Skkn một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn toán lớp 2

  • Số trang: 37 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 19 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

Trường tiểu học Hương Sơn Phòng GD &ĐT Quang Bình CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 2” I.SƠ YẾU LÍ LỊCH -Họ và tên: HOÀNG THỊ HỒNG Bí danh:không Nữ. -Ngày sinh:21/4/1976 -Dân tộc: Kinh Tôn giáo:không -Quê quán: Hồng Phúc – Ninh Giang – Hải Dương -Chỗ ở hiện nay: Hùng An – Bắc Quang – Hà Giang. - Trình độ văn hóa:12/12. - Trình độ chuyên môn: 9+3. -Ngày bắt đầu tham gia công tác:01/9/1996. -Ngày gia nhập các đoàn thể: Đảng: 06/5/2010 Đoàn TNCS Hồ Chí Minh:26/3/1991 - Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác:Trường Tiểu học Hương Sơn. II.MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI -Nhằm nâng cao chất lượng học toán ở lớp 2. 1 Hoàng Thị Hồng – Trường Tiểu Học Hương Sơn Trường tiểu học Hương Sơn Phòng GD &ĐT Quang Bình -Rèn kỹ năng sử dụng ngôn ngữ và kỹ năng tính toán cho học sinh khi học toán. -Định hướng cho học sinh hoạt động theo hướng tích cực (lấy học sinh làm trung tâm). -Giúp giáo viên xác định được tầm quan trọng của phương pháp dạy giải toán và sử dụng hợp lý phương pháp dạy giải toán cho học sinh. III.NHỮNG CĂN CỨ VỀ MẶT LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỀ TÀI 1.CƠ SỞ LÍ LUẬN Môn toán là một trong những môn học có vị trí quan trọng ở bậc Tiểu học. Trong những năm gần đây, xu thế chung của thế giới là đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học. Một trong những bộ phận cấu thành chương trình toán Tiểu học mang ý nghĩa chuẩn bị cho việc học giải toán có lời văn ở các cấp học trên, đồng thời giúp học sinh những hiểu biết cần thiết khi tiếp xúc với những “tình huống toán học” trong cuộc sống hàng ngày. Trong nhiều năm học, tôi đã dạy lớp 2. Tôi nhận thấy việc dạy giải toán có lời văn trong chương trình toán ở bậc tiểu học nói chung và ở lớp 2 nói riêng là hết sức cần thiết, ở lứa tuổi học sinh tiểu học, tư duy của các em còn hạn chế về mặt suy luận, phân tích việc dạy “giải toán có lời văn” ở Tiểu học sẽ góp phần giúp học sinh phát triển được năng lực tư duy, khả năng quan sát, trí tưởng tượng cao và kỹ năng thực hành giải toán có lời văn đặt nền móng vững chắc cho các em học tốt môn toán sau này ở cấp học phổ thông cơ sở. Việc dạy giải toán có lời văn lớp 2 như thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất phát huy được tính chủ động tích cực của học sinh phù hợp với yêu cầu đổi mới của phương pháp dạy học đó là nội dung tôi muốn đề cập tới trong đề tài. 2. CƠ SỞ THỰC TIỄN Trong môn Toán ở Tiểu học, việc giải các bài toán có lời văn chiếm một vị trí rất quan trọng vì : Các khái niệm, các quy tắc về Toán nói chung đều được giảng dạy thông qua các ví dụ bằng số và giải các bài toán, phần lớn nội dung trong sách giáo khoa là dành cho các bài toán, kết quả học tập môn Toán của học sinh thường được đánh giá qua kỹ năng giải các bài toán có lời văn. 2 Hoàng Thị Hồng – Trường Tiểu Học Hương Sơn Trường tiểu học Hương Sơn Phòng GD &ĐT Quang Bình Giải toán giúp học sinh hình thành, củng cố vận dụng kiến thức, kỹ năng về Toán. Đồng thời qua giải toán, giáo viên dễ dàng phát hiện những ưu điểm hoặc những thiếu sót trong kiến thức, kỹ năng của học sinh, để giúp các em phát huy ưu điểm khắc phục thiếu sót. Việc giải toán còn có tác dụng giáo dục các em ý chí vượt khó, đức tính cẩn thận, chu đáo, làm việc có kế hoạch. Thói quen tự kiểm tra công việc của mình, có óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo, phát triển tư duy. Qua nhiều năm thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học và việc thay sách giáo khoa lớp 2, tôi đã thấy được ưu điểm khi dạy môn Toán dạng bài : giải toán có lời văn, học sinh đọc được đề bài, tóm tắt được bài toán dễ dàng và tự phát huy tính tích cực, tìm tòi ngay đáp số bài toán và biết trình bày bài giải một cách hoàn chỉnh. Mặt khác, nhằm từng bước kiện toàn phương pháp dạy toán có lời văn đạt được hiệu quả cao hơn. Vì vậy, tôi chọn đề tài “Một số phương pháp nâng cao chất lượng môn toán lớp 2”. IV.NỘI DUNG VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI. 1. MỤC TIÊU CỦA GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN : */ Kiến thức : Học sinh giải được bài toán có lời văn theo các dạng : -Đêà bài cho sẵn. -Dựa vào tóm tắt. -Sơ đồ đoạn thẳng. */ Kỹ năng : -Học sinh nhận biết các bài toán có lời văn theo các dạng