Skkn lựa chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống hiện tượng thực tiễn vào trong các bài giảng hoá học vô cơ lớp 11 chương trình nâng cao nhằm nâng cao hứng thú học tập của học sinh

  • Số trang: 21 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 22 |
  • Lượt tải: 0
nguyen-thanhbinh

Đã đăng 8358 tài liệu

Mô tả:

Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Đậu Thị Thịnh MỤC LỤC A. MỞ ĐẦU …………………………………............……………………….1 1. Hiện trạng...........…………………………………………………………...1 2. Giải pháp thay thế.....……………………………………………………….1 3. Vấn đề nghiên cứu........................……………………………………….…1 4. Thiết kế đo đường..………………………………………………………....1 B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ......................……………………………………...2 1. Cơ sở lí luận của việc sử dụng các hiện tượng thực tiễn vào các bài giảng hóa học nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh………………………………...2 1.1. Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh học tập theo hướng tích hợp…....3 1.2. Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh cách thiết lập sự liên hệ các nội dung học với thực tiễn……………………………………………………….....4 I.3. Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh thông qua các tình huống giả định bằng các hiện tượng thực tiễn………………………………………………….5 2. Một số hình thức áp dụng các hiện tượng thực tiễn trong tiết dạy.................5 2.1.Đặt tình huống vào bài mới..........................................................................5 2.2. Liên hệ thực tế trong bài dạy.......................................................................6 2.3. Lồng ghép tích hợp môi trường trong bài dạy.............................................6 3. Hệ thống các hiện tượng thực tiễn dùng cho các bài giảng của hóc học vô cơ lớp 11 chương trình nâng cao .............................................................................6 4. Ví dụ một bài có sử dụng các hiện tượng thực tiễn trong bài học................13 5: ĐO LƯỜNG(Thực nghiệm sư phạm) 5.1. Mục đích thực nghiệm........................................................................17 5.2. Đối tượng và phương pháp thực nghiệm............................................17 5.3. Kết quả thực nghiệm...........................................................................17 5.3.1. Phân tích định lượng các bài kiểm tra....................................................17 5.3.2. Phân tích định tính các bài kiểm tra........................................................18 C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. Kết luận....................................................................................................18 2. Khuyến nghị.............................................................................................18 0 Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Đậu Thị Thịnh A. MỞ ĐẦU 1. Hiện trạng 1.1. Phương pháp giảng dạy của giáo viên + Về việc sử dụng SGK: Mặc dù SGK đã được đổi mới cả về nội dung và hình thức thể hiện, xong đa phần giáo viên vẫn chỉ cho học sinh sử dụng SGK ở