Skkn một số biện pháp giảm thiểu tỷ lệ học sinh yếu kém, xây dựng chất lượng lớp chủ nhiệm 10a5 ở trường thpt số 2 văn bàn

  • Số trang: 32 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 19 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

MỤC LỤC Nội dung Trang BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 2 PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ 3 I. Lý do chọn đề tài 3 II. Mục đích nghiên cứu 4 III. Nhiệm vụ nghiên cứu 4 IV. Phạm vị nghiên cứu 4 V. Đối tƣợng nghiên cứu 4 VI. Phƣơng pháp nghiên cứu 4 PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 5 I. CƠ SỞ LÝ LUẬN 5 II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7 III. CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 9 1. Nghiên cứu tâm lý giáo dục đối với học sinh yếu kém 9 2. Tìm hiểu đối tƣợng học sinh lớp chủ nhiệm 10 3. Tạo niềm tin đối với học sinh 14 4. GVCN lập kế hoạch cá biệt để giúp đỡ từng học sinh yếu kém tiến bộ, cuối năm học có thể đƣợc lên lớp 5. Khắc phục hiện tƣợng “nghiện” Game. 6. Nâng cao hiệu quả phối hợp với gia đình và phụ hunh học sinh: PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO 20 22 24 30 32 BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT STT Viết tắt 1 CBQL 2 CCCM 3 CMHS Nội dung Cán bộ quản lý Có công cách mạng Cha mẹ học sinh STT Viết tắt Nội dung 7 HSG Học sinh giỏi 8 HSTT Học sinh tiên tiến 9 PHHS Phụ huynh học sinh 4 GV 5 GVCN 6 HS Giáo viên Giáo viên chủ nhiệm Học sinh 10 SGK 11 TNCS 12 THPT Sách giáo khoa Thanh niên cộng sản Trung học phổ thông 2 PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong các năm qua, tôi đã nghiên cứu rất nhiều tài liệu, đọc một số sách báo về các phƣơng pháp học tập hiệu quả và phát triển bản thân trong thanh thiếu niên, học sinh nhằm giúp các em thành công cả trong học đƣờng lẫn cuộc sống. Nhờ thế mà tôi có cơ hội tiếp xúc với rất nhiều học sinh với những thái độ và cách hành xử khác nhau. Một số em sống lạc quan, tự tin và đầy quyết tâm trong học tập nên đạt những thành tích tốt về các mặt trong học tập, thể thao, văn nghệ. Trong khi đó, có những em hoàn toàn dửng dƣng với việc học, luôn sống trong tâm trạng sợ hãi, có thái độ tiêu cực, nổi loạn và không màng đến tƣơng lai. Từ những điều mắt thấy tai nghe hàng ngày, trong tôi luôn trăn trở một câu hỏi lớn, sao lại có sự khác biệt to lớn đến nhƣ thế. Có phải đó là những tính cách khác nhau đƣợc hình thành từ lúc cha sinh mẹ đẻ? Hay so tác động của bạn bè xung quanh? Vì những ngôi trƣờng khác nhau mà các em đang học? Do ảnh hƣởng của thầy cô trong trƣờng? Hay chỉ đơn giản là do chế độ dinh dƣỡng hàng ngày của các em? hoặc rộng hơn, do hoàn cảnh kinh tế xã hội?... Mặc dù tất cả các yếu tố trên đều ít nhiều ảnh hƣởng đến mỗi cá nhân trong một chừng mực nào đó, tôi phát hiện ra rằng, yếu tố lớn nhất và quan trọng nhất hình thành thái độ, hành vi và do đó tƣơng lai của một đứa trẻ chính là cách dạy dỗ của cha mẹ đối với con cái, do ý thức của HS, phƣơng pháp giáo dục và lòng nhiệt tình của các giáo viên bộ môn cũng nhƣ GVCN. Tôi cũng khám phá ra rằng, nếu cha mẹ có cách nghĩ tích cực và dành thời gian để bảo ban, trò chuyện và nâng đỡ con em thì chúng sẽ tin tƣởng vào bản thân hơn, có động lực mạnh mẽ hơn và thành công hơn. Điều này cũng đúng với những HS sinh trƣởng trong gia đình nghèo, học ở “trƣờng làng” và thậm chí kể cả khi sống trong một môi trƣờng không tốt. Thêm một phát hiện nữa, những đứa trẻ có nhiều biến chuyển tích cực nhất và thành công nhất sau các khóa đào tạo đều là con của những ngƣời cha ngƣời mẹ thật sự cảm thông và tích cực hỗ trợ con cái trên con đƣờng học tập. 3 Quá trình tìm tòi để giải đáp cho nỗi băn khoăn trên là lý do để tôi viết đề tài “Một số biện pháp giảm thiểu tỷ lệ học sinh yếu kém, xây dựng chất lượng lớp chủ nhiệm 10A5 ở trường THPT Số 2 Văn Bàn”. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Trên cơ sở, phân tích, đánh giá đúng thực trạng công tác chủ nhiệm lớp trong những năm vừa qua, qua đúc rút kinh nghiệm bản thân để hệ thống một số biện pháp chính giúp giảm thiểu tỷ lệ học sinh yếu kém, nâng cao chất lƣợng lớp chủ nhiệm, khắc phục tình trạng học sinh càng yếu càng chán học. III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Để đạt mục đích trên, đề tài tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau: - Nghiên cứu cơ sở lý luận về tâm lý lứa tuổi học sinh. - Khảo sát, phân tích và đánh giá đúng thực trạng và những vấn đề gặp phải trong công tác chủ nhiệm lớp của bản thân và các giáo viên khác trong nhà trƣờng - Hệ thống một số biện pháp chính giúp xây dựng và quản lý lớp chủ nhiệm đạt hiệu quả cao, nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện học sinh. IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Trong khuôn khổ giới hạn về thời gian và trình độ nhận thức của bản thân, đề tài “Một số biện pháp giảm thiểu tỷ lệ học sinh yếu kém, xây dựng chất lượng lớp chủ nhiệm 10A5 ở trường THPT Số 2 Văn Bàn” chỉ phân tích thực trạng các biện pháp giáo dục học sinh yếu lớp chủ nhiệm, nâng cao chất lƣợng lớp chủ nhiệm, tổng kết kinh nghiệm bản thân để hệ thống thành các giải pháp nhằm xây dựng chất lƣợng lớp chủ nhiệm 10A5 ở trƣờng THPT Số 2 Văn Bàn. V. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Học sinh lớp 10A5 trƣờng THPT Số 2 huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Nh m phư ng pháp nghi n cứu l lu n Gồm phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, so sánh, phân loại các tài liệu khoa học và các văn bản pháp qui của nhà nƣớc, của ngành, của địa 4 phƣơng có liên quan... Nhằm tìm hiểu, xây dựng cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn cho vấn đề nghiên cứu. 2. Nh m phư ng pháp nghi n cứu thực ti n Gồm phƣơng pháp đàm thoại, quan sát, phỏng vấn, trƣng cầu ý kiến, tổng kết kinh nghiệm của các GVCN khác, khảo nghiệm... Phư ng pháp đàm thoại: Để tìm hiểu thực trạng học sinh yếu kém và các biện pháp mà GVCN đã áp dụng để giáo dục đối tƣợng học sinh này, tôi đã tiến hành phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với các CBQL nhà trƣờng, GVCN và bản thân HS trong nhà trƣờng. Phư ng pháp điều tra: Tôi đã tìm hiểu hiệu quả công tác GVCN đối với việc giáo dục học sinh yếu kém ở trƣờng THPT Số 2 Văn Bàn thông qua hệ thống các câu hỏi, các phiếu khảo sát xin ý kiến các CBQL, GV và HS, nhằm thu thập ý kiến chủ quan của các thành viên. Phư ng pháp tổng kết kinh nghiệm: Là sự kết hợp giữa lý luận quản lý về phối hợp các lực lƣợng giáo dục với thực tiễn, là quá trình đem lý luận quản lý phân tích những kinh nghiệm thực tiễn kinh nghiệm giáo dục học sinh lớp chủ nhiệm. 3. Nh m phư ng pháp nghi n cứu h trợ Gồm các phƣơng pháp thống kê, toán học, biểu bảng, sơ đồ 5 PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Vị trí, vai trò của GVCN: - Là ngƣời thay mặt hiệu trƣởng, hội đồng nhà trƣờng và cha mẹ HS quản lý toàn diện tập thể HS lớp mình, phấn đấu theo mục tiêu chung của nhà trƣờng. - Là ngƣời lãnh đạo, tổ chức điều hành, kiểm tra mọi hoạt động và các mối quan hệ ứng xử thuộc lớp mình phụ trách. - Là nhân vật trung tâm để hình thành nhân cách cho HS và là cầu nối giữa nhà trƣờng và xã hội. 2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của GVCN : - Chức năng của GVCN lớp: + Xây dựng tổ chức lớp thành một đơn vị vững mạnh. + Tổ chức điều khiển lãnh đạo các hoạt động giáo dục nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện. + Thiết lập và phát triển mối quan hệ với các lực lƣợng giáo dục trong và ngoài trƣờng để giáo dục HS. - Nhiệm vụ của GVCN : + Tìm hiểu và nắm vững HS trong lớp về mọi mặt giáo dục để đẩy mạnh sự tiến bộ của lớp. + Cùng các giáo viên khác và cán bộ Đoàn, Hội phối hợp nhanh chóng, nhất là biện pháp đẩy mạnh một tập thể vững mạnh, giúp đỡ và tạo điều kiện cho Đoàn, Hội của lớp hoạt động và phát huy ý thức làm chủ, tự giác và chủ động của học sinh trong các hoạt động giáo dục. + Cộng tác chặt chẽ với gia đình học sinh trong nhiệm vụ giáo dục các em. + Phối hợp với các giáo viên khác, với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, với gia đình học sinh tổ chức nhận xét đánh