Skkn môn tiếng anh thcs một số biện pháp khắc phục những lỗi thông thường khi nói và viết tiếng anh

  • Số trang: 19 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 15 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC NHỮNG LỖI THÔNG THƯỜNG KHI NÓI VÀ VIẾT TIẾNG ANH " A. PHẦN MỞ ĐẦU. I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Tiếng Anh là một ngôn ngữ phổ biến và thông dụng trên toàn thế giới. Tiếng Anh là chìa khóa để nguời học nó có một ngôn ngữ để làm phương tiện giao tiếp, là chìa khoá mở cánh cửa để bước vào thế giới hiện đại, tiếp thu các nền văn minh và văn hoá của nhân loại một cách nhanh nhất. Những thông tin của thế giới hiện đại, những tin tức có giá trị thời sự quốc tế đều phát đi từ các hãng tin BBC, VOA, Reuter , được đọc bằng Tiếng Anh. Các công trình nghiên cứu khoa học có giá trị cũng được viết bằng Tiếng Anh. Tại Việt Nam, tiếng Anh ngày càng được chú trọng và là một môn học gây được nhiều hứng thú đối với học sinh. Tuy nhiên, trong quá trình học tiếng Anh, nhiều em học sinh thường hay mắc các lỗi khi nói và viết. Những lỗi hay mắc phải do một số nguyên nhân như: thói quen, thiếu hiểu biết về văn phạm. Học sinh vùng cao nói chung và học sinh ở Đắk Sin nói riêng đều ít có sách báo để tham khảo, đọc thêm cũng như giáo tiếp cùng với người nước ngoài càng gặp rất nhiều khó khăn và hạn chế nên vấn đề này xảy ra thường xuyên qua các bài học ở lớp cũng như quá trình giao tiếp cùng bạn bè. Học sinh bậc THCS ở Đăk Sin chưa qua học tập bộ môn này ở bậc TH nên các em thường mắc phải những lỗi này nhiều hơn. Chính vì lẽ đó tôi viết sáng kiến kinh nghiệm về " Một số biện pháp khắc phục những lỗi thông thường khi nói và viết tiếng Anh " nhằm hỗ trợ cho bài giảng thêm phong phú, đa dạng và có chất lượng hơn, giúp các em học sinh khắc phục những lỗi thường gặp khi nói và viết tiếng Anh, tạo cho các em sự hứng thú và tự tin khi giao tiếp bằng tiếng Anh, cũng cố thêm kiến thức, góp phần giúp các em học tập tốt môn tiếng Anh. II. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: Tiến hành nghiên cứu và xem xét các trường hợp mắc lỗi rất tự nhiên của các em học sinh trong quá trình các em nói và viết tiếng Anh tại Trường Trung học cơ sở Trần Hưng Đạo trong thời gian từ năm 2006 đến năm 2009. Nhưng tập trung nghiên cứu sâu và sữa chữa lỗi tập trung để có kết quả đối chứng được thực hiện trên học sinh khối 6, 9 trong năm học 2008 – 2009. III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Qua nhiều năm giảng dạy, tôi nhận thấy việc học tiếng Anh của học sinh là rất khó, học sinh thường hay mắc những lỗi trong lúc nói và viết tiếng Anh. Qua quá trình học và rèn luyện của học sinh, tôi chú ý lắng nghe cách học sinh sử dụng từ trong lúc nói và viết sau đó tôi chọn lọc các lỗi mà các em thường hay mắc phải. Tương tự như vậy tôi tiến hành ở nhiều lớp cũng với những câu và cấu trúc như nhau để tìm ra cách giải quyết từng lỗi một cách dễ nhớ nhất. Năm học 2008 - 2009 là năm học tiếp tục áp dụng phương pháp mới trong việc giảng dạy và soạn giảng, đã tạo cho học sinh cơ hội nói và diễn đạt nhiều, nên giúp cho