Skkn một số biên pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy – học ở trung tâm gdtx thiệu hóa.

  • Số trang: 15 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 31 |
  • Lượt tải: 0
nguyen-thanhbinh

Đã đăng 8358 tài liệu

Mô tả:

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Bước vào thế kỷ XXI nước ta đang đứng trước những thách thức vô cùng gay gắt. Thế giới đang tiến như vũ bão trên mặt trận sản xuất vật chất tinh thần, trong khi nước ta đang ở tình trạng lạc hậu về nhiều mặt. Đất nước ta sau hơn 20 năm đổi mới đã có những thành tựu vô cùng quan trọng, rất đáng tự hào, giáo dục phát triển, trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực được tăng lên. Song, nó cũng cho thấy sự yếu kém trên nhiều mặt, một trong những sự yếu kém đó là công tác quản lí giáo dục và đào tạo, mà khâu quan trọng nhất là quá trình tổ chức, chỉ đạo dạy và học. Như vậy, có thể nói rằng nâng cao chất lượng dạy học là vấn đề sống còn của quốc gia trong tình hình thế giới hiện nay, là điều kiện tiên quyết để hội nhập và phát triển. Trong điều kiện đó, mỗi nhà trường cần phải cố gắng hơn để hoà nhập với xu thế chung về sự nghiệp giáo dục của đất nước. Trung tâm GDTX Thiệu Hóa- một cơ sở giáo dục đào tạo cũng đã và đang cố gắng để tổ chức hoạt động dạy- học đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của xã hội và địa phương. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy và học? Xuất phát từ nhận thức trên tôi mạnh dạn chọn đề tài “Một số biện pháp quản lí nhằm nâng cao chất lượng dạy học BTVH ở trung tâm GDTX Thiệu Hóa”. 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: Đề xuất một số biện pháp quản lí nhằm nâng cao chất lượng dạy học BTVH ở trung tâm GDTX Thiệu Hóa. 3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: 3.1. Xác định cơ sở khoa học của việc quản lí nâng cao chất lượng dạy học. 3.2. Đánh giá thực trạng quản lí chất lượng dạy học BTVH của trung tâm GDTX Thiệu Hóa. 3.3. Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học BTVH tại trung tâm GDTX Thiệu Hóa. 4. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học BTVH của trung tâm GDTX Thiệu Hóa. 5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 5.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Dựa vào hệ thống các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục về chỉ đạo dạy học của trường phổ thông nói chung và trung tâm GDTX nói riêng. 5.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn : Quan sát, điều tra, tổng kết kinh nghiệm quản lý. 5.3. Nhóm phương pháp hỗ trợ: Bảng biểu, sơ đồ. PHẦN II: NỘI DUNG 1 Chương I CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUÁ TRÌNH QUẢN LÍ DẠY HỌC Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN: Đại hội VIII (1996) của Đảng đã khẳng định con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội của nước ta và nêu ra phương hướng, mục tiêu phấn đấu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 với cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ và phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần được nâng cao. Muốn vậy, cần phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mà “Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục- đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững" (Đảng cộng sản Việt Nam- Nghị quyết Trung ương II khóa VIII). Muốn phát huy nguồn lực con người, thì phải phát triển giáo dục và đào tạo, trong đó cần chú ý đến hệ thống giáo dục trung học phổ thông. Muốn vậy “Cần phải tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, và thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên để nâng cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề” (Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX). Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ XI tiếp tục khẳng định: "Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học; đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành. Đẩy mạnh đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội; xây dựnh xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời". 2. CƠ SỞ THỰC TIỄN: Qua hơn 20 năm đổi mới, giáo dục và đào tạo nước ta trong giai đoạn hiện nay tuy đã thu được những thành tựu đáng kể, song chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo đại trà còn thấp, đội ngũ giáo viên, giảng viên vừa thừa lại vừa thiếu về số lượng, bất cân đối về cơ cấu, năng lực và trình độ chuyên môn không đồng đều, phân bổ theo vùng miền chưa hợp lý… Trong bối cảnh chung đó của 2 ngành giáo dục, trung tâm GDTX Thiệu Hóa đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện nhiệm vụ và đạt được một số kết quả nhất định đáng khích lệ. Tuy nhiên, chất lượng dạy học vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của địa phương, chưa có nhiều học viên thi đỗ thẳng vào Đại học, Cao đẳng, tỷ lệ chất lượng đại trà tuy đã có những tiến bộ nhưng chưa thực sự ổn định. 3. CƠ SỞ PHÁP LÝ: Quản lý quá trình dạy học ở trường phổ thông nói chung và trung tâm GDTX nói riêng được thực hiện dựa trên cơ sở pháp lý và những quy định có tính pháp lý của Nhà nước đó là: - Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. - Luật giáo dục 2005: Điều 16 Chương I Luật giáo dục năm 2005 có ghi: “Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục. Cán bộ quản lý giáo dục phải không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và trách nhiệm cá nhân. Nhà nước có kế hoạch xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục nhằm phát huy vai trò trách nhiệm của cán bộ quản lý giáo dục, đảm bảo sự phát triển sự nghiệp giáo dục”. - Điều lệ trường phổ thông; Quy chế hoạt động của trung tâm GDTX,... Xuất phát từ những cơ sở nêu trên, để đáp ứng yêu cầu, mục tiêu giáo dục và đào tạo trong thời kỳ mới, việc nâng cao chất lượng dạy học ở trung tâm GDTX Thiệu Hóa là một nhu cầu cấp thiết. Chương II THỰC TRẠNG VIỆC QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC Ở TRUNG TÂM GDTX THIỆU HÓA - THANH HÓA Thiệu Hóa gồm 31 xã và thị trấn, là huyện vùng đồng bằng nằm ở phía Tây- Bắc Thành phố Thanh Hóa (trung tâm kinh tế- chính trị của tỉnh); tuy vậy, người dân lại chủ yếu sống bằng nghề nông, điều kiện kinh tế còn thấp, trung tâm GDTX Thiệu hóa nằm trên địa bàn Thị trấn Vạn Hà, được tách ra từ trung tâm GDTX- DN Thiệu Hóa vào tháng 6 năm 2007. Học viên của trung tâm chủ yếu là con em các hộ nông dân nghèo trong toàn huyện, được xét tuyển 100% theo nhu cầu học tập và ở tản mạn trong cả 31 xã, thị trấn trong huyện. 1. MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG THỜI GIAN QUA CỦA TRUNG TÂM GDTX THIỆU HÓA- THANH HÓA. 3 Ngay từ khi chia tách trung tâm GDTX- DN thành trung tâm GDTX và trung tâm DN hoạt động độc lập (tháng 6 năm 2007) cho đến nay trung tâm GDTX Thiệu Hoá đã cố gắng xây dựng được đội ngũ giáo viên tương đối đầy đủ về các bộ môn, năm 2007- 2008 trung tâm có 29 CBGV với 30 lớp 1390 học viên, đến năm học 2011- 2012 trung tâm có 27 CBGV với 13 lớp 572 học viên. *. Về cơ cấu đội ngũ CBGV của trung tâm được thống kê ở bảng sau: Biểu 1: Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên (năm học 2011-2012) Chủng loại Số lượng Tổng số Trình độ CM Biên chế Hợp đồng Tổng số 31 Quản lý 4 H. chính 1 27 4 1 4 0 0 4 0 0 27 4 4 G.viên 22 4 4 22 Trong đó: Toán Vật lý Hoá Sinh Văn Sử 26 5 3 2 2 6 2 4 1 2 1 6 2 Trên chuẩn 1 2 1 1 2 chuẩn 4 4 2 1 4 2 Loại hình ĐT Đảng Độ tuổi Viên chính quy tại chức <35 3550 >50 0 0 0 15 3 0 18 1 1 3 0 0 6 3 1 13 4 0 12 16 1 1 0 14 17 2 3 8 chưa chuẩn 5 3 2 2 6 2 5 3 1 2 4 2 (SL) 1 1 2 2 2 Địa GDCD Tin học Ng.ngữ 1 1 2 2 1 1 2 2 1 1 1 1 2 1 1 2 2 1 1 2 2 2 *. Về cơ cấu tổ chức trong trung tâm hiện nay: - Ban