giá và xếp loại học sinh vào cuối kì và cuối năm học theo nội dung và tiêu chuẩn quy định của Bộ Giáo dục, đề nghị khen học sinh, đề nghị danh sách HS đƣợc lên lớp, phải ở lại lớp và danh sách đƣợc giao nhiệm vụ học tập hoặc rèn luyện thêm trong hè. 6 - Quyền hạn của GVCN: + Đƣợc cung cấp phƣơng tiện và tài liệu cần thiết để tiến hành nhiệm vụ. + Đƣợc tham dự và biểu quyết trong hội đồng kỷ luật và khen thƣởng khi các tổ chức này giải quyết những vấn đề liên quan đến học sinh của lớp mình phụ trách. + Đƣợc quyền cho học sinh nghỉ học, đƣợc quyền đề nghị khen thƣởng và thi hành kỷ luật học sinh trong phạm vi thể lệ quy định. 3. Quy trình công tác của GVCN lớp: Để đảm bảo công tác chủ nhiện lớp đạt hiệu quả cao, ngƣời giáo viên chủ nhiệm lớp phải tuần thủ một số quy trình sau: a. Điều tra đối tượng học sinh: Cụ thể là tìm hiểu tình hình mọi mặt của học sinh lớp mình, hoàn cảnh đặc biệt, đặc điểm, cá tính, điều kiện sống... của từng em. Đối với những học sinh có dạng cá biệt để có những biện pháp giáo dục thích hợp. b. Xây dựng kế họch chủ nhiệm: Kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp phải căn cứ vào chủ trƣơng của nhà trƣờng và tình hình thực tế của lớp. Cần xây dựng kế hoạch cả năm, kế hoạch học kỳ, kế hoạch tháng và kế hoạch tuần. c. Chỉ đạo tập thể học sinh thực hiện kế hoạch: - Bồi dƣỡng năng lực tổ chức, chỉ đạo và thực hiện kế hoạch cho đội ngũ cán bộ lớp, để các em làm tốt nhiệm vụ đƣợc giao. - Tổng kết đúc rút kinh nghiệm sau mỗi đợt công tác, có khen, có chê đối với tập thể cùng nhƣ cá nhân. - Trong khi điều hành công việc của lớp mình, mỗi GVCN phải có một số công tác chủ nhiệm để ghi chép theo dõi hằng ngày. II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Thu n lợi - Làm GVCN ai cũng đã từng gặp phải trong lớp mình có những HS cá biệt nhƣ: Học lực yếu, hay cùng trốn tiết, trốn học, ngủ trong giờ học, vô lễ với GV tóm lại những HS này không có niềm tin và động lực để học tập khi GVCN mời PHHS thì PHHS cũng bó tay, than phiền nhờ thầy cô giúp đỡ . 7 - Phấn đấu để đạt đƣợc kết quả học tập cao cho tất cả học sinh trong các điều kiện của nền giáo dục THPT là nhiệm vụ phức tạp và rất quan trọng, nhƣng kinh nghiệm của các trƣờng và của các giáo viên giàu kinh nghiệm đã khẳng định rằng, nhiệm vụ này có thể hoàn toàn thực hiện đƣợc. Nhiều trƣờng phổ thông và nhiều giáo viên không có một học sinh lƣu ban nào trong quá trình nhiều năm công tác. - Cuộc đấu tranh vì chất lƣợng kiến thức cao, việc ngăn ngừa tình trạng học kém và lƣu ban là một vấn đề giáo dục quam trọng nhất đòi hỏi không chỉ áp dụng các phƣơng pháp dạy học hợp lí nhất và hoàn thiện quá trình học tập, mà nó còn có liên quan điến việc hình thành đạo đức của học sinh đang thƣờng xuyên phát triển, đến việc giáo dục các phẩm chất đạo đức nhƣ lòng tôn trọng nghĩa vụ, tinh thần trách nhiệm, tính tổ chức, sự cần mẫn, sự bền bỉ và ý thức tập thể Vì thế nên kết quả học tập của học sinh không chỉ phụ thuộc vào hoạt động dạy học của các giáo viên bộ môn mà ở một mức độ đáng kể còn phụ thuộc vào công tác giáo dục khéo léo và có mục đích của giào viên chủ nhiệm và vào mối quan hệ của họ với gia đình học sinh. Vì vậy trong công tác chủ nhiệm ngƣời giáo viên cần chuẩn bị cho mình những kiến thức, kỉ năng, kỉ xảo cần thiết cho công tác với học sinh yếu, kém. - Cần phải chỉ ra rằng, rất đáng tiếc là trong sách báo sƣ phạm hiện nay có rất ít công trình đề cập đến vấn đề này, đặc biệt ít có tài liệu nói cụ thể về công tác giáo dục với hoc sinh học kém. 2. Kh khăn: - Một điều khó khăn lớn là đối tƣợng HS nghiên cứu có địa bàn phân bố rộng, có những gia đình HS ở cách xa trƣờng vài chục cây số, đƣờng đến trƣờng lầy lội, không có điện thoại liên lạc, kinh tế gia đình khó khăn ..Khả năng nhận thức tƣ duy của các em không đồng đều và thƣờng không ổn định, sở thích nhu cầu có nhiều khác biệt, động cơ học tập và hứng thú cũng khác biệt nhau rất nhiều, số lƣợng HS trong một lớp đông. 8 - Tuy nhiên động lực lớn nhất đối với mỗi giáo viên chúng tôi là đƣợc sự động viên an ủi, tin tƣởng