tôi nhận thấy lỗi ở các em một cách dễ dàng hơn những năm trước và học sinh cũng có cơ hội tự sửa lỗi mình mắc phải ngay lập tức thông qua sửa lỗi của bạn hoặc bài tập thực hành ngay tại chỗ qua các hoạt động theo cặp, theo nhóm. Giáo viên quan sát, lắng nghe học sinh diễn đạt nội dung trình bày ý kiến của mình trước bạn bè, trước thầy cô giáo, thông qua các tiết dự giờ. Giáo viên phát hiện, ghi chép lại, tìm cách giải quyết, đôi khi cần phải tham khảo ý kiến đồng nghiệp để tìm ra phương hướng giải quyết phù hợp với nội dung bị sai một cahs hợp lí nhất. B. NỘI DUNG I. NHỮNG LỖI HỌC SINH MẮC PHẢI VÀ CÁCH GIẢI QUYẾT: Trong quá trình dạy học trên lớp thông qua phương tiện ngôn ngữ, tôi quan sát, lắng nghe học sinh nói với học sinh, học trả lời các câu hỏi của thầy giáo, học sinh đọc bài, làm bài tập trắc nghiệm để phát hiện ra các lỗi nói và viết của học sinh. Đôi khi giáo vien bộ môn cũng tạo ra những tình huống có vấn đề để dẫn dắt học sinh vào các lỗi thông thường này để cùng nhau giải quyết, nhằm giúp các em ghi nhớ sâu sắc hơn những từ ngữ đó. Các lỗi này đa số học sinh đều mắc phải trong suốt quá trình học tập. Trong năm học này thông qua các tiết dạy nói, các bài viết, các tiết chữa bài tôi đã mạnh dạn đề ra các cách giải quyết, cụ thể như sau: - Các trường hợp mắc lỗi. - Nhận xét. - Cách giải quyết. 1. Trường hợp 1: Học sinh gặp lỗi khi đọc từ know.Các em thường đọc là / kờ- nou / thay vì đọc là/ nou/ -Tôi biết rõ anh ấy. I know him acxactly. * Nhận xét: học sinh khi nghe giáo viên đọc đọc từ know thì học sinh đọc là / kờ- nou / Hướng khắc phục: Giáo viên nêu quy tắc đọc của những từ bắt đầu bằng chữ “k” mà sau nó là một âm “ n” thì chúng ta khôn đọc âm “k” đó. Câu đúng: I know him acxactly. 2. Trường hợp 2: Dùng hear thay vì listen và ngược lại: -Tôi nghe thấy ai đó cười. I listen to somebody laughing. - Tôi quá mệt để nghe bài học. I was too tired to hear the lesson. * Nhận xét: Hai động từ trên đều có nghĩa là "nghe". hear ( heard/ heard): nghe thấy (không cần chú ý ); còn listen ( listened/listened ): lắng nghe ( có chủ tâm chú ý ). Câu đúng: I hear somebody laughing. I was too tired to listen to the lesson. * Cách giải quyết: Cho học sinh luyện tập: chon hear hay listen điền vào chỗ trống thích hợp: - We ..................... carefully. - Have you ever.....................that song sung in Laos ? - You're not ...................to what I'm saying. - I've only just ............about Jane's sickness. 3. Trường hợp 3: Dùng nhầm giữa động từ số ít và động từ số nhiều: Their son are from Australia. * Nhận xét: khi thấy their thì các em đã cho là số nhiều, vì vậy các em thường dùng động từ đi theo sau là số nhiều. Người giáo viên cần lưu ý cách sử dụng động từ theo sau là số ít hay số nhiều phụ thuộc vào danh từ đóng chức năng chủ ngữ của câu. Câu đúng: Their son is from Australia. * Cách giải quyết: Đưa ra các cụm từ hoặc từ sau để các em xác định danh từ hoặc cụm danh từ này là số nhiều hay số ít: -Son -Sons -Their son -Their sons -His son -His sons 4. Trường hợp 4: Dùng " I " thay vì " My " và ngược lại: This is my school. This