ở trên và biết tìm hiểu đề bài (thông qua cá nhân hoặc thảo luận nhóm). -Học sinh biết vận dụng tìm tòi lời giải cho bài to¸n có lời văn (qua cá nhân hoặc nhóm). -Học sinh giải được bài toán có lời văn, lời giải hợp lý và kết quả đúng với yêu cầu của đề bài toán. 2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ : Trong những năm học vừa qua, dựa trên cơ sở bài thi của học sinh. Nhìn chung, kết quả giải bài toán có lời văn đạt tỉ lệ rất thấp, lí do đạt như vậy là do các bài toán có lời văn các em chưa hiểu, chưa nắm vững cách tiến hành thực hiện giải toán nên các em có thái độ lơ là và chán nản đối với những bài toán có lời văn. Đặc biệt là ở lời giải, các em lĩng túng không biết đặt như thế nào cho đúng, không xác định được yêu cầu của đề bài hỏi gì? Vì vậy dẫn đến chất lượng học tập của các em còn hạn chế. Nên cần có biện pháp khắc phục. 3.CÁC BIỆN PHÁP 1/ Giải toán là một hoạt động trí tuệ khó khắn, phức tạp : Giải toán không phải chỉ dựa vào mẫu để giải mà đòi hỏi phải biết vận dụng các kỹ năng linh hoạt, sáng tạo. Đòi hỏi học sinh phải nắm được những khái niệm cơ bản khi giải toán có lời văn. 3 Hoàng Thị Hồng – Trường Tiểu Học Hương Sơn Trường tiểu học Hương Sơn Phòng GD &ĐT Quang Bình Nắm vững các bước giải toán có lời văn và biết vận dụng kết hợp mẫu, khái niệm và tính sáng tạo. *Từ những vấn đề trên, ta thấy hoạt động giải toán có lời văn là một hoạt động phức tạp và khó khăn, không đơn giản. 2/ Phương pháp giảng dạy : Có nhiều phương pháp như : Hỏi đáp, quan sát, trò chơi… nhưng chủ yếu là phương pháp lấy học sinh làm trung tâm. Có nhiều phương pháp nhưng không có phương pháp nào là tối ưu cả, nên trọng tâm dạy học người giáo viên phải biết kết hợp nhiều phương pháp một cách linh hoạt và sáng tạo thì mới đạt hiệu quả cao. 3/ Các bước giải toán có lời văn ở lớp 2 : a.Nghiên cứu đề bài : -Tìm hiểu bài : +Cho học sinh đọc đề bài toán nhiều lần. +Xác định yêu cầu của đề bài toán (cái đã cho và cái cần tìm). -Trình bày số liệu đã tìm được. Ví dụ : +Bài toán cho biết gì ? +Bài toán hỏi (yêu cầu tìm) gì ? b.Thiết lập các mối quan hệ của bài toán : -Học sinh thảo luận, tóm tắt nội dung bài toán. -Định dạng phép tính và kết quả của phép tính. c.Lập kế hoạch giải bài toán. Học sinh thảo luận tìm tòi lời giải cho bài toán. d.Tiến hành giải. -Sau khi tiến hành thiết lập các mối quan hệ và tiến hành giải toán. -Có thể chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ thảo luận đặt lời giải và phép tính cho bài toán có lời văn. -Đưa ra đáp số cho bài toán. g.Kiểm tra kết quả của bài toán. -Sau khi đưa ra kết quả, học sinh cần phải kiểm tra lại đề bài và kết quả theo dự kiện đề toán. -Thay thế kết quả và thử lại theo dự kiện. 4/ Các ví dụ minh họa. a.Dạng đề cho sẵn : Ví dụ 1 : Một cửa hàng buổi sáng bán được 12 xe đạp, buổi chiều bán được 20 xe đạp. Hỏi hai buổi cửa hàng bán được tất cả bao nhiêu xe đạp ? (Sách giáo khoa Toán 2, trang 5). -Bước 1 : Học sinh đọc đề bài, xác định cái đã cho và cái cần tìm (Đề cho biết gì ? Hỏi gì ? -Bước 2 : Lập kế hoạch giải. 4 Hoàng Thị Hồng – Trường Tiểu Học Hương Sơn Trường tiểu học Hương Sơn Phòng GD &ĐT Quang Bình +Muốn biết hai buổi cửa hàng bán được bao nhiêu xe đạp ta làm gì ? +Tìm lời giải (dựa vào câu hỏi của bài toán), đơn vị. -Bước 3 : Trình bày bài giải. Hai buổi cửa hàng bán được số xe đạp là : 12 +20 = 32 (xe đạp) Đáp số : 32 xe đạp. -Bước 4 : Kiểm tra đánh giá cách giải. +Xem lại dự kiện và yêu cầu của bài toán. +Lấy kết quả làm điều kiện để so sánh (32 lớn hơn các số đã cho là 12 và 20 có thể là hướng đúng, vì tất cả nghĩa là phải cộng lại …). *Lưu ý : Cần tóm tắt đề theo 1 hoặc 2 dạng sau : Dạng 1 Dạng 2 Buổi sáng : 12 xe đạp 12 Buổi chiều : 20 xe đạp 20 ? Cả hai buổi : ? xe đạp b.Dạng đề dựa vào tóm tắt. Ví dụ 2 : Giải toán theo tóm tắt sau : Gói kẹo chanh : 28 cái Gói kẹo dừa : 26 cái Cả hái gói : ? cái. (Sách giáo khoa Toán 2, trang 22). -Bước 1 : Đọc tóm tắt, xác định cái đã cho, cái cần tìm. -Bước 2 : Lập kế hoạch giải (như ví dụ 1). -Bước 3 : Tiến hành giải và kiểm tra. c /Dạng đề tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng: Ví Dụ 3 : Giải toán theo tóm tắt sau : Đội 1 : 15 người Đội 2 : 2người } ? người (Sách giáo khoa Toán 2 trang 25) -Bước 1 : Xác định dự kiện đề toán, tìm cái đã cho và cái cần tìm. -Bước 2 : Lập kế hoạch giải (tìm lời giải, phép tính, đơn vị). -Bước 3 : Tiến hành giải. Đội hai có số người là : 15 + 2 = 17 (người) Đáp số : 17 người. -Bước 4 : Kiểm tra kết quả (như