của nhà trƣờng, của các đồng nghiệp, PHHS và các cấp chính quyền địa phƣơng. - Vì vậy với những kinh nghiệm trong nhiều năm công tác chủ nhiệm tôi xin trình bày một số các biện pháp mà tôi đã thực hiện trong những năm qua và mang lại nhiều khả quan. III. CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Nghi n cứu tâm l giáo dục đối với học sinh yếu kém - Qua khảo sát tìm hiểu đối nhiều HS của nhiều thế hệ mà tôi đã công tác giảng dạy và làm chủ nhiệm thì nhiều HS cho rằng có rất nhiều vấn đề khó khăn khiến các em gặp thất bại trong học tập. Và một số giáo viên chủ nhiệm nghĩ các HS giỏi không bao giờ gặp phải những vấn đề nhƣ thế. Một kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết các HS, kể cả nhũng HS giỏi đều có chung 16 vấn đề khó khăn phổ biến sau đây: + Trí nhớ kém + Thích trì hoãn công việc + Lƣời biếng + Nghiện trò chơi điện tử, xem tivi, internet + Gặp khó khăn trong việc hiểu bài giảng + Dễ dàng bị sao lãng +Khả năng tập trung ngắn hạn + Mơ màng trong lớp học + Sợ thi cử + Hay phạm lỗi do bất cẩn + Chịu áp lực từ gia đình + Có quá nhiều thứ để học và quá ít thời gian + Không có động lực học + Dễ dàng bỏ cuộc + Thầy cô dạy không lôi cuốn + Không có hứng thú đối với môn học - Việc nghiên cứu các nguyên nhân học kém là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn đối với ngƣời giáo viên chủ nhiệm. Để giảm nhẹ cho công việc thu thập tài liệu về HS học yếu, kém chúng ta cần phải có những chƣơng trình đặc biệt. Trong chƣơng trình này có điểm ra những điều cần biết về HS. Chƣơng trình cần nghiên cứu đầy đủ toàn diện về HS bao gồm: Nghiên cứu hoạt động nhận thức, lĩnh vực tình cảm, ý chí, hành vi và tình hình thể lực của các em. Căn cứ vào các dữ liệu nhƣ: trạng thái xúc cảm, lí trí hành vi và tình trạng thể lực, trạng thái chú ý và trí nhớ hoặc chức năng tâm lí riêng biệt nào đó của các em HS. - Khi bắt tay vào nghiên cứu HS yếu, kém ngƣời GVCN cần thiết lập mối quan hệ cần thiết với em HS. Điều này sẽ giúp cho việc tìm hiểu đƣợc tốt hơn những đặc điểm cá nhân của HS. Nhằm mục đích này tôi thƣờng dự giờ các giờ học lớp chủ nhiệm, thăm gia đình, tham dự vào các hoạt động ngoại khóa, tham gia trò chuyện cùng HS. 2. Tìm hiểu đối tượng học sinh lớp chủ nhiệm - Ngay khi tiếp nhận lớp chủ nhiệm, việc đầu tiên cần làm là tìm hiểu đối tƣợng học sinh, hoàn cảnh gia đình, sở trƣờng, sở thích, tính cách để từ đó có những đánh giá chính xác nhất về từng đối tƣợng, trên cơ sở đó có những biện pháp giáo dục phù hợp. Các biện pháp chủ yếu để tìm hiểu đối tượng là: 10 2.1. Thông qua phiếu điều tra thông tin học sinh PHIẾU ĐIỀU TRA HỌC SINH ĐẦU NĂM 1. Họ tên học sinh: 2. Ngày tháng năm sinh: Nam/ Nữ: . Nơi sinh: .. 3. Quê quán: 4. Dân tộc: .. .Tôn giáo: 5. Đoàn viên/Đội viên: . Ngày vào Đoàn: ... . . . . 6. Chỗ ở hiện nay (Số nhà, tổ, thôn bản /khu phố, xã/ thị trấn, huyện, tỉnh): ... 7. Địa chỉ, số điện thoại nơi ở trọ (nếu có): .. 8. Phƣơng tiện đi học: 9. Kết quả học tập năm trƣớc: + Học lực: + Hạnh kiểm: .. + Các môn học tốt nhất: .. + Môn học chƣa tốt: .... 10. Chức vụ đã làm những năm học trƣớc: . 11. Năng lực, sở trƣờng của bản thân: ... 12. Sở thích cá nhân: ... 13. Ƣớc mơ nghề nghiệp: 14. Khó khăn của bản thân hiện nay: .. 15.Tự đánh giá hạn chế của bản thân: . . 16. Ngƣời bạn thân nhất (Họ tên, học lớp nào, trƣờng nào/đang làm gì, số điện thoại): .. 17. Họ tên cha: Năm sinh: Nghề nghiệp: 18. Họ tên mẹ: Năm sinh: ..Nghề nghiệp: 19. Địa chỉ, số điện thoại liên lạc với PHHS: . ... .. 20. Họ tên, nghề nghiệp, số điện thoại của anh, chị, em ruột: . . . 11 21. Thuộc diện con liệt sĩ, thƣơng binh, bệnh binh, gia đình CCCM: . 