Giám đốc: gồm 4 đồng chí (1Giám đốc và 3 phó Giám đốc) - Tổ chuyên môn: Được cơ cấu hình thành 3 tổ (tổ Khoa học tự nhiên, tổ khoa học xã hội và tổ hành chính- giáo vụ). - Giáo viên đứng lớp: có 22 đồng chí (100% đạt chuẩn và trên chuẩn) - Nhân viên phục vụ: có 01 đồng chí - Có 01 chi bộ với 13 Đảng viên, 01 Công đoàn cở sở và 01 tổ chức Đoàn cơ sở vững mạnh, đã được Tổng LĐLĐ Việt Nam, Trung ương Đoàn tặng bằng khen. 4 *. Về học viên: Năm 2011-2012 có 572 học viên được biên chế thành 13 lớp - Khối 10: 5 lớp với 236 học viên - Khối 11: 5 lớp với 219 học viên - Khối 12: 3 lớp với 117 học viên. *. Về cơ sở vật chất: Trung tâm có ba dãy nhà hai tầng với 15 phòng học kiên cố (được trang bị đầy đủ bảng, bàn ghế, quạt mát, điện sáng cho giáo viên và học viên); 18 phòng chức năng khác với các trang thiết bị đảm bảo cơ bản nhu cầu phục vụ dạy và học của thầy và trò nhà trường, trong đó có 01 phòng học vi tính với 20 máy tính, 01 phòng thư viện- thiết bị với đầy đủ các trang thiết bị đã được trang cấp đã và đang được CBGV nhà trường tích cực khai thác sử dụng để nâng cao chất lượng của công tác dạy- học. *. Một số kết quả đã đạt được: Biểu 2: Kết quả xếp loại hạnh kiểm và học lực (năm học 2009-2010) Loại TS Giỏi (tốt) Khá Trung bình HV Học lực Hạnh kiểm 784 784 SL % SL % SL 532 67,9 198 25,2 52 1 0,1 53 6,8 666 % 6,7 84,9 Yếu Kém SL % 0 0 64 8,2 SL 0 0 % 0 0 Biểu 3: Chất lượng giờ dạy của giáo viên (2010-2011) STT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Môn TS tiết T.giảng Toán Vật lý Hóa học Sinh học Văn- T.Việt Lịch sử Địa lý GDCD Tin học Ngoại Ngữ Số lượng 67 15 5 6 3 12 6 5 3 6 6 Giỏi 45 11 2 3 3 6 6 2 3 6 3 Chất lượng dạy Khá Trung Bình 22 0 4 0 3 0 3 0 0 0 6 0 0 0 3 0 0 0 0 0 3 0 Yếu 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 Ghi Chú 5 2. NHỮNG TỒN TẠI TRONG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC Ở TRUNG TÂM GDTX THIỆU HÓA- THANH HÓA. Trong bối cảnh chung của nền giáo dục nước nhà, chất lượng GDĐT của trung tâm GDTX Thiệu Hóa đã và đang có nhiều khởi sắc và đã đạt được những kết quả nhất định nhưng vẫn còn nhiều thiếu sót tồn tại trong dạy và học. Đối với học viên: Nhìn chung đại đa số các em ngoan, lễ phép, nhưng bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận học sinh cá biệt, việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật chưa cao. Chất lượng học tập còn thấp, không đồng đều , gần như không có học viên được xếp loại giỏi về học lực, tỷ lệ học viên yếu kém còn cao; phần lớn học viên chưa xác định được động cơ học tập đúng đắn; số học viên đỗ thẳng vào các trường Đại học, Cao đẳng còn ít (trong năm học 20092010 chỉ có 11 em thi đậu ); đa số học viên còn khó khăn về kinh tế. Đối với giáo viên: Trình độ đào tạo, cơ cấu bộ môn, năng lực chuyên môn nghiệp vụ của một vài đồng chí chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Phương pháp sư phạm còn nhiều bất cập, việc soạn bài giảng chưa phù hợp với nhu cầu đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực. Công tác chỉ đạo chuyên môn đã được chú trọng song hiệu quả vẫn chưa cao. Việc sinh hoạt tổ chuyên môn nhiều lúc còn mang tính hình thức, chưa có tác dụng thiết thực. Qua các số liệu về cơ cấu đội ngũ nêu trên cho thấy: Đội ngũ giáo viên của Trung tâm còn tương đối trẻ, độ tuổi chủ yếu dưới 35 tuổi, là những giáo viên trẻ, khỏe, năng động, nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ. Song, do là những giáo viên mới ra trường nên kinh nghiệm giảng dạy còn hạn chế, phần lớn giáo viên còn lúng túng trong công việc soạn bài giảng theo phương pháp đổi mới; bên cạnh đó, dù tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn cao (chiếm 100%), song chất lượng giáo viên không đồng đều, nhiều giáo viên hệ cử nhân tại chức (chiếm 50% tổng số cán bộ giáo viên). Bên cạnh đó, dẫu cơ sở vật chất của