các ví dụ trước). V.NHỮNG GIẢI PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN -Vận dụng các kỹ năng linh hoạt, sáng tạo. Đòi hỏi học sinh phải nắm được những khái niệm cơ bản khi giải toán có lời văn. 5 Hoàng Thị Hồng – Trường Tiểu Học Hương Sơn Trường tiểu học Hương Sơn Phòng GD &ĐT Quang Bình -Có nhiều phương pháp như : Hỏi đáp, quan sát, trò chơi… nhưng chủ yếu là phương pháp lấy học sinh làm trung tâm. *.Nghiên cứu đề bài : *.Thiết lập các mối quan hệ của bài toán : *.Lập kế hoạch giải bài toán. *.Tiến hành giải. *.Kiểm tra kết quả của bài toán. VI.KẾT QUẢ THỰC HIỆN Trước khi áp dụng đề tài kết quả thi khảo sát đầu năm học 2011 -2012 là: Lớp Sĩ số 2B 9 Khảo sát đầu năm 9/9 Khá 0 Trung bình 5 Yếu 4 Qua các lần kiểm tra cuối kì I trong năm học 2011 - 2012, số lượng học sinh lớp 2 điểm trường thôn Nghè số lượng đạt điểm trung bình, khá tăng đáng kể, cụ thể như sau : Lớp Sĩ số 2B 9 Kiểm tra cuối kì I 9/9 Khá Trung bình 2 6 YÕu 1 Qua các lần kiểm tra gi÷a kì II trong năm häc 2011 - 2012, số lượng học sinh lớp 2 điểm trường thôn Nghè số lượng đạt điểm trung bình, khá tăng đáng kể, cụ thể như sau : Lớp Sĩ số 2B 9 Kiểm tra giữa kì II 9/9 Khá Trung bình 4 5 YÕu 0 VII.BÀI HỌC KINH NGHIỆM. -Trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp học và việc thay sách giáo khoa lớp 2 với môn Toán (giải toán có lời văn) cần lưu ý sau : +Xây dựng nề nếp học tập cho học sinh ngay từ đầu, phân loại học sinh theo đúng trình độ và có kế hoạch bồi dưỡng kịp thời. +Nghiên cứu, tìm tòi phương pháp áp dụng đúng với nội dung bài học và đúng với trình độ của học sinh. +Kết hợp ba môi trường giáo dục, tạo niềm tin say mê học Toán giải toán của học sinh. 6 Hoàng Thị Hồng – Trường Tiểu Học Hương Sơn Trường tiểu học Hương Sơn Phòng GD &ĐT Quang Bình +Phát huy được tính tích cực của học sinh, học sinh tự tìm hiểu và khắc sâu kiến thức bài học. VIII.KẾT LUẬN. Trên đây là Một số phương pháp nâng cao chất lượng môn toán lớp 2 , tôi đã áp dụng những cách dạy đó nhằm nâng cao chất lượng học toán cho lớp mà tôi chủ nhiệm. Bước đầu các em đã thực sự phấn khởi, tự tin khi học toán. Đối với tôi, cách dạy trên đã góp phần không nhỏ vào việc dạy học và giáo dục các em. Bài viết này chắc chắn còn nhiều thiếu sót, tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến nhiệt tình của Ban Giám hiệu, tổ Chuyên môn và các bạn đồng nghiệp để tôi có được các phương pháp dạy Toán lớp 2 ngày càng tốt hơn. Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn! Hương Sơn, ngày25 tháng 4 năm 2012 Người thực hiện Hoàng Thị Hồng 7 Hoàng Thị Hồng – Trường Tiểu Học Hương Sơn Trường tiểu học Hương Sơn Phòng GD &ĐT Quang Bình Nhận xét của tổ khối chuyên môn: ....................................................................................................................................... ....................................................................................................................................... ....................................................................................................................................... ................................................................................................................................... Phê duyệt của thủ trưởng đơn vị: ....................................................................................................................................... ....................................................................................................................................... ....................................................................................................................................... ................................................................................................................................... Xác nhận của phòng GD&ĐT ....................................................................................................................................... ....................................................................................................................................... ....................................................................................................................................... ................................................................................................................................... 