trình độ đơn giản như đọc, hiểu, tìm một số khái niệm…Những nội dung liên quan đến thực tế chưa được sử dụng nhiều. +Về việc sử dụng tranh, hình minh họa, sơ đồ… : Hiện nay ngoài những hình ảnh có trong SGK , còn rất nhiều hình ảnh minh họa thể hiện sinh động nội dung bài học có thể dễ dàng tìm kiếm trên mạng intenet nhưng chưa được nhiều giáo viên quan tâm và đưa vào nội dung bài học. 1.2. Tình hình học tập của học sinh + Việc sử dụng SGK: Nhiều học sinh còn chưa biết cách đọc SGK, chủ yếu học sinh sử dụng SGK để quan sát hình vẽ hay trả lời các câu hỏi mang tính chất liệt kê. + Về khả năng tự học: Khảo sát với 453 học sinh tôi dạy ở trường THPT Tĩnh Gia 2, khi được hỏi về khả năng tự học, các em trả lời như sau: - Khả năng tự đọc bài trước ở nhà: 178 em (39,3%) trả lời có đọc trước, số còn lại trả lời không (60,7%). - Khả năng tự làm hết các bài tập về nhà: 265 em (58,5%) trả lời có làm hết, số còn lại trả lời không (41,5%). - Khả năng đưa ra các câu hỏi và các ý tưởng mới cho bài học: 20 em (4,4%) trả lời có, số còn lại trả lời không (89%). + Số lượng học sinh yêu thích môn hóa học - Rất thích : 50 em (11%) - Thích : 82 em (18,1%) - Bình thường : 206 em (45,5%) - Ghét : 87 em (19,2%) - Rất ghét : 28 em (6,2%) Kết luận Như vậy thực tế trước khi áp dụng đề tài : Học sinh chưa yêu thích lắm môn hóa, chưa có ý thức tự học, tự đánh giá, khái quát và chưa biết đưa ra những ý tưởng mới cho bài. 2. Giải pháp thay thế Lựa chọn, xây dựng một hệ thống hiện tượng hóa học thực tiễn cho các bài giảng trong chương trình hóa học vô cơ 11 nâng cao. Vận dụng hệ thống các hiện tượng đã xây dựng vào trong quá trình giảng dạy nhằm giáo dục ý thức và tăng cường hứng thú học tập bộ môn hóa học cho học sinh. 3. Vấn đề nghiên cứu Việc lựa chọn, xây dựng hệ thống hiện tượng thực tiễn và vận dụng hệ thống đó vào trong quá trình giảng dạy có làm tăng hứng thú học tập bộ môn hóa học của học sinh lớp 11 nâng cao hay không? 1 Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Đậu Thị Thịnh Giả thuyết nghiên cứu Lựa chọn, xây dựng được hệ thống các hiện tượng thực tiễn cho các bài giảng trong chương trình hóa học vô cơ 11 nâng cao và vận dụng hệ thống đó vào trong quá trình dạy học sẽ làm tăng hứng thú học tập mang lại kết quả học tập bộ môn hóa học của học sinh cao hơn. 4. Thiết kế đo lường 1. Chọn 2 nhóm tương đương, xác định tác động + Nhóm 1 (lớp 11A6, 11A4): Sử dụng hệ thống các hiện tượng hóa học thực tiễn vào trong quá trình dạy học bộ môn. + Nhóm 2 (lớp 11A5,11A7): Chỉ dạy học theo phương pháp truyền thống. * Thời gian thực hiện: Tiến hành trong quá trình giảng dạy các bài giảng vô cơ lớp 11 chương trình nâng cao(Học kỳ 1) 2. Kiểm tra sau tác động trên 2 nhóm tương đương Tổ chức hai bài kiểm tra trên cả nhóm 1 và nhóm 2 với cùng đề Hóa học đã soạn ứng với nội dung liên quan tới các phần nội dung đã học. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lí luận của việc sử dụng các hiện tượng thực tiễn vào các bài giảng hóa học nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh Đối với học sinh, các em chỉ thích môn nào mình học có kết quả cao hoặc thích giáo viên nào thì thích học môn đó. Người giáo viên dạy hóa học phải biết nắm tâm lý và đặc điểm lứa tuổi của học sinh, trong đó phương pháp dạy học bằng cách khai thác các hiện tượng hóa học thực tiễn trong tự nhiên và trong đời sống hàng ngày để các em thấy môn hóa học rất gần gũi với các em. Giáo viên phải tổ chức được các hoạt động tự lực học tập cho học sinh theo những cơ sở lí luận sau: 1.1. Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh học tập theo hướng tích hợp: Với sự bùng nổ của các thành tựu khoa học trong các lĩnh vực: Vật lí, Sinh học, Hóa học…nên chương trình đào tạo cũng được phân chia thành các mảng kiến thức tương đối tách rời, cô lập với những khái niệm chi tiết khó nhớ. Xu hướng hiện nay trong dạy học hóa học nói riêng và trong các lĩnh vực khoa học nói chung, người ta cố gắng trình bày cho học sinh thấy mối quan hệ hữu cơ của các lĩnh vực không những của hóa học với nhau mà còn giữa các ngành khoa học khác nhau như: sinh học, hóa học, toán học, vật lí,… Khi dạy kiến thức hóa học bất kể từ lĩnh vực nào: cấu tạo nguyên tử, phương trình hóa học, dung dịch…đều liên quan đến kiến thức vật lí hay nhiều hiện tượng thiên nhiên, hoặc kiến thức hóa hữu cơ: gluxit, lipit, protein,…đều 2 Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Đậu Thị Thịnh liên quan đến kiến thức sinh học, nên khi sử dụng những câu hỏi mở rộng theo hướng tích hợp sẽ làm cho học sinh chủ động tìm tòi câu trả lời, đồng thời thấy được sự liên hệ giữa các môn học với nhau. Ví dụ: khi học vật lí ta giải thích hiện tượng: càng lên cao thì không khí càng loãng dựa vào lực hút của trái đất, thì với hóa học các em sẽ hiểu rõ hơn là do khối lượng mol các khí nặng nhẹ khác nhau nên bị hút mạnh yếu khác nhau, khí oxi có khối lượng mol nặng hơn so với khối lượng mol của không khí nên tập trung bên dưới, tầng trên chỉ còn lại các khí có khối lượng mol nhỏ như: H 2, ..ít khí oxi nên không khí loãng. Tuy nhiên để dạy theo cách tích hợp như trên, người giáo viên phải biết chọn những vấn đề quan trọng, mấu chót nhất của chương trình để giảng dạy còn phần kiến thức dễ hiểu nên hướng dẫn học sinh về nhà đọc SGK hoặc các tài liệu tham khảo. Ngoài ra giáo viên phải chọn lựa các hiện tượng thực tiễn phù hợp với nội dung bài mới tăng hứng thú, say mê học tập, tìm hiểu bộ môn. Nếu người giáo viên kết hợp tốt phương pháp dạy học tích hợp sử dụng các hiện tượng thực tiễn, ngoài giúp học sinh chủ động, tích cực say mê học tập còn lồng ghép được các nội dung khác nhau như: bảo vệ môi trường, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người thông qua các kiến thức thực tiễn đó. Đây cũng là hướng đi mà ngành giáo dục nước ta đang đẩy mạnh trong các năm gần đây. 1.2. Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh cách thiết lập sự liên hệ các nội dung học với thực tiễn. Học sinh thấy hứng thú và dễ ghi nhớ bài hơn nếu trong quá trình dạy và học giáo viên luôn có định hướng liên hệ thực tế giữa các kiến thức sách giáo khoa với thực tiễn đời sống hàng ngày. Rất nhiều kiến thức hóa học có thể liên hệ được với các hiện tượng tự nhiên xung quanh chúng ta. Ví dụ: Vì sao ta hay dùng bạc để “đánh gió” khi bị bệnh cảm ? Giải thích: Khi bị bệnh cảm, trong cơ thể con người sẽ tích tụ một lượng khí H2S tương đối cao. Chính lượng H2S sẽ làm cho cơ thể mệt mỏi. Khi ta dùng Ag để đánh gió thì Ag sẽ tác dụng với khí H2S. Do đó, lượng H2S trong cơ thể giảm và dần sẽ hết bệnh. Miếng Ag sau khi đánh gió sẽ có màu đen xám: 4Ag + 2H2S + O2 → 2Ag2S↓ + 2H2O (đen) Hiện tượng “đánh gió” đã được ông bà ta sử dụng từ rất xa xưa cho đến tận bây giờ để chữa bệnh cảm. Cách làm này rất có cơ sở khoa học mà mọi người cần phải biết. 1.3. Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh thông qua các tình huống giả định bằng các hiện tượng thực tiễn. Trong quá trình dạy học nếu ta chỉ áp dụng một kiểu dạy thì học sinh sẽ nhàm chán. Giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp dạy học lồng ghép vào nhau, trong đó hình thức giảng dạy bằng cách đưa ra các tình huống giả định kèm vào các phương pháp dạy để học sinh tranh luận vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh vừa tạo được môi trường thoải mái để các em trao đổi từ đó giúp học sinh thêm yêu thích môn học hơn. Ví dụ: Khi học về axetilen, GV có thể đưa ra tình huống: 3 Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Đậu Thị Thịnh Vì sao ném đất đèn xuống ao làm cá chết ? HS sẽ nhanh chóng trả lời đó là đất đèn có thành phần chính là canxi cacbua CaC2, khi tác dụng với nước sinh ra khí axetilen và canxi hiđroxit: CaC2 + 2H2O � C2H2 + Ca(OH)2 Tuy nhiên nếu hỏi chất nào làm cá chết thì học sinh không dễ giải thích được: Axetilen có thể tác dụng với nước tạo ra anđehit axetic, chính chất này làm tổn thương đến hoạt động hô hấp của cá vì vậy có thể làm cá chết. Tình huống mang tính thách đố như vậy sẽ kích thích học sinh học tập và thi đua nhau tìm câu trả lời. Các em sẽ nhớ kiến thức lâu hơn. 2. Một số hình thức áp dụng các hiện tượng thực tiễn trong tiết dạy 2.1.Đặt tình huống vào bài mới Tiết dạy có gây sự chú ý của học sinh hay không nhờ vào người hướng dẫn (giáo viên) rất nhiều. Trong đó phần mở đầu đặc biệt quan trọng, nếu ta biết đặc ra một tình huống thực tiễn hoặc một tình huống giả định yêu cầu học sinh cùng tìm hiểu, giải thích qua bài học sẽ cuốn hút được sự chú ý của học sinh trong tiết dạy. Ví dụ: Trước khi dạy bài Photpho, Gv cho HS chơi một trò chơi đuổi hình bắt chữ: Gv cho HS quan sát trên máy chiếu hình vẽ 1 bộ xương người trên 1 bãi tha ma và hỏi HS hiện tượng gì thường gặp trong các bãi tha ma khi trời mưa nhẹ (có 2 từ) HS sẽ trả lời đó là hiện tượng “ ma trơi ” GV: Vậy hiện tượng “ ma trơi ” là hiện tượng gì? Nó có đáng sợ như người ta vẫn nghĩ không? Để giải đáp cho câu hỏi đó, chúng ta cùng nghiên cứu bài hôm nay. Bài 14 “ Photpho” Việc đưa ra trò chơi cùng hiện tượng như vậy sẽ gây hứng thú và tò mò cho HS khiến bài giảng trở nên hấp dẫn và sinh động. 2.2. Lồng ghép tích hợp môi trường trong bài dạy Vấn đề môi trường: nước, không khí, đất,...