trung tâm đã được trang cấp và sửa chữa bổ sung thường xuyên nhưng chắp vá vẫn hoàn chắp vá, chưa đáp ứng được yêu cầu, thiết bị dạy học còn thiếu, chất lượng thấp, chưa có phòng thí nghiệm, thư viện, phòng học bộ môn,... Những tồn tại nói trên về chất lượng học viên do nhiều nguyên nhân (cả khách quan lẫn chủ quan) song, có thể thấy một nguyên nhân trong đó là do nhiều bài giảng của giáo viên chưa cuốn hút học viên, chưa kích thích được khả năng tư duy, tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong học tập của các em. Từ đó vấn đề đặt ra với chúng tôi là: Làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học ở trung tâm GDTX Thiệu Hóa? Ban Giám đốc Trung tâm đã có những biện pháp quản lý để duy trì tốt hoạt động dạy học của Trung tâm, nhờ đó đã đạt được những thành công bước đầu, góp phần từng bước nâng cao chất lượng dạy học 6 trong trung tâm. 3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC Ở TRUNG TÂM GDTX THIỆU HÓA. Từ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn đã nêu trên, qua phân tích cụ thể thực trạng việc quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trung tâm GDTX Thiệu Hóa- Thanh Hóa. Chúng tôi nhận thấy một số vấn đề đặt ra cần được quan tâm tới là: 1. Hoàn thiện tổ chức chỉ đạo dạy học 2. Các biện pháp chỉ đạo xây dựng nền nếp dạy học 3. Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học và duy trì phong trào thi đua “Dạy tốt- Học tốt” 4. Sử dụng biện pháp kinh tế sư phạm và tâm lý xã hội trong trung tâm 5. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá trong chuyên môn Chương III MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC TẠI TRUNG TÂM GDTX THIỆU HÓA- THANH HÓA 1. BIỆN PHÁP TỔ CHỨC CHỈ ĐẠO DẠY HỌC. Hoạt động chuyên môn là hoạt động trọng tâm, là nhiệm vụ chính của Trung tâm mà cốt lõi là hoạt động dạy và học. Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ thì điều quan trọng trước tiên là phải có một bộ máy chuyên môn vận hành đồng bộ, hướng tới mục tiêu chung. Sự phân công, sắp xếp bộ máy đòi hỏi phải thể hiện tính dân chủ, tinh thần, trách nhiệm cao cụ thể như sau: - Phân công 1 phó Giám đốc phụ trách chuyên môn BTVH, là người giúp việc cho Giám đốc: + Xây dựng kế hoạch chỉ đạo chuyên môn và giám sát việc thực hiện quy chế chuyên môn của CBGV. + Trực tiếp chỉ đạo hoạt động dạy và học + Xây dựng kế hoạch phối hợp với các tổ chức đoàn thể + Tổ chức công tác bồi dưỡng giáo viên, tự bồi dưỡng cho giáo viên + Thường xuyên tổ chức các cuộc thi giáo viên giỏi, học viên giỏi - Phân công 1 phó Giám đốc phụ trách công tác Nề nếp, tuyển sinh, chỉ đạo việc thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" và cuộc vận động "Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo"; phụ trách chỉ đạo hoạt động ngoài giờ lên lớp - Phân công 1 đồng chí Phó giám đốc phụ trách các công tác: dạy nghề hướng nghiệp, liên kết đào tạo; công tác kiểm định chất lượng giáo dục; công tác 7 xây dựng CSVC trong trung tâm; chỉ đạo công tác xây dựng trường học có nếp sống văn hoá và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. - Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động của tổ chuyên môn. Căn cứ vào số lượng giáo viên, cơ cấu hai tổ dạy văn hóa thành 4 nhóm chuyên môn (Nhóm toán- lý; nhóm hóa- sinh; nhóm văn; nhóm sử- địa-GDCD). Mỗi tổ chuyên môn có một tổ trưởng do Giám đốc phân công- đó là những giáo viên có phẩm chất , năng lực, có chuyên môn vững vàng, có tinh thần, có ý thức tổ chức kỷ luật cao và 01 đ/c phó Giám đốc phụ trách. - Ngoài ra, sự phối hợp và phát huy sức mạnh của các tổ chức đoàn thể trong Trung tâm như: Đoàn Thanh niên, Công đoàn… cũng được thực hiện tốt. 2. CÁC BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG NỀ NẾP DẠY HỌC: 2.1. Ngay từ đầu năm học, trung tâm đã tổ chức nghiên cứu và chỉ đạo thực hiện các văn