8 Hoàng Thị Hồng – Trường Tiểu Học Hương Sơn Trường tiểu học Hương Sơn Phòng GD &ĐT Quang Bình Xác nhận của HĐTĐKT huyện ....................................................................................................................................... ....................................................................................................................................... ....................................................................................................................................... .................................................................................................................................. 9 Hoàng Thị Hồng – Trường Tiểu Học Hương Sơn Trường tiểu học Hương Sơn Phòng GD &ĐT Quang Bình PHẦN I: MỞ ĐẦU I. Lý do chọn sáng kiến Một trong những mục tiêu quan trọng của môn Đạo đức ở Tiểu học là hình thành và rèn luyện kĩ năng, hành vi đạo đức cho học sinh. Đạo đức là một mặt quan trọng của nhân cách “ cái gốc’ của con người. Giáo dục đạo đức là một bộ phận quan trọng trong quá trình sư phạm, đặc biệt là ở Tiểu học, giúp các em ứng xử đúng đắn qua các mối quan hệ đạo đức hàng ngày. Có thể nói, nhân cách của học sinh Tiểu học thể hiện trước hết qua bộ mặt đạo đức. Điều này thể hiện qua thái độ cư xử đối với ông bà, cha mẹ, anh chị em ruột trong gia đình, với thày cô giáo, bạn bè với cộng đồng xã hội, qua thái độ học tập, rèn luyện...Đó là cơ sở quan trọng của việc hình thành những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức cao hơn ở Trung học cơ sở. Ở thời đại nào cũng vậy, người ta coi trọng văn hóa, đồng thời với coi trọng học làm người. Trong chương trình tiểu học mới, môn Đạo đức đã trở thành một môn học chính thức cũng như các môn học khác như: Toán, Tiếng việt, Tự nhiên và xã hội ...Môn Đạo đức có nhiệm vụ tạo dựng cơ sở ban đầu, giúp học sinh xây dựng ý thức đạo đức, bồi dưỡng tình cảm, hình thành những chuẩn mực hành vi phù hợp với các quan hệ: bản thân, gia đình, nhà trường, cộng đồng, xã hội và môi trường tự 10 Hoàng Thị Hồng – Trường Tiểu Học Hương Sơn Trường tiểu học Hương Sơn Phòng GD &ĐT Quang Bình nhiên. Giáo dục đạo đức nhằm giúp học sinh: -Về nhận thức: Học sinh có hiểu biết ban đầu về một số chuẩn mực, hành vi đạo đức và pháp luật phù hợp với lứa tuổi học sinh Tiểu học trong các mối quan hệ của các em với những người thân trong gia đình; với bạn bè, với công việc của lớp của trường, với Bác Hồ... - Về kĩ năng, hành vi: Học sinh được từng bước hình thành kĩ năng bày tỏ ý kiến, thái độ của bản thân đối với những quan niệm, hành vi, việc làm có liên quan đến các chuẩn mực đã học; kĩ năng lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp chuẩn mực trong các tình huống đơn giản, cụ thể trong cuộc sống. - Về thái độ: Học sinh bước đầu hình thành thái độ, trách nhiệm đối với lời nói, việc làm của bản thân, tự tin vào khả năng của bản thân, yêu thương ông bà, cha mẹ, anh chị em và bạn bè... Giáo dục đạo đức có từ rất xa xưa nhưng cho đến nay đó vẫn là vấn đề khó khăn, phức tạp; nhất là giảng dạy Đạo đức theo chương trình mới, còn nhiều điều giáo viên cần phải thông tỏ mới có thể dạy tốt được. Qua đó giúp bản thân nâng cao về phương pháp giảng dạy, đồng thời giúp các em học sinh có nhân cách tốt để trở thành một con người toàn diện là người có ích cho đất nước. Với những lí do trên tôi đã mạnh dạn chọn sáng kiến kinh nghiệm: Dạy – Học Đạo đức ở Tiểu học theo chương trình mới. II. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu việc Dạy – Học Đạo đức ở Tiểu học theo chương trình mới tại Trường tiểu học Thống Nhất – Thành phố Thái Nguyên. Từ đó tìm ra giải pháp để nâng cao chất lượng giờ Đạo đức. III. Nhiệm vụ nghiên cứu 1. Tìm hiểu vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Đạo đức ở tiểu học. 2. Tìm hiểu thực trạng việc dạy Đạo đức ở trường tiểu học Thống Nhất Thành phố Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên. - Mối quan hệ giữa môn Đạo đức với các môn học khác. - Những ưu, nhược điểm và đồ dùng chuẩn bị cho việc Dạy - Học môn Đạo đức. - Những hạn chế của giáo viên và học sinh khi dạy môn Đạo đức. 3. Đề xuất những kinh nghiệm dạy Đạo đức - Các nguyên tắc dạy Đạo đức. - Những giải pháp để nâng cao chất lượng giờ Đạo đức. - Kinh nghiệm dạy Đạo đức ở Tiểu học. 11 Hoàng Thị Hồng – Trường Tiểu Học Hương Sơn Trường tiểu học Hương Sơn Phòng GD &ĐT Quang Bình IV. Đối tượng nghiên cứu Giáo viên và học sinh Trường tiểu học Thống Nhất , TP Thái Nguyên. V. Các phương pháp nghiên cứu 1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu Đọc tài liệu, giáo trình, chuyên