is school I. * Nhận xét: Hầu hết các em học sinh lớp 6 thường nhầm lẫn " school I " là "tr ư ờng t ô i". Do các em chưa phân biệt được I là đ ại t ừ nhân xưng còn My là đại từ sở hữu. Câu đúng: This is my school. * Cách giải quyết: Dùng bảng nhỏ hoặc hai tấm bìa viết hai my và I I go to school. This is my school. Ngoài ra học sinh còn nhầm lẫn học sinh nói: Her goes to school everyday. Thay vì nói: She goes to school everyday. Giáo viên cần ghi bảng sau cho học sinh phân biệt được các đại nhân xưng và đại từ sở hữu. Đại từ nhân xưng Đại từ sở hữu I My We Our You Your They Their He His She Her It Its 5. Trường hợp 5: Dùng nhầm in với on: The plane is flying on the sky. The boys are swimming on the river . * Nhận xét: Theo tiếng Việt của chúng ta là bay trên trời, đi hoặc chạy trên đường, nhưng trong tiếng Anh là: in the sky; in the river. Câu đúng: The bird is flying in the sky The boys are swimming in the river . * Cách giải quyết: Giáo viên chúng ta cần phải lưu ý cách nói và viết tiếng Anh cho học sinh khi sử dụng giới từ. * Phụ chú: Một số thành ngữ và cụm giới từ với in và on: + In particular In the tree : : Nói riêng Trên cây In the middle of : ở giữa In front of ở phía trước : In short, in brief : In other words Tóm lại : In one word + Nói cách khác : Nói tóm lại In all : Tổng cộng In general : Nói chung On the right On the wall : : Trên tường Bên phải On the floor : Trên sàn nhà On the branch : Trên cành cây On the left : Bên trái 6. Trường hợp 6: Dùng nhầm o'clock thay vì hour và ngược lại: I always go to bed at 11 hours . * Nhận xét: Cả hai từ trên đều có nghĩa là giờ, nhưng o'clock: là giờ đúng chỉ trên đồng hồ, còn hour : là khoảng thời gian. Câu đúng: I always go to bed at 11 o'clock . * Cách giải quyết: Cho học sinh thực hành bài tập: Chọn True (T): đúng hoặc False (F): sai. (T) He works at 7 o'clock. (T) She works 8 hours a day (F) I do my homework 2 o'clocks a day 7. Trường hợp 7: Dùng nhầm make thay vì do và ngược lại: Tom did a chair yesterday. * Nhận xét: " make " và " do " đều là hai động từ có nghĩa là: làm. To do: làm ( nói chung ), còn To make: làm ( tạo ra sản phẩm ). Câu đúng: Tom made a chair yesterday. * Cách giải quyết: Cho học sinh luyện tập chọn do hay make để điền vào ô trống: 1. Don't ............... a noise. 2. My father and I ..................a desk. 3. I hope I ................. a lot of money. 4. She doesn't want to ................. her homework. 5. Wait ! I must ................. a phone call 6. You should .................. morning exercise * Phụ chú: Tuy nhiên do và make còn được dùng trong rất nhiều thành ngữ thông dụng, chúng ta cần phải học thuộc vì không dựa vào ngữ nghĩa và qui tắc nào cả. To make a mistake : To make a promise phạm lỗi lầm : To make a speech To make an excuse hứa : : phát biểu xin lỗi To make a noise : làm ồn To do evil  To do good : To do one's best làm hết sức mình : làm điều ác  thiện 8. Trường hợp 8: Dùng after thay vì behind và ngược lại: He comes behind me The sun rises after the cloud * Nhận xét: Các em chưa phân biệt được hai giới từ đồng nghĩa: "sau". Thật