Skkn một số biện pháp giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ 24-36 tháng

  • Số trang: 25 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 965 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG TRÁNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ 24-36 THÁNG” PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong nhiều năm trở lại đây, chúng ta thường thấy tỷ lệ trẻ nhỏ gặp tai nạn thương tích ngày càng nhiều. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý của trẻ. Với bản chất tò mò, hiếu kỳ và luôn muốn khám phá những điều mới lạ, trẻ hay phải đối mặt với rất nhiều tình huống nguy hiểm trong cuộc sống mà không phải lúc nào cũng có người lớn ở bên để giúp đỡ. Là một giáo viên mầm non, tôi nhận thấy ngoài việc cố gắng bảo vệ trẻ khỏi các nguy cơ gây rủi ro, ta còn phải dạy cho trẻ kỹ năng phòng tránh các mối nguy hiểm thường trực trong cuộc sống hàng ngày. Kỹ năng này giúp trẻ tự tin ứng phó với các nguy cơ không an toàn và hạn chế tối đa những tổn hại đến bản thân mình. Song trong thực tế, việc dạy kỹ năng sống nói chung, kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích nói riêng cho trẻ mầm non còn khá mới mẻ và chưa thực sự được chú trọng. Đặc biệt đối với trẻ 24-36 tháng, khả năng nhận thức của trẻ còn hạn chế nên giáo viên gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích. Xuất phát từ lý luận và thực tế trên, năm học 2013-2014, tôi đã chọn đề tài “ Một số biện pháp giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ 24-36 tháng” để thực hiện. II/ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Qua nghiên cứu và thực hiện đề tài này, tôi muốn giúp trẻ và giáo viên một số vấn đề sau : - Đối với trẻ : + Hình thành thói quen và kỹ năng cần thiết trong độ tuổi của trẻ , để trẻ có thể tự bảo vệ bản thân trước những mối nguy hiểm thường trực xung quanh trẻ. Đồng thời trẻ biết được điều nên làm và không nên làm phù hợp với hoàn cảnh để giúp bản thân mình an toàn. + Trẻ cảm thấy tự tin, có phản ứng nhanh để vượt qua các mối nguy hiểm trong cuộc sống. - Đối với giáo viên :. + Có phương pháp giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ hiệu quả, từ đó làm tiền đề cho việc giáo dục những kỹ năng sống khác. + Tự tin hơn trong việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. III/ ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 1. Đối tượng Trẻ nhà trẻ 24-36 tháng. 2. Phạm vi thực hiện : Lớp 24-36 tháng D1 Trường mầm non Thượng Cốc – Phúc Thọ - Hà Nội 3. Thời gian thực hiện Thực hiện một năm từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 4 năm 2014 PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I/ CƠ SỞ KHOA HỌC 1. Cơ sở lý luận Kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích là một trong những kỹ năng sống vô cùng quan trọng và cần thiết đối với trẻ ở mọi lứa tuổi. Nó giúp trẻ nhận ra những mối nguy hiểm trong tình huống cụ thể, đồng thời nhận thức được việc nên làm và không nên làm phù