đang được con người nhắc đến rất nhiều. Trong cuộc sống hằng ngày các hiện tượng thường xuyên bất gặp như: nước thải của một ao cá, chuồng heo, chuồng vịt...; khói bụi của các nhà máy xay lúa, các lò gạch, các cánh đồng sau thu hoạch,... có liên quan gì đến những diễn biến bất thường của thời tiết hiện nay không. Giáo viên dạy học bộ môn hóa có thể lồng ghép các hiện tượng đó vào phần sản xuất các chất, hay ứng dụng của một số chất... Ngoài việc gây sự chú ý của học sinh trong tiết dạy còn giáo dục ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường cho từng học sinh. Tùy vào thực trạng của từng địa phương mà ta lấy các hiện tượng cho cụ thể và gần gũi với các em. Ví dụ: Các hiện tượng “Hiệu ứng nhà kính’’ hay “mưa axit” là hiện tượng gì? Tác hại của chúng ra sao? 2.3. Liên hệ thực tế trong bài dạy Khi học xong vấn đề gì học sinh thấy có ứng dụng thực tiễn cho cuộc sống thì các em sẽ chú ý hơn, tìm tòi, chủ động tư duy để tìm hiểu, để nhớ hơn. Do đó mỗi bài học giáo viên đưa ra được một số ứng dụng thực tiễn sẽ lôi cuốn được sự chú ý của học sinh. 4 Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Đậu Thị Thịnh Ví dụ: Khi dạy xong bài Photpho, GV có thể chiếu hình ảnh những ứng dụng thực tiễn của Phopho như làm đầu que diêm, làm phân bón, làm thuốc chuột, làm đạn pháo... HS quan sát những hình ảnh đó sẽ nhớ lâu hơn rất nhiều Giáo viên cũng cần chú ý khi sử dụng các hiện tượng hóa học thực tiễn nên khéo léo trong giải thích vấn đề, giáo viên phải biết lựa chọn cách giải thích cho phù hợp, nếu học sinh tỏ ra tìm tòi hơn chúng ta có thể khích lệ, mở ra hướng giáo dục vai trò quan trọng của bộ môn mà các em sẽ được tìm hiểu ở các cấp cao hơn. 3. Hệ thống các hiện tượng thực tiễn dùng cho các bài giảng của hóc học vô cơ lớp 11 chương trình nâng cao Câu 1: Tại sao trong bảo tàng, người ta thường dùng N 2 để bảo quản các đồ gỗ, vải giấy? Giải thích: Vì N2 có 2 đặc tính quan trọng không duy trì sự sống nên vi khuẩn không thâm nhập được, N2 khá trơ nên ngăn cản sự oxi hóa Áp dụng: Giáo viên có thể dùng câu hỏi này để vào bài 10: Nitơ Câu 2: Một đứa trẻ mới sinh đang trong cơn nguy cấp, mặc dù bé đang thở nhưng máu trong người bé vẫn không đủ oxi. Một bác sĩ đặt máy thông khí để giúp bé hít thêm oxi cho phổi, nhưng lượng oxi trong máu vẫn thấp. Thế rồi một bác sĩ khác đưa thêm vào chính luồng khí thở đó một dược phẩm mới thì chỉ vài phút sau da bé đã trở lại hồng hào. Hóa chất đó đã làm giãn mạch máu và tăng luồng máu cho phổi khi được hít vào. Đó là hóa chất nào? Giải thích: Đó là khí NO Áp dụng: Giáo viên có thể dùng câu hỏi này trong bài 10: Nitơ khi nêu về phản ứng giữa N2 và O2 Câu 3: Trong một buổi tiệc, 1 nhà hóa học mở một lọ khí ra và mọi người đều cười ngặt nghẽo, đó là khí gì? Giải thích: Khí đó gọi là khí cười có công thức là N2O Áp dụng: Giáo viên có thể dùng câu hỏi này trong bài 12: Axit nitric và muối nitrat Khi nói về sản phẩm của phản ứng giữa kim loại và axit nitric Câu 4: Khi bị cảm, người ta thường dùng dây bạc để đánh gió. Nhưng khi đánh xong, dây bạc thường có màu đen, đeo lên người sẽ mất thẩm mĩ. Để dây bạc bị đen được sáng trắng