bản pháp quy, quy chế của Bộ, Sở như chỉ thị năm học, nhiệm vụ năm học...trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch, chỉ tiêu năm học của trung tâm. 2.2. Tổ chức chỉ đạo xây dựng và thực hiện các nội quy của trung tâm về nề nếp dạy học. 2.3. Tổ chức, chỉ đạo thực hiện các loại kế hoạch về dạy học đã được xây dựng, đặc biệt quan tâm đến các loại kế hoạch về : - Thực hiện chương trình kế hoạch các môn học: Cụ thể thực hiện đúng, đủ số tiết dạy theo phân phối chương trình quy định. - Xây dựng thời khóa biểu: Trước khi bước vào năm học mới, Giám đốc chỉ đạo cho bộ phận chuyên môn của trung tâm phân công chuyên môn và xây dựng thời khóa biểu. Riêng những lớp cuối cấp phải lựa chọn các giáo viên có năng lực, trình độ chuyên môn vững vàng giảng dạy. Việc xếp thời khóa biểu phải dựa trên những nguyên tắc sau: + Dựa trên kế hoạch dạy và học biên chế năm học do Bộ quy định. + Dựa trên đặc điểm của từng môn học và cơ cấu đội ngũ giáo viên các môn. + Dựa vào những điểm tâm lý và khả năng nhận thức của học viên đối với từng môn học trong từng thời điểm cụ thể. + Quan tâm nhất định đến những giáo viên có hoàn cảnh khó khăn như con nhỏ, nhà xa, cha mẹ già ốm yếu. - Nề nếp ra vào lớp của thầy, trò được thực hiện và duy trì nghiêm túc: + Để duy trì nề nếp, giờ giấc ra vào trường lớp, trung tâm đã: Giao cho giao khoán cho nhân viên bảo vệ trực trống, thực hiện đúng hiệu lệnh, đúng giờ quy định. + Việc theo dõi thực hiện nề nếp ra vào lớp của giáo viên và học viên phải được cập nhật hàng ngày. Đối với giáo viên: Giao cho tổ chuyên môn, giáo viên trực ban và BGĐ 8 theo dõi Đối với học viên: Giao cho Ban Nề nếp phối hợp với Ban Chấp hành Đoàn, đội cờ đỏ, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn theo dõi thường xuyên vào các tiết, các buổi học, để có biện pháp xử lý kịp thời. 2.4. Chỉ đạo việc thực hiện và kiểm tra các loại Hồ sơ sổ sách chuyên môn: - Đầu năm học, Ban giám đốc tổ chức học tập, hướng dẫn sử dụng các loại hồ sơ sổ sách theo quy định cho giáo viên, đặc biệt là cho giáo viên mới ra trường. - Ngoài 6 loại hồ sơ sổ sách theo quy định của Bộ GD&ĐT (Sổ kế hoạch giảng dạy; Giáo án; Sổ dự giờ; Sổ điểm cá nhân; Sổ giáo viên chủ nhiệm lớp; Sổ bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ), trung tâm còn quy định thêm một số loại hồ sơ khác như sổ ghi chép, sổ tích lũy nghiệp vụ sư phạm. - Hồ sơ sổ sách phải trình bày đẹp, khoa học, đúng quy định, có chất lượng chuyên môn cao. Hồ sơ chuyên môn phải hoàn thành đúng thời gian quy định. Kế hoạch giảng dạy hoàn thành sau 1 tháng vào học, lịch báo giảng phải treo vào đầu tuần học, đúng nơi quy định. Soạn giảng đầy đủ, đúng phân phối chương trình, khoa học, có chất lượng. Các loại hồ sơ khác cũng được yêu cầu hoàn thành đúng thời gian quy định. Ban Giám đốc, các tổ chuyên môn thường xuyên kiểm tra hồ sơ sổ sách, có nhận xét, đánh giá, rút kinh nghiệm và ký xác nhận, được thực hiện vào tuần thứ 3 của tháng. - Đổi mới cách soạn bài, cụ thể. + Cần lượng hóa các mục tiêu của bài dạy. Giáo viên phải nắm vững được nội dung cốt lõi, từng đơn vị kiến thức của bài, hiểu ý đồ của sách giáo khoa để xác định mục tiêu đã được lượng hóa. + Chia bài dạy thành từng đơn vị kiến thức và cần truyền đạt nội dung nào trên lớp, nội dung nào học viên tự học ở nhà. + Hoạch định các hoạt động của học viên trên lớp và hoạt động dạy tương ứng của giáo viên trong giờ lên lớp. + Xác định các thiết bị, phương tiện dạy học và tổ chức hoạt động dạy học 2.5. Theo dõi sổ ghi đầu bài, sổ điểm theo đúng quy định - Sổ đầu bài : Giao cho lớp phó phụ trách học tập giữ gìn trong giờ học. Đầu giờ học đến văn phòng nhận và sau buổi học nộp lại văn phòng (có ký nhận). Cuối tuần Ban giám đốc kiểm tra và ký xác nhận. - Sổ gọi tên, ghi điểm: Giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm ghi đầy đủ thông tin về học viên. Điểm kiểm tra phải được giáo viên bộ môn cập nhật thường xuyên vào tuần cuối tháng. Hàng tháng, Ban Giám đốc kiểm tra việc thực hiện và quản lý sổ, có ký xác nhận và đóng dấu. 2.6. Tổ chức chỉ đạo nền nếp sinh hoạt chuyên môn - Sinh hoạt Hội đồng Giáo dục một tháng/một lần (chiều thứ 7 tuần thứ nhất hàng tháng). 