hợp với hoàn cảnh để giúp bản thân mình an toàn. Có kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích tốt, trẻ sẽ tự tin hơn, sẵn sàng đối diện và vượt qua các mối nguy hiểm trong cuộc sống. Để truyền tải cho trẻ kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích ngay từ khi còn nhỏ đòi hỏi người giáo viên phải thực sự hiểu trẻ, phải có những phương pháp dạy sao cho trẻ dễ hiểu, dễ tiếp thu, có như vậy mới giúp trẻ khắc sâu trong tâm trí, định hình cho mình những phản ứng phù hợp với mọi tình huống xảy ra hàng ngày. 2. Cơ sở thực tiễn 1/ Thuận lợi - Nhận được sự quan tâm, ủng hộ của Ban giám hiệu nhà trường về tinh thần cũng như cơ sở vật chất thiết yếu. - Bản thân tôi đã tham dự chuyên đề giáo dục kỹ năng sống do phòng giáo dục tổ chức nên tôi đã có chút kinh nghiệm trong phương pháp dạy kỹ năng sống. - Đồng nghiệp của tôi nhiệt tình giúp đỡ. 2/ Khó khăn - Trẻ còn quá nhỏ nên nhận thức hạn chế, khả năng diễn đạt bằng lời của trẻ rất kém. Bên cạnh đó, tuy cùng độ tuổi nhưng nhận thức của trẻ lại không đồng đều (có nhiều trẻ sinh cuối năm). - Là năm đầu thực hiện chuyên đề lồng ghép giáo dục kỹ năng sống, nên tôi còn bỡ ngỡ và lúng túng trong việc truyền tải nội dung giáo dục tới trẻ. - Nhiều phụ huynh còn chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng bảo vệ bản thân cho trẻ nhỏ nên không tích cực trong việc phối hợp cùng giáo viên để giáo dục trẻ. 3/ Khảo sát Trước khi bước vào thực hiện đề tài, tôi tiến hành khảo sát 5 hoạt động học có lồng ghép giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ với số trẻ là 25 cháu. Mời ban chất lượng của trường dự và kết quả như sau : a. Với cô CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC KỸ KẾT QUẢ NĂNG PHÒNG TRÁNH TAI NẠN Số lượng Tỷ lệ % THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ Tốt 0 0 Khá 1 20 Đạt yêu cầu 4 80 Không đạt yêu cầu 0 0 b. Với trẻ ( 25 trẻ ) KẾT QUẢ TRÊN TRẺ TIÊU CHÍ ĐẠT CHƯA ĐẠT Số lượng Số lượng % % Nhận ra các đồ vật, địa điểm có thể gây nguy 6 = 24% hiểm 19 = 76% Biết tránh xa các mối nguy hiểm 5 = 20% Bình tĩnh, biết tìm kiếm sự giúp đỡ của người 2 = 8% 20 = 80% 23 = 92% lớn Nhìn vào bảng đánh giá , chúng ta có thể dễ dàng nhận ra chất lượng việc giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích của cô qua các hoạt động chưa hiệu quả. Bên cạnh đó rất ít trẻ đạt được các tiêu chí thể hiện kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích. Thực tế cũng cho thấy, tỷ lệ trẻ em ở độ tuổi 24-36 tháng chịu tổn thất về sức khỏe và tâm sinh lý do nguy cơ, tình huống không an toàn mang lại luôn cao nhất. II/ CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN Xuất phát từ những khó khăn và kết quả khảo sát như trên, để giúp trẻ hình thành kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích, tôi đã thực hiện các biện pháp sau : 1/ BIỆN PHÁP 1 : GIÁO DỤC LỒNG GHÉP THEO CHỦ ĐỀ Ở mỗi chủ đề học tập, tôi đưa ra những hoạt động, địa điểm, đồ vật không an toàn mà trẻ có khả