22. Gia đình thuộc diện đói, nghèo, cận nghèo: 2.2. Tìm hiểu đặc điểm học sinh thông qua quan sát học sinh học tập, vui trơi hoặc bằng việc trao đổi, trò chuyện với học sinh, phụ huynh, GVCN cũ … của các em. - Việc quan sát phải lâu dài và có hệ thống để sao cho các kết luận rút ra từ các sự kiện quan sát đƣợc không phải là những kết luận tình cờ và hời hợt, chúng phải phản ánh đƣợc những đặc điểm cá nhân đáng kể của HS, cho phép theo dõi em HS trong sự phát triển của em đó, việc quan sát cần phải sâu sắc, nó bao gồm không chỉ một sự ghi chép chính xác và đầy đủ các sự kiện và hiện tƣợng về hành vi của HS mà còn giải thích đúng đắn các sự kiện và hiện tƣợng này, vì rằng việc quan sát không chỉ nhằm mô tả các hành động bên ngoài của HS mà còn phải tìm ra các động cơ và nguyên nhân của những hành động này. Đây cũng là mục đích cơ bản của sự quan sát: Xuất phát từ những sự kiện bên ngoài của việc quan sát phải vạch ra đƣợc những đặc điểm cá nhân của HS và những đặc điểm đặc thù về nhân cách của em đó. - Hiệu quả của các cuộc trò chuyện phụ thuộc vào sự suy nghĩ kĩ càng về phƣơng pháp tiến hành chúng, tùy thuộc vào kĩ năng, nghệ thuật và sự lịch thiệp cùa giáo viên. Các thủ thuật tiến hành phải đƣợc cá biệt hóa tối đa và chúng phải nhất thiết thay đổi tùy theo hoàn cảnh và điều kiện cụ thể , tùy theo cá tính của em học sinh cần nghiên cứu. Khi tiến hành các cuộc trò chuyện cần phải lƣu ý không chỉ tới nội dung các câu trả lời của HS, mà cần phải tới cả cách thể hiện bên ngoài của HS trong khi trả lời, tới tính cách giọng nói và cách diễn đạt ngôn ngữ. - Những cái mà HS đã làm nhƣ bài làm văn, bài báo tƣờng, sổ nhật kí, bức tranh vẽ, hình vẽ, vở HS, các mô hình sẽ cho ta nhiều điều quý báu nêu lên đƣợc đặc điểm của HS. Tất cả những dạng sáng tạo này của các em sẽ giúp ta tìm ra đƣợc những đặc điểm cá nhân của các em chỉ trong trƣờng hợp nếu nhƣ sự phân tích những sản phẩm này là khách quan, và những cứ liệu thu nhận đƣợc sẽ đƣợc đối chiếu với những sự kiện khác nhận đƣợc bằng các thủ pháp 12 khác về mặt phƣơng pháp. Quy tắc này còn có liên quan đến việc sử dụng các bài tập thực nghiệm trong khi nghiên cứu các quá trình tâm lí riêng biệt của HS. - Một trong những yêu cầu quan trọng đối với công tác nghiên cứu HS học kém là việc tiến hành ghi chép có hệ thống các sự kiện quan sát trong một cuốn sổ tay dành riêng cho mục đích này. Trong quá trình nghiên cứu HS, sổ tay đƣợc sử dụng theo một hệ thống nhất định và có kế hoạch, nó cho phép ta nhìn thấy sự phát triển và vận động của HS, lập đƣợc kế hoạch đúng đắn cho toàn bộ công tác giáo dục và giảng dạy HS. Xin trích dẫn ra đây 1 ví dụ cụ thể nhƣ sau: Trong thời gian làm công tác chủ nhiệm khi tiến hành làm công tác cá biệt với HS kém như trường hợp của HS Doãn Đình Trưỡng học lớp 11A1 năm học 2010 - 2011. Trong những năm trước Trường học kém và em phải thi lại để lên lớp, trong các giờ học em không chăm chú, thường xuyên nghỉ học đi chơi điện tử. Khi trong lớp tiến hành kiểm tra, em cảm thấy mình không được tự tin, tất cả sự chú ý của em đều nhằm vào việc làm sao để có thể chép bài của bạn mà thầy giáo không thấy. Phần lớn các giáo viên bộ môn đều cho rằng HS Trường không có năng lực mà lại lười biếng. Với vai trò là giáo viên chủ nhiệm khi quan sát tôi thấy Trường có năng lực bình thường và có sự phát triển chung không phải là kém. Điều này được thể hiện qua cách nói có văn hóa của em, qua sự hứng thú của em đối với thể thao và đối với việc đọc sách báo ở thư viện. Nhưng Trường chưa có thái độ đúng đắn đối với việc học tập, em thiếu các kỹ năng và kỹ xảo lao động độc lập, sự chú ý có chủ định ở em chưa được phát triển cũng như thiếu một vài phẩm chất cần thiết cho hoạt động lao động. Khi đến thăm gia đình Trường, tôi càng tin tưởng vào sự đúng đắn về những kết luận của mình hơn. Trường là đứa con trai độc nhất nên rất được chiều chuộng trong gia đình. Cha hoặc mẹ đã làm tất cả, Trường không tự lực làm cái gì cả. Từ những ngày đầu học tập, cha mẹ đã giúp em trong những khó khăn nhỏ nhặt nhất. Một sự bảo trợ quá ư tỉ mỉ như vậy đã làm giảm ý chí, năng lực và sáng kiến của em và chẳng bao lâu em đã không để ý đến việc lúc nào cần phải ngồi chuẩn bị bài vở, vì rằng tất cả những cái đó đã được mẹ em làm hộ. 13 Tôi đã phải làm việc nhiều để thay đổi cách giáo dục Trường trong gia đình. Trước hết cần phải thuyết phục cha mẹ về sự sai lầm của các hành động của họ, sau đó cùng với họ xác định các biện pháp giáo