ta làm cách nào? Giải thích: Ngâm dây bạc trong nước tiểu vì sẽ có phản ứng xảy ra Ag2S + 4NH3 → 2[Ag(NH3)2]S Nên Ag2S bị hòa tan, bề mặt dây bạc lại trở nên sáng bóng Áp dụng : Dùng câu hỏi này để liên hệ thực tế trong bài 11: Amoniac và muối amoni khi nói về khả năng tạo phức của NH3 Câu 5: Dân gian ta có câu“ không có lửa làm sao có khói” . Câu đó có đúng ko? Giải thích: Cho khí NH3 tác dụng với HCl thấy có khói trắng thoát ra theo PTPU: 5 Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Đậu Thị Thịnh NH3 + HCl → NH4Cl Như vậy không cần có lửa mà vẫn có khói. Câu“ không có lửa làm sao có khói” không đúng hoàn toàn. Áp dụng : Dùng câu hỏi này để liên hệ thực tế trong bài 11: Amoniac và muối amoni khi nói về khả năng tạo phức của NH3 Câu 6: Ca dao Việt Nam có câu: “Lúa chim lấp ló ngoài bờ Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên” Câu ca dao trên mang ý nghĩa hóa học gì ? Giải thích: Câu ca dao có nghĩa là: Khi vụ lúa chiêm đang trổ đồng mà có trận mưa rào kèm theo sấm chớp thì rất tốt và cho năng suất cao. Vì trong không khí có khoảng 80% Nitơ và 20 % oxi. Khi có sấm chớp (tia lửa điện) thì: Sau đó: 2NO + O2 → 2NO2 Khí NO2 hòa tan trong nước: 4NO2 + O2 + H2O → 4HNO3 HNO3 hòa tan trong đất được trung hòa bởi một số muối tạo muối nitrat cung cấp N cho cây. Nhờ có sấm chớp ở các cơn mưa giông, mỗi năm trung bình mỗi mẫu đất được cung cấp khoảng 6-7 kg nitơ. Áp dụng: Đây là một câu ca dao mang ý nghĩa thực tiễn rất thường gặp trong đời sống. Đây quả là một kinh nghiệm được ông cha ta rút ra qua những tháng năm canh tác nông nghiệp. Học sinh cũng dễ dàng quan sát để kiểm nghiệm và giải thích được một cách khoa học về vấn đề trên. Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên khi trình bày phần 10: Niơ hoặc bài 12: Axit nitric và muối nitrat hoặc đề cập trong bài 16: Phân bón hóa học. Câu 7: “Ma trơi” là hiện tượng gì ? Ma trơi thường xuất hiện ở đâu ? Giải thích: Trong xương của động vật luôn có chứa một hàm lượng photpho. Khi cơ thể động vật chết đi, nó sẽ phân hủy một phần thành photphin PH 3 và lẫn một ít điphotphinP2H4. Photphin không tự bốc cháy ở nhiệt độ thường. Khi đun nóng đến 150oC thì nó mới cháy được. Còn điphotphin P 2H4 thì tự bốc cháy trong không khí và tỏa nhiệt. Chính lượng nhiệt tỏa ra trong quá trình này làm cho photphin bốc cháy: 2PH3 + 4O2 → P2O5 + 3H2O Quá trình trên xảy ra cả ngày lẫn đêm nhưng do ban ngày có các tia sáng của mặt trời nên ta không quan sát rõ như vào ban đêm. Hiện tượng ma trơi chỉ là một quá tŕnh hóa học xảy ra trong tự nhiên. Thường gặp ma trơi ở các nghĩa địa vào ban đêm. Áp dụng: Đây là một hiện tượng tự nhiên chứ không phải là một hiện tượng “ thần bí ” nào đó, tránh tình trạng mê tín dị đoan, làm cho cuộc sống thêm lành mạnh. Vấn đề này có thể được đề cập ở trong bài 14: Photpho Câu 8: Tại sao khi đánh thuốc chuột nên để gần nguồn nước? Giải thích: Vì thuốc chuột có công thức là Zn3P2, khi đi vào cơ thể sẽ bị thủy phân theo PTPƯ là Zn3P2 + 6H2O→ 3Zn(OH)2 + 2PH3 6 Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Đậu Thị Thịnh