năng gặp phải nhiều nhất. Có được nội dung giáo dục kỹ năng phù hợp với từng chủ đề sẽ giúp tôi dễ dàng trong việc lựa chọn bài dạy để lồng ghép giáo dục trẻ, đồng thời trẻ cũng dễ tiếp thu và ghi nhớ hơn. STT Tên chủ đề Hoạt động không an toàn Địa điểm Đồ vật không không an toàn an toàn 1 Trường mầm -Chơi đồ chơi không đúng -Cầu thang -Vật chứa nước non của bé - cách -Nhà vệ sinh Đồ dùng trong nhà vệ sinh 2 Bé và các -Chơi đồ chơi không đúng - Kẹp tóc, ghim bạn tóc của bạn gái cách -Đùa nghịch khi ăn 3 Bé và đình gia - Lại gần bếp vật gây -Lan can, cửa -Đồ vật nhọn sổ sắc - Chạy nhảy trong nhà tắm ( -Nhà tắm nhà vệ sinh) 4 -Bếp ăn Cây và -Leo trèo -Vườn rậm rạp những bông -Tự ý ăn quả hoa đẹp 5 Những con -Ôm hôn, vuốt ve vật nuôi -Đồ bỏng -Một số loại hoa ( nấm) độc -Vườn bách thú vật đáng yêu -Lại gần các con vật nguy hiểm 6 Có khắp thể đi -Một mình qua đường -Lòng đường -Xe đạp, nơi -Đùa nghịch khi ngồi trên - Bến xe, ga tàu máy, ô tô… bằng phương xe đạp, xe máy, ô tô.. -Ao, hồ… tiện gì? xe -Không đội mũ bảo hiểm 7 Mùa hè đến -Tắm biển, sông, hồ, ao… -Biển, hồ, ao … sông, -Quạt điện - Vật chứa nước Dựa trên các nguy cơ có thể gây guy hiểm cho trẻ mà mình đã vạch ra ở mỗi chủ đề, tôi chú trọng việc giúp trẻ nhận ra các mối nguy hiểm đó và ảnh hưởng của nó tới bản thân mình qua từng bài học. VD : Chủ đề “ Bé và các bạn” + Hoạt động với đồ vật : Xâu vòng tặng bạn - Qua hoạt động này tôi giúp trẻ biết trẻ có thể bị hóc, nghẹn khi sử dụng hột hạt không đúng cách ( Ngậm, nuốt, ném nhau…) Chủ đề “ Bé và gia đình” + Tạo hình : Dán mành cửa sổ. - Bé có thể bị ngã khi leo trèo lên cửa sổ 2/ BIỆN PHÁP 2 : THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG Ở MỌI LÚC, MỌI NƠI  Hoạt động văn học VD : Truyện : Chong chóng nhỏ của Đông Mẹ mới mua cho Đông một cái chong chóng. Đông thích lắm. Đông giơ cao chong chóng, chạy một vòng quanh nhà. Những cái cánh của chong chóng quay quay, trông đến là vui mắt. “ Thế này mà gặp lúc gió to, chong chóng quay đẹp phải biết”, Đông thầm nghĩ. Chiều hôm sau trời bỗng nổi gió lớn. Đông vội nhảy chân sáo ra khỏi nhà, trên tay giơ cao chiếc chong chóng đang quay tít. Đột nhiên một trận cuồng phong kéo theo cát bụi ập đến trước mặt Đông. Bị cát và bụi bay vào mắt, Đông lảo đảo đứng không vững rồi ngã bịch xuống đất. Đúng lúc ấy, một chậu hoa nhỏ trên lan can nhà cao tầng rơi xuống cạnh cậu. Chậu hoa vỡ tan thành từng mảnh, suýt nữa thì rơi đúng vào đầu Đông! Đông sợ hãi nhắm chặt mắt lại. Một lúc lâu sau cậu mới dám mở mắt nhìn quanh. Cậu thấy chiếc chong chóng nhỏ đã bị chậu hoa làm gãy đôi, cậu bật khóc thút thít. Lúc ấy, mẹ của Đông chạy đến bên đỡ cậu dậy. Mẹ Đông nhìn từ đầu đến chân con trai một lượt để kiểm tra xem cậu có bị xây xát không. Thấy con an toàn, mẹ đông mới thở phào nhẹ nhõm: - May quá, con không sao! Chiếc chong chóng bị hỏng mất rồi! Lần sau con đừng chạy chơi ở ngoài lúc trời nổi gió nhé! Qua nội dung câu chuyện, tôi giúp trẻ hiểu rằng không nên ở