9 + Đánh giá hoạt động tháng trước của Hội đồng. + Thông qua kế hoạch tháng tới. - Tổ chức sinh hoạt các Hội đồng khác: Hội đồng thi đua khen thưởng, Hội đồng kỷ luật + Hội đồng thi đua khen thưởng: Được kiện toàn tổ chức ngay đầu năm học, sinh hoạt định kỳ 01 lần trong tháng để đánh giá, xếp loại thi đua của các tổ chức, cá nhân trong trung tâm hàng tháng, tổng hợp đánh giá xếp loại hàng kỳ và cả năm. + Hội đồng kỷ luật: Được tổ chức khi xét kỷ luật hoặc xóa kỷ luật đối với học viên theo từng vụ việc. - Sinh hoạt chuyên môn (theo tổ) hai lần một tháng (vào chiều thứ 7 tuần thứ 2 và tuần thứ 4 hàng tháng): Nội dung sinh hoạt và hình thức sinh hoạt phải thực sự góp phần đảm bảo kỷ cương nền nếp và nâng cao chất lương dạy học. Xác định rõ các nhiệm vụ của tổ chuyên môn: . Xây dựng hoạt động chung của tổ, hướng dân, xây dựng kế hoạch cá nhân của tổ viên theo kế hoạch dạy học, phân phối chương trình và các quy định của Bộ giáo dục và đào tạo. . Tổ chức bồi dưỡng thường xuyên chuyên môn nghiệp vụ, tổ chức kiểm tra đánh giá chất lượng thực hiện nhiệm vụ của giáo viên theo kế hoạch của trung tâm . Đề xuất khen thưởng kỷ luật đối với giáo viên. 3. CHỈ ĐẠO ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ DUY TRÌ PHONG TRÀO “ THI ĐUA DẠY TỐT- HỌC TỐT" Việc chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học và học là vấn đề khó khăn, phức tạp, nhưng lại là vấn đề cốt lõi trong quản lý quá trình dạy học. Nó là đòn đẩy trực tiếp để nâng cao chất lượng dạy học. Vì thế cải tiến phương pháp giảng dạy được tiến hành thường xuyên, liên tục cho từng đối tượng giáo viên và học viên, được thực hiện một cách nghiêm túc, khoa học theo quy trình cụ thể. Việc chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học cần phải gắn kết với phong trào “Thi đua dạy tốt- học tốt”, làm cho nó đi vào chiều sâu và có thêm những nhân tố mới đa dạng và phổ biến hơn. Đồng thời, chính nó lại làm cho phong trào thi đua “Dạy tốt- học tôt” loại bớt yếu tố phô trương bên ngoài và đi vào chiều sâu nâng cao chât lượng dạy học. Thực chất của phong trào là nền tảng và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt mọi hoạt động của Trung tâm. Mọi hoạt động của trung tâm đều phải hướng vào nó và cuối cùng phải đi tới Dạy tốt- Học tốt. Phong trào “Thi đua dạy tốt, học tốt” chính là sự tích hợp của các hoạt động chỉ đạo xây dựng nền nếp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học, cụ thể: + Xác định chủ điểm thi đua tháng, thi đua theo đợt: Tập trung vào các đợt 10 kỷ niệm ngày nhà giáo Việt Nam (20/11), ngày thành lập Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh (26/3), đề ra kế hoạch thi đua cụ thể, có tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm và khen thưởng. + Thông qua hội giảng thi giáo viên giỏi, giáo viên chủ nhiệm giỏi. + Đối với học viên : - Tổ chức duy trì nền nếp học tập, sinh hoạt tập thể. - Thi đua xây dựng tập thể học viên tiên tiến xuất xắc - Tổ chức thi đua học viên giỏi ở các khối lớp trong trường Trong việc tổ chức thực hiện các biện pháp hỗ trợ khác nhau nhằm nâng cao chất lượng dạy học và tổ chức phong trào thi đua “Dạy tốt- học tốt”, còn cần sử dụng các biện pháp kinh tế sư phạm và tâm lý xã hội. 4. SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP KINH TẾ SƯ PHẠM VÀ TÂM LÝ XÃ HỘI NHẰM GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC. - Phương pháp kinh tế: Là sự tác động một cách gián tiếp tới người bị quản lý bằng cơ chế kích thích lao động