dục tiếp tục Trường. Họ đã xây dựng hệ thống giáo dục cho Trường những thói quen, kỹ năng, động cơ và tình cảm cần thiết cho việc học tập. Ví dụ, tôi và cha mẹ đã đòi hỏi Trường phải hoàn toàn tự lực thực hiện tốt các bài tập về nhà. Khi bài có thiếu sót nhỏ, hoặc làm cẩu thả, hoặc chưa hoàn thiện, họ động viên em phải làm lại hoặc sửa đúng. Mỗi một bài làm tốt đều được thưởng, và điều này gây cho em lòng tin tưởng vào sức lực của mình và tạo ra cảm xúc tốt. Việc tổ chức các bài tập bổ sung nằm mục đích dạy cho em các học đã có ảnh hưởng lớn lao đến việc hành thành các kỹ năng, kỹ xảo, đến việc giáo dục nhiều phẩm chất cần thiết để học tập tốt. Kết quả của công việc rất tinh tế, bền bỉ và hết sức chú ý của tôi và của gia đình đã làm cho em Trường có được sự hào hứng học tập và thích thú lao động nói chung và kết quả học tập về các bộ môn đã được nâng lên một cách rõ rệt, cuối năm học lớp 11 em đạt được danh hiệu HSTT. - Từ kết quả điều tra, nghiên cứu, tôi đã đi đến kết luận rằng, công tác với học sinh kém đòi hỏi mỗi thầy giáo, giáo viên chủ nhiệm phải có nghệ thuật sƣ phạm và trong mỗi trƣờng hợp cụ thể phải biết cách đi đến học sinh để giúp các em học tập tốt hơn và góp phần phát triển những tính cách tốt cần thiết cho cuộc sống và lao động. Kết quả của công tác cá biệt với học sinh học kém tùy thuộc vào việc sử dụng khéo léo sức mạnh giáo dục của tập thể, của tổ chức đoàn và đội, của phụ huynh và giáo viên. 3. Tạo niềm tin đối với học sinh: Ngƣời GVCN phải tự xây dựng cho mình một biện pháp riêng để xây dựng niềm tin cho bản thân học sinh, chuyển hóa ý nghĩ tiêu cực của các em học sinh yếu rằng “mình không thể học tốt môn học đó” sang ý nghĩ tích cực rằng “mình có thể học tốt môn học đó”, từ đó xây dựng cho học sinh niềm tin vào bản thân mình, xây dựng động cơ học tập cho các em hƣớng đến việc học sinh có thể tự hoạch định mục tiêu, kế hoạch, phƣơng pháp học tập của bản thân mình. Việc xây dựng niềm tin cho học sinh có thể bắt đầu từ 2 nội dung sau đây: 14 3.1. Chuyển h a nghĩ ti u cực thành nghĩa tích cực. - Đối với những HS yếu, kém khi làm bài kiểm tra hay bài tập bị điểm kém thì luôn có nhiều lý do biện hộ cho điểm kém đó, đại loại nhƣ sau: Khi giáo viên hỏi: Vì sao em không học bài cũ ở nhà? Thì câu trả lời của HS như sau: + Em có học bài ở nhà nhưng khi thầy đặt câu hỏi, em quên nên không trả lời được. + Em có học bài ở nhà nhưng câu hỏi của thầy không nằm trong phần nội dung em học, nên em không trả lời được. + Em có học bài ở nhà nhưng thầy, cô nêu câu hỏi khó nên em không trả lời được… GVCN hỏi: Vì sao em không làm bài tập về nhà ở SGK? HS trả lời: + Bài tập ở SGK khó, em làm không được. + Ở nhà em có làm nhưng khi lên bảng em quên công thức nên không làm được. + Thầy dạy em không hiểu nên không làm được bài tập ở nhà… GVCN hỏi: Vì sao em không thích học môn Toán? HS trả lời: + Môn toán khó, em không làm được nên em ghét nó. + Con ghét thầy toán, giọng thầy giảng khó nghe, khi lên bảng thầy toàn tra những bài tập khó… + Em không biết học toán để làm gì? Nó chẳng liên quan gì đến cuộc sống của em. + Em không biết gì về môn Toán cả, nhìn vào em rối tung rối mù lên em chẳng biết gì cả, em ghét nó, học chỉ mất thời gian thôi. Khi phụ huynh hỏi vì sao con bị điểm kiểm tra bài miệng kém, hoặc điểm kiểm tra bài 45 phút kém. Học sinh trả lời: 15 + Thầy giảng bài con không hiểu nên con trả lời không được, giọng thầy nói khó nghe. + Con có học bài nhưng do thầy ghét con nên nêu câu hỏi khó, con không trả lời + Con có học bài nhưng do thầy ghét con nên nêu câu hỏi khó, con không trả lời được… + Con có ôn bài nhưng đề thầy ra khó nên con không làm được… - HS sẽ tìm ra hàng trăm lí do để biện hộ cho các điểm kém của mình khi GVCN hay PHHS hỏi đến. Vậy làm sao để tạo cho các em một niềm tin trong học tập, để làm đƣợc điều đó, thì ngƣời GVCN hay PHHS phải chuyển hóa những ý nghĩ tiêu cực của HS sang ý nghĩa tích cực nhƣ: Em đã làm bài tập xong chưa, thầy biết thầy bộ môn đã cho em nhiều bài tập; mới đầu em làm sẽ gặp nhiều khó khăn, nhưng nhiều lần, quen dần em sẽ làm tốt hơn và nhanh hơn, thầy tin nếu cố gắng em sẽ làm được… + “Thầy toàn ra đề bài kiểm tra cực khó”. GVCN: Thầy đồng ý là bài kiểm tra thầy bộ môn ra khá phức tạp vì đó là để cho tất cả những câu hỏi trong kỳ thi học kỳ sẽ dễ dàng hơn đối với em. +“Em ghét thầy toán, thầy cứ đặt câu hỏi khó cho em”. 