ngoài đường khi trời nổi gió lớn vì trẻ có thể gặp rất nhiều nguy hiểm như bụi bay vào mắt làm đau mắt, chậu hoa có thể rơi trúng đầu gây chảy máu….Ngoài ra, khi trời nổi gió lớn thường kèm theo mưa, sấm sét…trẻ có thể ốm do bị mưa ướt…  Hoạt động âm nhạc Tôi khai thác một cách có hiệu quả những bài hát chứa đựng tình huống không an toàn để giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ. VD: Bài hát : Con mèo ra bờ sông ( Hoàng Hà) Một con mèo ra bờ sông Meo…Mèo này chớ xuống sông Một con mèo ra bờ ao Meo… Mèo này chớ xuống ao Em cũng không chơi gần sông Em cũng không chơi gần ao…kẻo ngã…nhào! Thông qua việc giảng nội dung bài hát, tôi giúp trẻ hiểu rằng không nên chơi ở gần bờ sông, bờ ao, vì bản thân trẻ có thể bị đuối nước do ngã xuống sông, xuống ao.  Hoạt động khám phá khoa học VD : Khám phá xe máy Ở hoạt động này, tôi chú ý giúp trẻ hiểu bô xe máy thường rất nóng ,trẻ có thể bị bỏng khi đùa nghịch, sờ, chạm vào bô xe máy.Ngoài ra, tôi còn sử dụng hình ảnh làm trò chơi nhằm hình thành kỹ năng giữ an toàn giao thông để phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ. Trò chơi “ Ai giỏi nhất” - Cô chuẩn bị hình ảnh : Bé ngồi sau xe máy đội mũ bảo hiểm, bé ngồi sau xe máy không đội mũ bảo hiểm, bé ngồi sau xe vòng tay ôm người phía trước, bé ngồi sau xe hai tay giơ ra để nghịch… Yêu cầu trẻ chọn hình ảnh hành động mà trẻ nên làm, và hỏi trẻ vì sao con nên làm như vậy? Nếu con không làm như vậy thì chuyện gì sẽ xảy ra?... Trên cơ sở đó cô củng cố giáo dục trẻ : Khi đi xe máy cùng bố mẹ, các con nên đội mũ bảo hiểm để bảo vệ phần đầu đỡ bị đau nếu chẳng may con bị ngã xe. Các con cũng nên ngồi ngay ngắn trên xe, vòng tay ôm chặt người phía trước, có như vậy các con mới giữ an toàn cho bản thân mình. Bé nhớ đội mũ bảo hiểm trước khi đi đi xe máy cùng bố, mẹ  Hoạt động vui chơi Vui chơi là hoạt động mang tính chủ đạo của trẻ mầm non. Những hành động, việc làm hay cách xử lý tình huống của người lớn mà trẻ đã thấy đều được trẻ tái hiện lại trong khi chơi. Việc giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ thông qua trò chơi sẽ được trẻ ghi nhớ rất nhanh và định hình ngay trong ý thức, việc làm của trẻ. VD : + Ở góc phân vai với trò chơi “ gia đình”, tôi giúp trẻ hình thành thói quen pha sữa cho em bé xong phải cất gọn phích nước, để tránh bị bỏng. - Trò chơi “ Nấu ăn” tôi nhắc trẻ phải dùng lót tay khi bắc nồi từ trên bếp xuống + Ở góc thiên nhiên tôi lưu ý để trẻ biết phải khóa vòi nước sau khi sử dụng , cất dụng cụ làm vườn cẩn thận để tránh bị chảy máu. + Khi cho trẻ ra hoạt động ngoài trời, qua việc trò chuyện quan sát đu quay, tôi giúp trẻ nhận biết được một số nguyên nhân gây ngã, gây tai nạn và biết cách phòng tránh nguy cơ gây ngã. - Vì sao mà bé ngã khi ngồi trên đu quay? ( không bám chắc, đùa nghịch, xô đẩy bạn…) - Khi ngồi trên đu quay chẳng may bị ngã bé cần làm gì?