đề có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu: - Giáo trình Giáo dục Tiểu học. - Chuyên đề giáo dục Tiểu học. - Bộ sách Đạo đức Tiểu học. 2. Phương pháp quan sát - Dự giờ của giáo viên trong, ngoài nhà trường. - Tham khảo tiết dạy mẫu qua băng và qua vô tuyến truyền hình. 3. Phương pháp đàm thoại - Trao đổi ý kiến với đồng nghiệp và các trường khác. - Trao đổi ý kiến với các em học sinh. 4. Phương pháp thực nghiệm Áp dụng kinh nghiệm thu thập được vào giờ dạy của mình để so sánh. 5. Phương pháp tổng kết Phân tích, đánh giá những tư liệu tham khảo, những kinh nghiệm của bản thân, những ý kiến trao đổi với giáo viên và học sinh. Từ đó rút ra những phương pháp dạy hay áp dụng cho bản thân và đồng nghiệp. PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương I: Cơ sở lý luận I. Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Đạo đức ở Tiểu học. 1. Thế nào là đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học ? - Đổi mới phương pháp dạy học có thể hiểu là tìm con đường ngắn nhất để đạt được chất lượng và hiệu quả dạy học cao. Con đường này không có sẵn, không bằng phẳng, nó khúc khuỷu, gập ghềnh; đan xen giữa cái chung và cái riêng, cái cũ và cái mới. 12 Hoàng Thị Hồng – Trường Tiểu Học Hương Sơn Trường tiểu học Hương Sơn Phòng GD &ĐT Quang Bình - Đổi mới phương pháp bao hàm cả hai mặt: Phải đưa vào các phương pháp dạy học mới đồng thời tích cực phát huy những ưu điểm của phương pháp dạy học truyền thống. - Đổi mới phương pháp là sự phối hợp đồng bộ của nhiều khâu: Bồi dưỡng giáo viên, biên soạn sách, thiết bị dạy học, đánh giá học sinh và quản lý chỉ đạo. 2. Tại sao phải đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học ? - Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục Tiểu học. - Phát huy tính năng động, sáng tạo trong phương pháp dạy học. - Điều kiện cơ sở vật chất, môi trường học tập không giống nhau. - Cập nhật thông tin, góp phần tích cực để đạt được mục tiêu dạy học. 3. Việc đổi mới phương pháp dạy học được tiến hành như thế nào ? Quá trình quản lý chỉ đạo chuyên môn cho thấy rằng thực hiện đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học cần tập trung vào những vấn đề sau: a. Áp dụng hiệu quả các phương pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học mới: - Dạy học đảm bảo sự thống nhất hợp lý hai yêu cầu đồng loạt và cá thể. - Dạy học hợp tác nhóm. - Dạy học tự phát hiện. - Sử dụng phương tiện thiết bị dạy học hiện đại trong đổi mới phương pháp dạy học. - Thực hiện tốt quy trình dạy học hòa nhập. b. Xây dựng môi trường học tập thuận lợi cho học sinh. - Đầu tư cơ sở vật chất thiết bị theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, số lượng học sinh trên một lớp phải hợp lý ( 35 em ) - Xây dựng phòng học và tổ chức không gian lớp học mang tính thẩm mĩ sư phạm. - Môi trường học tập thuận lợi sẽ tác động tích cực đến sự thành công của đổi mới phương pháp dạy học. c. Sử dụng hợp lý, sáng tạo đồ dùng dạy học đã có và tự làm. d. Đổi mới phương pháp soạn bài. e. Đổi mới phương pháp quản lí chỉ đạo. 4. Quan điểm chung về đổi mới phương pháp dạy học Đạo đức. 13 Hoàng Thị Hồng – Trường Tiểu Học Hương Sơn Trường tiểu học Hương Sơn Phòng GD &ĐT Quang Bình Dạy học môn Đạo đức cần đi từ quyền trẻ em, từ lợi ích của trẻ em đến trách nhiệm, bổn phận của học sinh. Cách tiếp cận đó sẽ giúp cho việc dạy học Đạo đức trở nên nhẹ nhàng hơn, sinh động hơn, giúp cho học sinh lĩnh hội và thực hiện hành vi tự giác hơn, tránh được tính chất nặng nề, áp đặt. Dạy học môn Đạo đức sẽ chỉ đạt hiệu quả khi học sinh hứng thú và tích cực, chủ động tham gia vào quá trình dạy học. Dạy học môn Đạo đức phải là quá trình giáo viên tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động, phát huy vốn kinh nghiệm và thói quen đạo đức, tự khám phá và chiếm lĩnh tri thức mới, khái niệm mới. Đối với học sinh Tiểu học, nhận thức còn cảm tính, trực tiếp và cụ thể. Vì vậy các nội dung giáo dục cần phải chuyển tải đến học sinh một cách nhẹ nhàng, sinh động thông qua các hoạt động: đóng vai, chơi trò chơi, phân tích, xử lí tình huống, kể chuyện theo tranh, xây dựng phần kết cho các câu chuyện có kết cục mở, đánh giá và tự đánh giá hành vi của bản thân và những người xung quanh theo các chuẩn mực hành vi đã học. Các phương pháp và hình thức dạy học Đạo đức ở Tiểu học rất phong phú đa dạng, bao gồm cả phương pháp dạy học hiện đại như: đóng vai, thảo luận nhóm, tổ chức trò chơi... và các phương pháp truyền thống như: kể chuyện, đàm