16 GVCN: Thầy biết là em không ưa thầy toán vì thầy đưa ra nhiều bài tập và câu hỏi khó cho em. Rất có thể đó là vì thầy nghĩ em có tiềm năng học tốt và tiến bộ nhanh hơn một số bạn khác. + Hay khi phụ huynh hỏi vì sao điểm môn Toán còn kém. HS “ Học Toán để làm gì? Nó chẳng liên quan gì đến cuộc sống của con.”, “ Bố đồng ý là đa số những công thức toán học thì không hữu ích lắm. Bên cạnh đó việc học môn toán sẽ giúp não bộ được rèn luyện để trở nên nhạy bén hơn và thông minh hơn, giúp con giải quyết được vấn đề trong cuộc sống”. + “Học với hành, chỉ phí thời gian.”, “Bố đồng ý là việc học phí thời gian nếu con không biết tại sao con phải học, hay nếu con học chỉ vì bố mẹ. Đồng thời, nếu con đạt được mục tiêu vươn tới thành công, việc học sẽ mang lại cơ hội giúp con có được những gì con muốn”. + “Việc học thật nhàm chán”. “Bố đồng ý và việc học nhàm chán và đó là lí do tại sao chúng ta phải tìm cách làm việc học trở nên vui vẻ và thú vị”… - Thừa nhận ý kiến của các em là tiền đề cho bƣớc chuyển hóa ý nghĩ tiêu cực sang ý nghĩ tích cực. Khi chúng ta công nhận quan điểm của con cái, chúng sẽ ở trong tâm thế thoải mái và để chấp nhận đề nghị của chúng ta hơn. - Tôi hy vọng phƣơng pháp chuyển hóa ý nghĩ tích cực là một công cụ hiệu quả mà mỗi giáo viên hay phụ huynh chúng ta vận dụng để tác động một cách tích cực đến suy nghĩ của HS hay con cái của chúng ta. 3.2. Mười bước thành công trong học t p - Tạo niềm tin cho học sinh thông qua việc cho các em thấy “thành công tuy xa nhƣng không phải là không thể đi đến” và GVCN dạy cho học sinh xây dựng mục tiêu, kế hoạch, phƣơng cách học tập để có thể đạt đƣợc mục tiêu mà mình đƣa ra. Có thể hƣớng dẫn các em theo các bƣớc sau đây: Bước 1: Niềm tin tích cực Điểm gặp gỡ đầu tiên của tất cả học sinh xuất sắc là chúng có một cơ sở niềm tin tích cực. Chúng tin rằng chúng có thể và xứng đáng đạt đƣợc điểm tuyệt đối. niềm tin tích cực truyền cảm hứng mạnh mẽ cho chúng trong học tập. Nếu giả sử chúng có sơ xuất hay không đạt đƣợc những gì đề ra, chúng không 17 bỏ cuộc mà trái lại sẽ học hỏi từ sai lầm của mình và làm lại cho đến khi thành công. Bước 2: Đề ra mục ti u phấn đấu cụ thể, rõ ràng Yếu tố thứ hai phân biệt những học sinh giỏi này với những em còn lại là chúng hƣớng đến các mục tiêu cụ thể, rõ ràng và trên tất cả, chúng biếtmình muốn gì trong cuộc sống. Các mục tiêu trong tƣơng lai của chúng mang lại cho chúng nguồng động lực lớn thúc đẩy bản thân chúng có tinh thần và thái độ học tập chăm chỉ, trong khi những em khác bị phân tán vào những việc khác ngoài chuyện học tập. Chúng đặt ra những mốc cụ thể nhƣ đạt toàn điểm 10 trong kỳ thi và làm hết sức mình để đạt đƣợc điều đó. Chúng coi điểm số cao nhƣ một phƣơng tiện giúp mình đạt đƣợc mong muốn trong cuộc sống. Trong khi đó, những học sinh trung bình dễ dàng bị phân tâm và thiếu hẳn động lực vƣơn lên, đơn giản vì chúng không có hƣớng đi cụ thể trong cuộc sống. Chúng không biết rằng mình học để làm gì. Đa số những em này học vì bị cha mẹ và thầy cô ép buộc phải học. Trả lời cho câu hỏi chúng muốn đạt kết quả nhƣ thế nào, chúng thƣờng đáp rằng “Tôi không biết”, “Điều đó phụ thuộc vào mức độ khó của bài thi” hay “Tôi chỉ hy vọng mình thi đậu”. Bước 3: Quản l thời gian Bƣớc cần thiết tiếp theo là mà một học sinh “Điểm 10” thực hiện tốt là biết cách ƣu tiên cho những việc quan trọng và quản lý thời gian tốt để hoàn thành những nhiệm vụ đề ra. Nếu không nắm đƣợc kỹ năng quản lý thời gian, chúng sẽ bối rối không biết cách phân bổ thời gian cho những yêu cầu trong học tập, hoạt động ngoại khóa, gia đình và giải trí. Chúng sẽ thƣờng rơi vào trạng thái hoang mang không biết phải làm cái gì trƣớc cái gì sau, hoặc để nƣớc đến chân mới nhảy. Câu