( Nằm yên, chờ đu quay dừng hẳn mới ngồi dậy để tránh đu quay đập vào đầu, bạn khác chạy đi báo với cô…) - Bé làm gì để phòng tránh ngã? ( Không xô đẩy bạn khi ngồi trên đu quay, nắm chắc tay cầm…)  Hoạt động vệ sinh cá nhân Khi thực hiện vệ sinh cá nhân cho trẻ, tôi giải thích cho trẻ hiểu nền nhà tắm, nhà vệ sinh rất trơn, trẻ có thể bị ngã khi chạy nhảy trong nhà vệ sinh, nhà tắm, trẻ có thể bị bỏng khi vặn vòi nước không đúng cách nếu nhà dùng bình nóng lạnh…Cũng qua đó, tôi giúp trẻ nhận ra rằng trẻ cần nhờ người lớn giúp khi muốn vào nhà vệ sinh, nếu không có ai ở nhà con hãy tìm dép để đi vào chứ không đi chân không. Và tuyệt đối đừng vặn nước ở những vòi mà con không chắc là có nước nóng hay không… Nền nhà vệ sinh có nước nên trơn, dễ ngã  Thông qua giờ ăn, giờ ngủ trưa Trước giờ ăn, ngoài việc tạo bầu không khí vui vẻ để kích thích trẻ ăn hết xuất, tôi còn giúp trẻ thấy những mối nguy hiểm sẽ xảy ra cho trẻ nếu trẻ vừa ăn vừa cười nói, nếu trẻ ăn hay uống quá nhanh, hoặc khi vừa ăn xong mà trẻ chạy nhảy đùa nghịch… Ở giờ ngủ trưa, tôi giải thích cho trẻ hiểu nếu trẻ không cởi bỏ khăn quàng cổ trước khi ngủ thì trẻ có thể bị ngạt trong khi ngủ? Hoặc nếu trẻ nằm úp mặt xuống gối hay lấy gối đè lên mặt bạn thì chuyện gì sẽ xảy ra?...  Hoạt động chiều Với đặc điểm nhận thức của trẻ là tư duy trực quan hình tượng nên nếu chỉ dừng lại ở việc giảng giải cho trẻ thôi thì sẽ không thực sự hiệu quả.. Chính vì vậy sau khi ôn bài buổi chiều tôi thường tạo một số tình huống nhỏ cho trẻ trải nghiệm nhằm củng cố kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích ở trẻ. VD : - Đổ các khối gỗ đồ chơi ra sàn lớp, yêu cầu trẻ đi chân không vào lớp. Trẻ đã biết đi từng bước một, tránh dẫm lên các khối để khỏi bị ngã và đau chân. Đồng thời nhặt khối để gọn lại một chỗ. Trẻ không giẫm lên khối và cũng nhau nhặt khối gọn lại Việc trải nghiệm tình huống thường xuyên đã giúp trẻ phát triển kỹ năng suy đoán, nhận biết mối nguy hiểm, trên cơ sở đó áp dụng những kiến thức ,kinh nghiệm mình đã có để tìm ra cách giải quyết vấn đề . Từ đó trẻ có thể vận dụng với những tình huống khác trong thực tế hàng ngày mà trẻ gặp . Nó góp phần hình thành và củng cố cho trẻ những kinh nghiệm, những kỹ năng bảo vệ mình trong cuộc sống sau này.  Thông qua hoạt động đón, trả trẻ Tận dụng khoảng thời gian ngắn trong giờ đón trẻ, tôi đưa ra cho trẻ những câu hỏi tình huống để trẻ thảo luận và cùng nhau tìm cách giải quyết vấn đề - “Nếu con đang ngồi chơi một mình mà tự nhiên thấy nhà tối om, con sẽ làm như thế nào?” . Việc con nên làm là con ngồi yên tại chỗ, sau đó gọi bố mẹ thật to. Và con không nên đi lại trong nhà lúc tối tăm, vì như thế con rất dễ bị vấp ngã. - “Nếu con nhìn thấy ấm điện đun nước đang bốc khói và kêu inh ỏi, con sẽ làm như thế nào”? Tuyệt đối không lại gần, con hãy đi tìm người lớn đến giúp. Con không nên lại gần vì như vậy, con rất dễ bị điện giật, hoặc bị nước nóng tràn ra làm bỏng người. Việc trẻ suy nghĩ, thảo luận và cùng cô đưa ra phương án tối ưu để xử lý trước những tình huống cụ thể thường gặp giúp