thông qua lợi ích vật chất để họ tích cực tham gia công việc chung và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao trong trường học, thực chất của phương pháp kinh tế là dựa trên sự kết hợp giữa việc thực hiện trách nhiệm của cán bộ giáo viên và học viên ghi trong quy chế hoạt động và những kích thích có tính đòn bẩy trong trung tâm. Do đó, trung tâm cần phải tổ chức hết sức khéo léo, hợp lý mới có tác đụng động viên, khích lệ và có tính giáo dục cao. + Xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn, định mức cho từng loại lao động trong trung tâm: (Chiến sĩ thi đua; Giáo viên giỏi cấp tỉnh; Giáo viên giỏi cấp cơ sở; Lao động tiên tiến xuất sắc; Giáo viên có học viên giỏi cấp tỉnh; Tổ lao động tiên tiến xuất sắc...) + Các tổ chuyên môn theo giỏi quá trình thực hiện và chấp hành quy chế chuyên môn, cuối mỗi đợt (tháng, học kỳ, năm học) sẽ tổ chức bình bầu, lựa chọn những cá nhân tiêu biểu, được tổ chức tín nhiệm đề nghị khen thưởng. Xử phạt đối với những giáo viên vi phạm. + Động viên khuyến khích về tinh thần, ưu tiên trong chế độ lương bỗng, có thế đãi ngộ với giáo viên giỏi, quan tâm đến giáo viên có hoàn cảnh khó khăn, có nhiểu rủi ro… Đảm bảo tính công khai, công bằng và dân chủ trong việc đánh giá phân loại giáo viên, xếp loại học tập giáo viên. - Phương pháp tâm lý học xã hội khác: Nhiệm vụ của phương pháp này là động viên tinh thần chủ động, tích cực, tự giác của mọi người, đồng thời tạo bầu không khí cởi mở, tin cậy lẫn nhau, giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ: Cụ thể: + Tìm hiểu tâm tư, nguyên vọng của cán bộ giáo viên, công nhân viên + Biết lắng nghe ý kiến, tâm tư và tin tưởng vào khả năng của họ. 11 + Động viên khen thưởng kịp thời, cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho cán bộ giáo viên. Được tiến hành vào các dịp 20/10, 20/11, 8/3, Tết nguyên đán, … tổ chức thăm hỏi động viên, giúp đỡ gia đình cán bộ giáo viên có hoàn cảnh khó khăn, trao thưởng cho học viên nghèo vượt khó, học viên mồ côi, khuyết tật,... 5. TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN Kiểm tra, đánh giá là một phạm trù của lý luận dạy học, được các nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn về giáo dục rất quan tâm, vì nó là chức năng rất quan trọng trong hoạt động giáo dục. Ban giám đốc có nhiệm vụ kiểm tra đánh giá thường xuyên, định kỳ theo kế hoạch một cách chặt chẽ. Trong kế hoạch phải đề ra chỉ tiêu phấn đấu : Mỗi năm phấn đấu kiểm tra toàn diện được 70-100% giáo viên, còn các giáo viên khác kiểm tra theo từng mặt, theo chuyên đề. Kế hoạch kiểm tra được cụ thể hóa vào từng thời điểm nhất định kiểm tra đột xuất, kiểm tra theo kế hoạch). Khi tiến hành kiểm tra có thể phối hợp với tổ trưởng chuyên môn để kiểm tra. Sau khi kiểm tra phải tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm. Việc đánh giá phải dựa trên các cơ sở: + Dựa vào chuẩn để đánh giá + Xác định kết quả, phân loại mức độ đạt được + Khen thưởng, kỷ luật + Rút bài học kinh nghiệm. Đánh giá là khâu cuối cùng của chức năng kiểm tra trong chu trình quản lý. Đánh giá giúp người quản lý tiên đoán kết quả xảy ra, làm liên kết trạng thái, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống. Việc đánh giá chinh xác, chân thực có tác dụng trực tiếp đến việc tìm nguyên nhân, đề ra giải pháp có hiệu quả. Chương IV MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐÃ THU ĐƯỢC Do vận dụng tốt một số biện pháp đã nêu trên nên trong các năm học gần đây trung tâm GDTX Thiệu Hoá đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, đó là: Biểu 4: Kết quả xếp loại hạnh kiểm và học lực (năm học 2010-2011) Mặt đánh giá, XL Học lực Hạnh kiểm TS HV 614 614 Giỏi (tốt) Khá Trung bình Yếu Kém SL % SL % SL % SL % SL % 0 0 60 9,8 504 82,1 50 8,1 0 0 425 69,2 148 24,1 39 6,4 2 0,3 0 0 12 - Kết quả thi TN BT