cửa miệng của những em này thƣờng là “Mình sẽ làm việc đó khi có thời gian” hay “Thôi cứ để đến mai hẵng hay”. Bước 4: Đọc nhanh Điều đầu tiên mà học sinh cần lên kế hoạch phải làm là đọc sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo khác. Các em cần luyện kỹ năng đọc nhanh, rút ngắn thời gian đọc sách và đọc hiệu quả hơn. 18 a. Đọc phần tóm tắt trước Với việc đọc phần tóm tắc trƣớc, HS có một khái niệm rõ ràng hơn, một cái nhìn tổng quan về các ý chính và các đơn vị kiến thức. Sau đó, khi đọc vào nội dung chi tiết, các em có thể lĩnh hội và nắm bài đƣợc tốt hơn. b. Đọc câu hỏi trước Các em cần đọc câu hỏi trƣớc khi đọc nội dung. Khi biết câu hỏi trƣớc HS có mục tiêu rõ ràng hơn khi đọc sách và có khái niệm sơ bộ về những thông tin chính cần nắm. Cách thức này sẽ gia tăng khả năng hiểu bài của ngƣời đọc lên đáng kể. c. Đọc với cây bút dẫn đường Đọc sách với cây bút dẫn đƣờng cho ánh mắt ngƣời đọc qua từng dòng chữ, điều đó sẽ hiệu quả hơn trong việc nắm các ý chính. d. Đọc một lúc từng cụm 5-7 từ Mắt ngƣời có khả năng đọc đƣợc 5-7 từ trong một lúc. Làm cách này HS có thể đọc sách với tốc độ tăng từ 5-7 lần (khoảng 1500 từ/ phút). Giúp cho việc học của các em có hiệu quả hơn, tiết kiệm đƣợc nhiều thời gian. Bước 5: Lọc ra thông tinh chính Khi đọc sách chúng ta không cần phải nhớ tất cả các từ có trong bài, điều quan trọng là các em cần xác định và thu tập những từ khóa có trong một đoạn văn. Chỉ có khoảng 20% từ khóa chứa đựng thông tin cần thiết để đạt điểm 10, nhờ vậy thời gian học và ôn bài giảm xuống đáng kể. Bước 6: Ghi chú bằng cả não bộ Chúng ta dùng cả não bộ vào việc sắp xếp các từ khóa và thông tin vào bảng ghi chú để ôn bài và ghi nhớ nhanh chóng. Bằng việc sử dụng cách ghi chú: sơ đồ tƣ duy, đồ thị phát triển, sơ đồ khái niện, bảng tóm tắt chƣơng . Bước 7: Kĩ thu t ghi nhớ Để ghi nhớ tốt bài học hoặc các công thức một cách chính xác, đầy đủ và lâu dài thì cần gắn các bài học hay các công thức bằng các câu chuyện, bài thơ, hay kí hiệu hay hình ảnh minh họa hay một cái tên viết tắc nào đó. Trong bƣớc 19 này giáo viên chủ nhiệm hƣớng dẫn học sinh xây dựng bản đồ tƣ duy để có thể hệ thống, tóm tắt kiến thức tốt hơn, dễ nhớ hơn. Bược 8: Ứng dụng kiến thức lí thuyết để giải các bài t p, câu hỏi Hiếm khi nào những câu hỏi và đề thi ra giống hệt trong sách hoặc chỉ cần bê nguyên si những kiến thức trong bài học vào làm là đạt điểm 10. Vì thế những HS học vẹt chẳng mấy khi đạt điểm tuyệt đối. Chúng ta cũng biết rằng mỗi đơn vị kiến thức có một số dạng câu hỏi và bài tập nhất định. Các em phải là quen với tất cả các dạng câu hỏi và bài tập có thể ra thi (từ các đề thi cũ) và các bƣớc để đƣa câu trả lời tốt nhất có thể. Bước 9: Ôn bài Các nghiên cứu khoa học cho thấy não bộ con ngƣời có khuynh hƣớng quên đi 80% những gì đƣợc học trong vòng 24 giờ. Vì vậy ông bà ta thƣờng có câu “văn ôn võ luyện” nghĩa là chúng ta phải ôn luyện thƣờng xuyên nhƣng việc ôn luyện phải có phƣơng pháp (bằng các bảng tóm tắt và sơ đồ hóa kiến thức), chứ không phải đợi đến ngày mai thi thì hôm nay mới mang vở ra ôn thì quá muộn rồi. Bước 10: Kĩ năng thi Những HS học hành hiệu quả biết cách thƣ giãn trƣớc giờ thi (vì bộ não chúng ta cũng cần nghĩ ngơi khi đó khả năng tƣ duy và tái hiện đƣợc tốt hơn). Khi làm bài thi chúng ta cần đọc kĩ đề thi, gạch chân những từ khóa quan trọng của câu hỏi, biết cách trình bày bài ngắn gọn, xúc tích và quản lí thời gian hiệu quả để hoàn thành bài thi tốt nhất. 4. GVCN l p kế hoạch cá biệt để giúp đỡ từng học sinh yếu kém tiến bộ, cuối năm học c thể được l n lớp. - Trên cơ sở quan sát những hiện tƣợng tƣơng tự và công tác làm chủ nhiệm trong nhiều năm, tôi đã đi đến một kết luận đúng đắn là lòng hăng say học tập thƣờng bị mất đi trƣớc hết là do những thất bại đầu tiên, do những khó khăn không khuất phục nổi trong khi lĩnh hội các môn học. Nếu nhƣ ngƣời giáo viên không nhận thấy kịp thời, bỏ qua những thời điểm này, thì những sai sót sẽ tích lũy đến mức độ trầm trọng, khi đó HS mất niềm tin vào khả năng nắm đƣợc 20
- Xem thêm -