trẻ có sự tư duy logic, phát triển ngôn ngữ và khả năng diễn đạt bằng lời của mình. Kinh nghiệm ứng phó trước nguy cơ gây nguy hiểm cũng được trẻ hiểu và tiếp thu dễ dàng. Ở giờ trả trẻ, tôi thường cùng trẻ quan sát xem các bạn đã ngồi trên xe đạp, xe máy khi bố mẹ đến đón như thế nào? Ngồi như vậy có an toàn không? Các bạn có đội mũ bảo hiểm không? Nếu bố mẹ đón con bằng xe đạp hoặc xe máy, thì con sẽ ngồi như thế nào? Nếu đi bộ cùng bố mẹ thì con nên như thế nào ( Không chạy, nắm chặt tay bố mẹ, đi ở lề đường…) Qua mỗi lần quan sát hoặc trò chuyện cùng trẻ, việc lắng nghe ý kiến của trẻ giúp tôi nhận ra lý do hành động phản ứng của trẻ trong mỗi tình huống. Trên cơ sở đó tôi giải thích cho trẻ hiểu rõ vấn đề, đồng thời khẳng định với trẻ việc nên làm và không nên làm trong tình huống đó để có thể bảo vệ bản thân mình an toàn. Tóm lại, cần giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ mọi lúc mọi nơi, đảm bảo tính liên tục để trở thành thói quen, phản xạ của trẻ. Tuy nhiên không nên lạm dụng tích hợp quá nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả của hoạt động chính cũng như sẽ gây tâm lý nặng nề cho trẻ khi tham ra vào các hoạt động đó. 3/ BIỆN PHÁP 3 : PHỐI HỢP VỚI PHỤ HUYNH Việc hình thành kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ không phải là chuyện một sớm một chiều mà là cả một quá trình. Chính vì vậy, nếu chỉ dạy trẻ kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích ở trường mầm non thôi thì chưa đủ, mà trẻ cần được rèn luyện đều đặn ở nhà. Môi trường gia đình thường mang đến cho trẻ nhiều trải nghiệm và ảnh hưởng lớn đến quá trình hình thành kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích ở trẻ. Tuy nhiên, nhiều phụ huynh cho rằng con mình còn quá bé để hiểu được những điều đó cũng như tin rằng mình có thể bảo vệ con mọi lúc mọi nơi. Để xóa đi suy nghĩ chủ quan này của phụ huynh, tôi đã nỗ nực làm tốt công tác tuyên truyền. Cụ thể: + Thông qua giờ đón trẻ: Tôi trao đổi với phụ huynh về tình hình sức khoẻ, nguyên nhân và cách phòng tránh một số tai nạn thương tích thường gặp ở trẻ, nhằm giúp họ nhận ra tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ. + Thông qua bảng tuyên truyền với phụ huynh: Bảng được thiết kế đẹp, kích thước to rõ, các phụ huynh có thể đọc, quan sát theo dõi dễ dàng. Đây là nơi trao đổi thông tin với phụ huynh rất hiệu quả. Theo từng chủ đề, tôi đánh máy nội dung giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ mà cô đang dạy trẻ ở trên lớp, để phụ huynh tham khảo. Ví dụ : Ở chủ điểm “Bé và gia đình” tôi ghi nội dung lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho trẻ như sau: - Tuần 1 : Phòng tránh tai nạn thương tích do bỏng lửa ( lại gần bếp) - Tuần 2: Phòng tránh tai nạn thương tích do bỏng nước sôi ( phích nước, canh nóng) - Tuần 3 : Phòng tránh tai nạn thương tích do đồ vật sắc nhọn ( dao, kéo)….. + Thông qua các buổi họp phụ huynh, tôi chủ động lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ đến các bậc phụ huynh. Các phụ huynh đã tiếp nhận thông tin một cách đồng bộ, không gò bó, gượng ép. Trao đổi với phụ huynh +Thông qua một số tình huống không an toàn với trẻ trong thực tế được tôi chủ động xây dựng lại và mời phụ huynh kín đáo quan sát biểu hiện của con em mình. VD : Tôi vờ bỏ quên ấm đun nước không cắm điện và không chứa nước trước mặt trẻ. Trẻ đã xúm lại rồi rủ nhau vào nhà vệ sinh lấy nước để cắm điện…Ngay lập tức, tôi cùng phụ huynh quay trở lại lớp giải thích cho trẻ hiểu rằng trẻ có thể bị điện giật nếu trẻ tự mình cắm nước uống, trẻ có thể bị ngã khi vào nhà vệ sinh một mình… Qua một số hình thức tuyên truyền và một vài tình huống thực tế tận mắt chứng kiến đã làm thay đổi suy nghĩ cơ bản từ phía phụ huynh. Phụ huynh đã nhận thấy sự thiết thực và tầm quan trọng của việc dạy kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ nên tích cực phối hợp với giáo viên để giáo dục trẻ. Bản chất việc hình thành kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ không chỉ dừng lại ở nhận thức, mà nó còn bao gồm cả việc bắt chước những hành động đúng, nên làm trong thời điểm nào đó. Đồng tình với quan điểm này của tôi nên dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, tôi và phụ huynh đều cố gắng làm gương cho trẻ từ việc nhỏ nhất. VD : Dùng lót tay khi bắc xoong nồi trên bếp nóng, đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy, rửa sạch và gọt hoa quả trước khi ăn..… Thay vì la mắng, cấm đoán trẻ như trước, phụ huynh đã giải thích hoặc đưa ra các tình huống cụ thể trong thực tế giúp trẻ hiểu tại sao không được làm như thế? Nếu xảy ra thì sẽ phải làm như thế nào ? Tôi và phụ huynh cũng thường xuyên trao đổi với nhau về những tình huống không an toàn mà trẻ vô tình gặp phải hoặc những hoàn cảnh được người lớn tạo ra nhằm giúp trẻ học cách ứng phó. Đồng thời cùng nhau thống nhất cách giáo dục trẻ trong những tình huống như vậy. Những chuyển biến tích cực trong nhận thức và sự phối hợp chặt chẽ của phụ huynh đã tạo điều kiện cho tôi nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ. Bằng những biện pháp thiết thực trên, việc giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn cho trẻ 24-36 tháng trong năm học 2013-2014 thực sự đạt kết quả cao ở cô và trẻ. PHẦN C. KẾT QUẢ THỰC HIỆN – BÀI HỌC KINH NGIỆM 1. Kết quả đối chứng a. Với cô CHẤT LƯỢNG KẾT QUẢ GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG TRÁNH TAI NẠN ĐẦU NĂM CUỐI NĂM Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ lượng % lượng % TĂNG GIẢM % % THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ TỐT 0 0 3 60 60 KHÁ 1 20 2 40 20 ĐẠT YÊU CẦU 4 80 0 0 0 0 0 KHÔNG ĐẠT YÊU 0 80 CẦU Nhìn vào bảng điều tra có kết quả đối chứng cho thấy việc giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ đã hiệu quả hơn rất nhiều, chất lượng giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích qua các hoạt động của cô hầu hết là đạt loại tốt và khá. b. Với trẻ
- Xem thêm -