sự cách dùng chúng khác nhau, after vừa có nghĩa là "đằng sau", vừa có nghĩa là "sau khi"; còn behind có nghĩa là " ở đằng sau " ( không hiểu theo thời gian ). Câu đúng: -He comes after me -The sun rises behind the cloud * Cách giải quyết: Cho học sinh luyện tập: chọn after hay behind để điền vào chỗ trống thích hợp: - I came ..................he had left - Who's the girl standing ................Mary ? - A small road .................my house. - He got stronger...............his vacation. - The sun disappeared..................the cloud. - Your name comes................mine in the list. 9. Trường hợp 9: Dùng tell thay vì say và ngược lại: The policeman said the man to stand up. * Nhận xét: Cả hai động từ trên cùng có nghĩa là " nói ", nhưng cách dùng thì khác nhau. To say ( said /said ) có "to" theo sau dùng với thoai trực tiếp (direct speech ); còn to tell ( told / told ) không có "to" theo sau, dùng với thoại ngữ trực tiếp ( direct speech ) hoặc gián tiếp ( indirect speech ). Ví dụ: - Peter said " I am feeling ill " hay: Peter said to me " I am feeling ill " - Peter told me " I am feeling ill " hay: Peter told ( that ) he was feeling ill. Câu đúng: The policeman told the man to stand up. * Phụ chú: " To say " dùng trong thoại ngữ trực tiêp với điều kiện không có túc từ theo sau. Ví dụ: Jane said (that) her parents were very well + Tell somebody Say somebody -Nếu trong câu trực tiếp, động từ tường thuật ( reporting verb ) là "say to" thì trong câu gián tiếp phải đổi thành " tell" ; còn " Say " thì không đổi Ví dụ: She said to me " I met your brother yesterday " She told me that she had met my brother yesterday. -Nên quen thuộc với những thành ngữ dùng Say và tell . To say one's prayess : cầu nguyện To say a good word for : nói tốt về ( ai ) To say one's opinion : phát biểu ý kiến To tell the truth : nói sự thật To tell a lie : nói dối To tell a story : kể chuyện To tell secret : tiết lộ bí mật To tell the price : nói giá To tell one's name : xưng tên * Cách giải quyết:Cho học sinh thực hành bài tập: Chọn " Say " hoặc ”Tell " để điền vào chỗ trống: -.................me where you live. - I could ................. a thing or two about him. - The doctor ................ to me " Stay in bed a few days ". - I .............. Don't shout ". - She ............... that she was going to learn to drive. II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU - VẬN DỤNG: Sau một thời gian áp dụng sáng kiến vào việc giảng dạy, tôi đã tiếp tục tiến hành khảo sát, kiểm tra thực tế cho các học sinh trong việc áp dụng phương pháp trên trong năm học 2008-2009 tại các lớp 6A1, 6A2, 6A3, 6A4 , 9A1, 9A3 tại trường THCS Trần Hưng Đạo. Kết quả cho thấy so với thực tế trước khi áp dụng tôi đã thấy các em có nhiều tiến bộ đáng khích lệ, các em học sinh đã biết tự nhận ra lỗi sai và tự sửa sai cho nhau một cách tự nhiên trước lớp. Số lượng học sinh khắc phục được lỗi tăng lên rõ rệt. Sau khi áp dụng từ đầu học kì I cho đến giữa học kỳ II tôi có kết quả đối chiếu sau đây. Số liệu cụ thể được thể hiện ở các bảng sau: Năm học 2008 -2009 Lớp Sĩ số Số