thoại, nêu gương, vấn đáp, giảng giải.....ngoài ra cần kết hợp cả hình thức dạy học cá nhân, theo nhóm lớp, học ở trường, ngoài sân trường, tham quan các di tích văn hóa... Mỗi phương pháp và hình thức dạy học môn Đạo đức đều có mặt mạnh và hạn chế riêng, phù hợp với từng loại bài riêng, từng khâu riêng của tiết dạy. Vì vậy trong quá trình dạy học giáo viên cần căn cứ vào nội dung, tính chất từng bài, căn cứ vào trình độ học sinh và năng lực, sở trường của bản thân, căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của trường mình, lớp mình mà lựa chọn. Sử dụng kết hợp các phương pháp và hình thức dạy học hợp lí, đúng mức để giáo dục đạo đức cho học sinh qua các bài Đạo đức. II. Các vấn đề lí luận về giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường Tiểu học thông qua các bài Đạo đức. Chương trình môn Đạo đức ở Tiểu học phản ánh các chuẩn mực hành vi đạo đức cần thiết, phù hợp với lứa tuổi trong các mối quan hệ của các em với bản thân, gia đình, nhà trường, cộng đồng và môi trường tự nhiên. Ở mỗi bài Đạo đức đều phải thực hiện nhiệm vụ và nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh như: - Giáo dục ý thức đạo đức. - Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức. - Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức. 1.Giáo dục ý thức đạo đức Giáo dục ý thức đạo đức nhằm cung cấp cho học sinh những tri thức đạo đức cơ 14 Hoàng Thị Hồng – Trường Tiểu Học Hương Sơn Trường tiểu học Hương Sơn Phòng GD &ĐT Quang Bình bản, sơ đẳng về chuẩn mực hành vi, hình thành niềm tin đạo đức cho học sinh. Các chuẩn mực hành vi này được xây dựng từ các phẩm chất đạo đức, chúng phản ánh các mối quan hệ hàng ngày của các em. Đó là: - Quan hệ cá nhân với xã hội: Kính yêu Bác Hồ, Biết ơn những người có công với nước, yêu làng xóm, quê hương đất nước, yêu mến và tự hào về trường, lớp, giữ gìn môi trường sống xung quanh... - Quan hệ cá nhân với công việc, lao động: Biết chăm chỉ, kiên trì, vượt khó trong học tập, tích cực tham gia các công việc lao động khác nhau. - Quan hệ cá nhân với những người xung quanh: Hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, quan tâm giúp đỡ anh chị em trong gia đình, tôn trọng, giúp đỡ, đoàn kết với bạn bè, với thiếu nhi Quốc tế, tôn trọng và giúp đỡ hàng xóm láng giềng... theo khả năng của mình. - Quan hệ cá nhân với thiên nhiên: Bảo vệ môi trường tự nhiên xung quanh nơi học, nơi chơi, giữ gìn công trình công cộng, bảo vệ cây trồng vật nuôi, bảo vệ nguồn nước... - Quan hệ cá nhân với bản thân: Khiêm tốn, thật thà, bạo dạn, lịch sự, vệ sinh, tự làm lấy công việc của mình... - Quan hệ cá nhân với tài sản xã hội, tài sản của người khác: Tôn trọng và bảo vệ tài sản của nhà trường, của nhà nước và của người khác, tiết kiệm tiền của, thời giờ .... Theo từng chuẩn mực hành vi đạo đức, cần giúp học sinh hiểu:  Yêu cầu của chuẩn mực hành vi đạo đức: Chuẩn mực hành vi yêu cầu học sinh thực hiện điều gì ? làm gì ? Ý nghĩa tác dụng của việc thực hiện chuẩn mực hành vi đạo đức và tác hại của việc làm trái: Việc thực hiện chuẩn mực hành vi đạo đức mang lại lợi ích gì ? tác dụng gì ? Nếu không thực hiện mà làm trái có tác hại gì ?  Cách thực hiện chuẩn mực đó: Thực hiện chuẩn mực, cần làm những công việc gì ? Thực hiện như thế nào ? Những tri thức đạo đức ngày nay giúp các em phân biệt được cái đúng – cái sai, cái tốt – cái xấu, cái thiện – cái ác... từ đó các em sẽ làm theo đúng, ủng hộ cái tốt, tán thành cái thiện và đấu tranh, phê phán, tránh cái sai, cái xấu, cái ác... ý thức đạo đức đúng đắn có tác dụng định hướng cho thái độ, tình cảm, hành vi đạo đức. 2. Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức: Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức cho học sinh là thức tỉnh những rung động, những xúc cảm với hiện thực xung quanh, làm cho học sinh biết yêu, biết ghét rõ ràng, có thái độ đúng đắn đối với các hiện tượng phức tạp trong cuộc sống. 15 Hoàng Thị Hồng – Trường Tiểu Học Hương Sơn Trường tiểu học Hương Sơn Phòng GD &ĐT Quang Bình -Thái độ tình cảm đối với những người xung quanh: Kính yêu, biết ơn, quan tâm, chăm sóc ông bà, cha mẹ, yêu quý anh chị em, tôn trọng và yêu quý bạn bè, tôn trọng những người xung quanh khác, hàng xóm... -Thái độ đối với xã hội: Kính yêu Bác Hồ, biết ơn những người có công với Tổ quốc, yêu mến trường lớp, yêu làng xóm quê hương đất nước... -Thái độ đối với môi trường sống: Yêu thiên nhiên, có ý thức bảo vệ môi trường xung quanh. -Thái độ đối với bản thân: Có lòng