THPT: đạt tỷ lệ 100% - Số học sinh thi đậu vào ĐH, CĐ là 16 em. Về kết quả xây dựng đội ngũ: Qua thao giảng, ở năm học 2011-2012 số giờ đạt loại Giỏi đã cao hơn so với năm học 2010- 2011 và những năm học trước: Biểu 5: Chất lượng giờ dạy của giáo viên: STT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Môn Tổng số Toán Vật lý Hóa học Sinh hocl Văn- T.Việt Lịch sử Địa lý GDCD Tin học Ngoại Ngữ Số lượng 65 8 7 6 4 17 7 3 3 3 7 Giỏi 54 7 4 5 4 2 7 2 3 3 5 Chất lượng dạy Khá Trung Bình 11 0 1 0 3 0 1 0 0 0 15 0 0 0 1 0 0 0 0 0 2 0 Yếu 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 Ghi Chú - Cuối năm học 2010- 2011 có 20/27 CBGV có SKKN với 11 SKKN được xếp loại A cấp trường, trong đó có 06 SKKN được xếp loại cấp tỉnh; Có 05 CBGV được công nhận là CSTĐ cấp cơ sở. - Nhiều năm liên tục trung tâm được Sở GD&ĐT công nhận là đơn vị tiên tiến hoàn thành xuất sắc nhiện vụ, được UBND tỉnh tặng Cờ Thi đua các năm học 2008- 2009; 2009- 2010; Năm học 2010- 2011 trung tâm được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen. PHẦN III: KẾT LUẬN 1. MỘT SỐ KẾT LUẬN. Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Con người là nguồn nhân lực, là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, chúng tôi thấy rằng việc nâng cao chất lượng dạy học là công việc cần thiết, cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Đây là việc làm thường xuyên, liên tục của mỗi trung tâm, của mỗi cá nhân cán bộ giáo viên trong ngành GD&ĐT, nó đòi hỏi mỗi cán bộ quản lý, giáo viên cần phải không ngừng học 13 hỏi, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ, năng lực quản lý, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển đất nước. Xuất phát từ cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn đã nêu trên, chúng tôi đưa ra 5 giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học tại trung tâm GDTX Thiệu hóa- Thanh Hóa, đó là: 1. Hoàn thiện bộ máy tổ chức chỉ đạo dạy học 2. Xây dựng hệ thống các biện pháp quản lý nền nếp dạy học. 3. Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học và duy trì phong trào thi đua "dạy tốt- học tốt" 4. Sử dụng các biện pháp kinh tế sư phạm và tâm lý xã hội nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học 5. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá trong hoạt động chuyên môn Với những kết quả nêu trên, cho thấy mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài đã hoàn thành. Mặc dù đề tài đã được nghiên cứu hết sức cẩn trọng và đề xuất được những biện pháp nêu trên, song vẫn còn rất nhiều biện pháp khác chưa có điều kiện đề cập tới, đó chính là hướng nghiên cứu tiếp tục của đề tài. Trên đây là Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học BTVH ở trung tâm GDTX Thiệu Hoá, với ý kiến chủ quan và một phần kinh nghiệm của cá nhân, chắc rằng đề tài vẫn còn có nhiều thiếu sót. Rất mong các ý kiến đóng góp xây dựng của các thầy cô, các bạn đồng nghiệp và bạn đọc. 2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo. - Ban hành nội dung chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên trung tâm GDTX nhằm đạo tạo cơ sở hành lang pháp lý để các trung tâm có kế hoạch bồi dưỡng nâng cao chất lượng dạy học. - Có chỉ tiêu biên chế chi tiết cụ thể về giáo viên của từng loại trung tâm để tăng cường hơn nữa tính tự chủ của các trung tâm. 2.2. Đối với UBND tỉnh và Sở GD&ĐT Thanh Hóa. - Có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng giáo viên hệ cử nhân tại chức đang công tác tại các trung tâm GDTX cấp huyện. - Có chính sách ưu đãi nhằm thu hút giáo viên về công tác tại các trung tâm GDTX. - Tổ chức các hội nghị chuyên đề trao đổi học tập kinh nghiệm giữa các trung tâm trong và ngoài tỉnh. - Tăng cường hơn nữa thiết bị dạy học cho các trung tâm GDTX cấp huyện trong tỉnh./. Người thực hiện Nguyễn Thanh Minh 14 15
- Xem thêm -