HS mắc lỗi Số HS khắc phục được lỗi 6A1 39 10 7 6A2 40 12 10 6A3 39 13 11 6A4 39 11 9 Năm học 2008 -2009 Lớp Sĩ số Số HS mắc lỗi Số HS khắc phục được lỗi 9A1 32 9 8 9A3 33 13 9 Sau khi vận dụng thành công sáng kiến này, tôi đã trao đổi cùng với các giáo viên bộ môn trong tổ Tiếng Anh. Các giáo viên trong tổ cũng nhận thấy vấn đề tôi nêu ra là sát thực tế và cũng là những lỗi mà học sinh bậc THCS thường mắc phải. Qua các tiết dự giờ , thao giảng các đồng chí giáo viên trong tổ cũng đồng ý với cách giải quyết vấn đề của tôi.Các đồng chí cũng đồng tình theo cách giải quyết của tôi. Với kết quả đã đạt được, tôi sẽ tiếp tục vận dụng sáng kiến này cho những năm học tiếp theo và hy vọng sẽ đạt được những kết quả khả quan hơn. T ừ kết quả này, tôi sẽ nhân rộng mô hình và phát hiện ra nhiều lỗi sai thông thường của học sinh để tìm hướng khắc phục nhằm nâng cao chất lượng dạy và học nói chung và sữa chữa lỗi ở môn Tiếng Anh nói riêng nhằm mục đích giúp các em học sinh nói Tiếng Anh trôi chảy hơn, viết đúng hơn. Giúp các em tự tin hơn khi nói Tiếng Anh cùng với các bạn trong lớp, trong trường, với thầy cô cũng như có một hành trang vững chắc khi bước vào công việc học tập, cũng như định hướng nghề nghiệp ở tương lai. C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I. KẾT LUẬN: Tiếng Anh cũng như các ngôn ngữ khác, việc viết và nói đúng ngữ pháp, dùng từ đúng là điều hết sức quan trọng, để người đọc, người nghe hiểu chính xác ý của người trình bày. Trên đây là một số trường hợp học sinh hay mắc lỗi khi viết và nói tiếng Anh mà trong quá trình giảng dạy tôi đã phát hiện ra. Tôi hy vọng sáng kiến nhỏ này sẽ góp phần giúp các em học sinh khắc phục được những lỗi thông thường khi viết và nói tiếng Anh, giúp các em học môn tiếng Anh đạt kết quả tốt hơn. Trong quá trình viết và vận dụng sáng kiến chắc chắn còn có những hạn chế và thiếu sót nhất định, tôi rất mong sự góp ý của thầy cô giáo và đồng nghiệp để sáng kiến được hoàn thiện hơn. II. KIẾN NGHỊ: Tiếng Anh ngày càng trở nên phổ biến và cần thiết trong cuộc sống hiện đại ngày nay, do đó nó là một môn học quan trọng đối với học sinh trung học cơ sở . Chính vì lẽ đó tôi hy vọng sự đầu tư và quan tâm hơn nữa của các cấp lãnh đạo ngành và Nhà nước trong việc trang bị cơ sở vật chất ( như máy nghe, phòng nghe nhìn, đồ dùng dạy học...) cũng như việc nâng cao trình độ chuyên môn cho các thầy cô giáo để giúp cho chúng tôi ngày càng hoàn thiện hơn, chất lượng giảng dạy môn tiếng Anh được tốt hơn, mục đích cuối cùng là giúp cho các em học sinh học tốt hơn nữa cho môn tiếng Anh . Nhà trường nên có máy kết nối In – tơ – nét cho giáo viên có điều kiện cập nhật thông tin để đáp ứng nhu cầu dạy học, không lạc hậu so với các trường ở vùng đồng bằng và thành phố. Các thầy cô giáo bộ môn cần quan tâm hơn nữa đến việc phát hiện và sữa chữa kịp thời các lỗi trên để các em tiến bộ hơn, nói và viết đỡ sai hơn. Ngoài ra Ban đại diện cha mẹ học sinh cần mua thêm sách tham khảo, sách văn phạm, sách bài tập để học sinh có điều kiện đọc thêm để khắc phục những lỗi thông thường khi giao tiếp Tiếng Anh.
- Xem thêm -