tự trọng, khiêm tốn học hỏi, lịch sự, biết giữ lời hứa, trung thực... -Thái độ đối với các hành động: Thái độ ủng hộ, đồng tình, tán thành với những tấm gương, việc làm tốt, phù hợp với những chuẩn mực đạo đức, có thái độ lên án, phê phán, chê cười những ai có hành động sai trái, xấu, có hại cho người khác, xã hội , cộng đồng. Tình cảm tích cực được hình thành dựa vào ý thức đúng đắn và được củng cố, khẳng định qua hành vi, đồng thời có tác dụng thúc đẩy, tạo động cơ cho việc nhận thức chuẩn mực, thực hiện hành vi đạo đức. 3.Giáo dục thói quen hành vi, thói quen đạo đức Giáo dục hành vi, thói quen đạo đức là tổ chức cho học sinh lặp lại và lặp lại nhiều lần những thao tác, hành động đạo đức nhằm có được hành vi đạo đức, từ đó có thói quen đạo đức. Môn Đạo đức ở Tiểu học cần hình thành cho học sinh các hành vi, thói quen đạo đức như: -Giúp đỡ, chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh chị em trong gia đình. - Hành vi lễ phép. - Có những việc làm vừa sức để giúp đỡ bạn bè, hàng xóm láng giềng... - Có những việc làm nhân đạo đối với người khác. - Có những hành động, việc làm bảo vệ trường, lớp, tài sản công cộng, thiên nhiên, đồ đạc và tài sản của người khác... Cần giáo dục hành vi văn hóa cho học sinh: “ đúng” về mặt đạo đức, “đẹp” về mặt thẩm mĩ. Các nhiệm vụ trên đây có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và cần được giải quyết đồng bộ thông qua: - Dạy – học các môn học, đặc biệt là môn Đạo đức. - Hoạt động ngoài giờ lên lớp. 16 Hoàng Thị Hồng – Trường Tiểu Học Hương Sơn Trường tiểu học Hương Sơn Phòng GD &ĐT Quang Bình - Thực hiện nội quy, quy chế, điều lệ. - Tấm gương của giáo viên. Chương II: Thực trạng vấn đề nghiên cứu I. Thực trạng việc dạy Đạo đức ở trường Tiểu học Để dạy Đạo đức cho học sinh Tiểu học đạt kết quả cao, người giáo viên cần nắm rõ thực trạng dạy môn này, làm rõ khi phân tích ba nhân tố tham gia vào quá trình dạy – học là: Môn học – Người dạy – Người học. Tức là phân tích những ưu điểm, nhược điểm của chương trình, các tài liệu dạy học. Sự chuẩn bị các điều kiện cho việc dạy và học cũng như việc dạy – học của giáo viên và học sinh. Qua đó, rút ra được những thuận lợi, khó khăn của giáo viên và học sinh để có biện pháp tác động hữu hiệu đến quá trình dạy – học. 1. Mối quan hệ giữa môn Đạo đức với môn học khác. Môn Đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ với các môn học khác ở Tiểu học, đặc biệt là các môn: Tiếng Việt, Nghệ thuật, Tự nhiên và xã hội. Đó là mối quan hê hai chiều, thể hiện ở: - Các môn học khác cũng có khả năng giáo dục đạo đức cũng tham gia vào quá trình giáo dục đạo đức, hỗ trợ đắc lực cho môn Đạo đức trong việc hình thành ở học sinh những biểu tượng đạo đức, bồi dưỡng cảm xúc, tình cảm đạo đức, củng cố khắc sâu những chuẩn mực hành vi đạo đức. Ngược lại, môn Đạo đức một mặt định hướng cho các môn học khác trong công tác giáo dục đạo đức; mặt khác còn hỗ trợ đắc lực cho việc dạy học các môn học khác như: - Giúp học sinh rèn luyện sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp. - Giúp học sinh mở rộng kiến thức về môi trường tự nhiên và xã hội. - Giáo dục cho học sinh ý thức và hành vi tuân thủ những quy định chung của đời sống xã hội, giữ gìn vệ sinh cá nhân, bảo vệ sức khỏe, giữ gìn vệ sinh môi trường. - Củng cố và phát triển khả năng cảm thụ và sáng tạo nghệ thuật ( nghe nhạc, hát, đọc thơ, vẽ tranh...) 2. Những ưu điểm và nhược điểm của chương trình và đồ dùng dạy học. a. Ưu điểm dạy Đạo đức theo chương trình mới Chương trình Đạo đức bao gồm một hệ thống chuẩn mực hành vi đạo đức và pháp luật cần thiết phù hợp với lứa tuổi học sinh tiểu học được trình bày theo 5 mối quan hệ: 17 Hoàng Thị Hồng – Trường Tiểu Học Hương Sơn Trường tiểu học Hương Sơn Phòng GD &ĐT Quang Bình - Quan hệ của học sinh với bản thân. - Quan hệ của học sinh với gia đình. - Quan hệ của học sinh với nhà trường. - Quan hệ của học sinh với cộng đồng xã hội. - Quan hệ của học sinh với môi trường tự nhiên. Nội dung môn Đạo đức kết hợp giữa giáo dục quyền trẻ em với giáo dục bổn phận của học sinh. - Kết hợp giáo dục quyền trẻ em được có gia đình, được cha mẹ yêu thương, chăm sóc với giáo dục bổn phận của trẻ phải quan tâm, chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh chị em ( Bài 4: Quan tâm chăm sóc ông bà, cha mẹ, anh chị em ) – Lớp 3. - Kết hợp giáo dục quyền trẻ em được tự do kết giao bạn bè, quyền được đối sử bình đẳng, quyền được hỗ trợ, giúp đỡ với giáo dục bổn phận trẻ em phải quan tâm, chia