. - Chia đều thời gian làm bài cho 7 câu: + Câu 2,5 điểm dành khoảng 20 phút/câu, câu 3 điểm dành khoảng 25 phút/câu. + Cố gắng hoàn thành các câu của bài thi trong thời gian đã xác định; không được phép dồn thời gian nhiều cho một câu, những câu còn lại thì thiếu thời gian để làm. Việc phân phối thời gian này không chỉ trên lí thuyết mà tôi yêu cầu học sinh áp dụng triệt để khi làm bài (ở nhà và trên lớp). Thông thường những học sinh đi thi đạt kết quả cao nhất là những em thực hiện đúng nguyên tắc phân phối thời gian nêu trên. 3.1.2.d.3. Trình bày bài Một bài thi có đạt kết quả cao hay không cũng phụ thuộc nhiều vào phần trình bày bài của thí sinh. Kĩ năng trình bày bài bao gồm: - Đảm bảo làm hết tất cả các câu, độ dài khoảng 11-12 trang giấy thi (khoảng 3 tờ). Sự kiện phải đúng, ý phải đủ hoặc tương đối đủ. - Tùy từng loại câu hỏi mà có cách trình bày phù hợp: chỉ viết phần mở bài đối với những câu có yêu cầu “bình luận”, hoặc “trình bày suy nghĩ”. Đa số các câu hỏi khác không cần thiết mở bài mà nên trình bày thẳng vào vấn đề. - Trong một câu của bài làm có thể gồm nhiều luận điểm, mỗi luận điểm cần phải có các luận cứ và dẫn chứng. Khi trình bày xong một luận điểm cần xuống dòng, tránh trường hợp viết liên tục kéo dài hàng trang, nhưng cũng tránh trường hợp gạch đầu dòng một cách tùy tiện. - Cách thức diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng, đúng ngữ pháp, không sai chính tả. - Bài làm cần thể hiện được cảm xúc của người viết một cách phong phú, đa dạng, hấp dẫn, có sức thuyết phục. - Chữ viết rõ ràng, sạch đẹp thì càng tốt. 20
- Xem thêm -