sẻ vui buồn với bạn bè. (Bài 5: Chia sẻ buồn vui cùng bạn ) – Lớp 3. - Kết hợp giáo dục quyền trẻ em được tôn trọng, bảo vệ bí mật riêng tư với giáo dục bổn phận trẻ em phải tôn trọng thư từ, tài sản của người khác. Chương trình không chỉ giáo dục bổn phận trách nhiệm của học sinh đối với gia đình, nhà trường, xã hội, môi trường tự nhiên mà còn giáo dục trách nhiệm của các em với chính bản thân mình như: biết tự trọng, tự tin, hài lòng về những điểm tốt của bản thân, biết quan tâm giữ gìn vệ sinh và hình thức bên ngoài của bản thân, biết giữ gìn đồ dùng, sách vở... Chương trình quan tâm đến cả ba mặt kiến thức, bồi dưỡng tình cảm, thái độ; hình thành kĩ năng và hành vi đạo đức. Thông qua các bài Đạo đức, chương trình nhằm từng bước hình thành cho học sinh một số kĩ năng sống cơ bản như: - Kĩ năng giao tiếp. - Kĩ năng tự nhận thức. - Kĩ năng ra quyết định. - Kĩ năng giải quyết vấn đề. - Kĩ năng kiên định. - Kĩ năng đặt mục tiêu. Nói chung chương trình gần gũi với cuộc sống thực của học sinh. Ngoài ra chương trình còn dành phần mềm 3 tiết/năm cho mỗi lớp để các 18 Hoàng Thị Hồng – Trường Tiểu Học Hương Sơn Trường tiểu học Hương Sơn Phòng GD &ĐT Quang Bình trường dạy những vấn đề đạo đức cần quan tâm. b.Nhược điểm Một số bài Đạo đức xa lạ với học sinh vùng sâu, vùng xa và vùng nông thôn như: Bài 9: Đoàn kết với thiếu nhi Quốc tế. ( Lớp 3 ) Bài 10: Tôn trọng khách nước ngoài. ( Lớp 3 ) ( Vì ở các vùng này học sinh ít có điều kiện tiếp xúc với khách Quốc tế ) Hay Bài 11: Lịch sự khi nhận và gọi điện thoại. ( Lớp 2 ) c. Các tài liệu và đồ dùng dạy học. - Vở bài tập in rõ các bài tập để học sinh làm bài. - Sách giáo viên hướng dẫn từng bài cụ thể. - Các loại tranh, ảnh, hình vẽ....minh họa cho các tình tiết, tình huống, hành vi của bài đẹp, cuốn hút học sinh. - Các loại phiếu bài tập. III. Những hạn chế của giáo viên và học sinh khi Dạy – Học môn Đạo đức. 1. Giáo viên  Những hạn chế của giáo viên: - Chưa nắm chắc phương pháp và trình tự dạy một tiết Đạo đức. - Chưa chú ý đầu tư cho tiết dạy nên tiết dạy còn nghèo nàn, giảm bớt các bước của tiết dạy. - Chưa chú trọng đến việc liên hệ thực tế với bài học. - Giáo viên còn chưa chỉnh sửa kịp thời những hành vi sai của học sinh một cách triệt để.  Nguyên nhân - Do giáo viên chưa được trang bị đầy đủ về mặt kiến thức nhất là những giáo viên đã được đào tạo cách đây nhiều năm. - Tài liệu tham khảo chưa đầy đủ. Giáo viên chưa tự giác học hỏi, chưa chuyên tâm với nghề. - Một số giáo viên chưa thấy rõ tầm quan trọng của môn học nên chưa chú ý, còn coi đó là môn phụ nên chưa thực sự đầu tư. 2. Học sinh 19 Hoàng Thị Hồng – Trường Tiểu Học Hương Sơn Trường tiểu học Hương Sơn Phòng GD &ĐT Quang Bình  Những hạn chế của học sinh - Chưa chuẩn bị điều kiện để học tốt môn học như vở bài tập, đồ dùng. - Tầm nhận thức về cuộc sống của học sinh còn hạn chế. - Các em còn rụt rè, chưa hăng hái tham gia vào các hoạt động của tiết học như: đóng vai, thảo luận... - Học sinh coi đó là môn phụ nên không hào hứng học.  Nguyên nhân - Giáo viên chưa chú ý đến đồ dùng dạy học nên bài giảng còn khô khan, giảm sự chú ý của học sinh. - Học sinh còn mải chơi, chưa chú ý đến học tập. - Học sinh còn hay quên vở bài tập do phụ huynh thiếu quan tâm đến con em mình. - Vốn sống của các em còn nghèo nàn. Chương III: Đề xuất những kinh nghiệm dạy Đạo đức I. Các nguyên tắc dạy đạo đức 1. Nguyên tắc lựa chọn trò chơi trong dạy – học Đạo đức. Trò chơi có vai trò quan trọng trong việc giáo dục học sinh Tiểu học, song muốn phát huy được vai trò giáo dục này cần tuân theo những nguyên tắc nhất định trong việc lựa chọn trò chơi, trò chơi được lựa chọn phải: - Đảm bảo tính giáo dục. - Đảm bảo phù hợp với năng lực và trình độ học sinh Tiểu học, không quá khó khăn hoặc quá đơn giản, không gây nguy hiểm cho học sinh. - Đảm bảo phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn của lớp học, trường học ( về thời gian, không gian, các phương tiện cần thiết cho trò chơi ) 2. Nguyên tắc tổ chức trò chơi trong tiết Đạo đức  Nguyên tắc 1: Đảm bảo cho học sinh hiểu rõ yêu cầu, nội dung và cách tổ chức trò chơi: - Yêu cầu đối với trò chơi có tác dụng định hướng đối với toàn bộ quá trình tổ chức trò chơi, nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục của bài Đạo đức. - Nội dung trò chơi giúp cho học sinh biết cần làm những gì và cách thức tổ chức trò chơi giúp cho học sinh làm như thế nào trong khi chơi. 20 Hoàng Thị Hồng – Trường Tiểu Học Hương Sơn
- Xem thêm -