Cơ thể chuột sẽ bị mất nước theo phương trình trên làm chuột rất háo nước phải ra chỗ có nước uống nước và chết tại đó vì có PH 3 sinh ra là chất rất độc giết chết chuột Áp dụng: Thuốc diệt chuột là hóa chất độc hại, gây tử vong nếu rơi vào thực phẩm, khi chuột chết vừa gây ô nhiễm môi trường nước vừa gây nguy hiểm cho các loài động vật khác nếu ăn pthải xác chết của chuột. Nên ngày nay, người ta ít dùng thuốc chuột đó để bẫy chuột. Thay vào đó có thể dùng keo dính chuột hay bẫy chuột bằng các thiết bị đơn giản, tự chế. Giáo viên có thể dùng câu hỏi này để hỏi trong bài 14: Photpho Câu 9: Tại sao những người có thối quen ăn trầu thì luôn có lợi và hàm răng chắc khỏe? Giải thích: Trong miếng trầu có vôi Ca(OH)2 chứa Ca2+ và OH- làm cho quá trình tạo men răng (Ca5(PO4)3OH) xảy ra thuận lợi: 5Ca2+ + 3PO43- + OH- → Ca5(PO4)3OH Chính lớp men này chống lại sâu răng. Áp dụng: Dùng liên hệ thực tế trong bài 15: Axit photphoric và muối photphat Câu 10: Người ta biết chất diệp lục trong cây xanh có công thức phân tử C55H70O5N4Mg. Cây xanh tạo chất này nhờ CO 2 (trong không khí), hiđro (từ nước trong đất) và các chất vô cơ là nitơ, magie (từ đất lên). Khi cây bị vàng lá người ta nghi là không đủ chất diệp lục. Vậy nên bón loại phân nào giúp cây tạo chất diệp lục hiệu quả nhất ? Giải thích: Nên dùng phân đạm như phân magie sunfat và amoni sunfat (NH4)2SO4 vì 2 loại phân này có Mg và N cung cấp cho cây. Áp dụng: Dùng liên hệ thực tế trong bài 16: Phân bón hóa học. Câu 11: Vì sao người ta dùng tro bếp để bón cho cây ? Giải thích: Trong tro bếp có chứa muối K2CO3 cung cấp nguyên tố kali cho cây. Áp dụng: Dùng cho phần đặt vấn đề vào bài hoặc liên hệ thực tế trong ở bài 16: Phân bón hóa học. Câu 12: Tại sao khi nông nghiệp phát triển thì các vi khuẩn, nấm, giun tròn sống trong đất, nước… giảm đi rất nhiều nhiều nơi không còn nữa ? Giải thích: Một số phân bón có thể tiêu diệt các loại sinh vật có hại này. Ví dụ trước khi trồng khoai tây một tuần người ta đưa vào đất một lượng urê (1,5 kg/m2) thì các mầm bệnh bị tiêu diệt hoàn toàn. Hiện tượng dễ thấy là không còn đỉa trong nước ở nhiều nơi như ngày trước nữa. Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần tích hợp bảo vệ môi trường trong bài 16: Phân bón hóa học. Câu 13: Tại sao khi đi gần các sông, hồ bẩn vào ngày nắng nóng, người ta ngửi thấy mùi khai ? Giải thích: Khi nước sông, hồ bị ô nhiễm nặng bởi các chất hữu cơ giàu đạm như nước tiểu, phân hữu cơ, rác thải hữu cơ… thì lượng urê trong các chất hữu cơ này sinh ra nhiều. Dưới tác dụng của men ureaza của các vi sinh vật, urê bị phân hủy tiếp thành CO2 và amoniac NH3 theo phản ứng: (NH2)2CO + H2O → CO2 + 2NH3 7 Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Đậu Thị Thịnh NH3 sinh ra hòa tan trong nước sông, hồ dưới dạng một cân bằng động. Như vậy khi trời nắng (nhiệt độ cao), NH3 sinh ra do các phản ứng phân hủy urê chứa trong nước sẽ không hòa tan vào nước mà bị tách ra bay vào không khí làm cho không khí xung quanh sông, hồ có mùi khai khó chịu. Áp dụng: Đây là hiện tượng thường gặp quanh hồ, ao, nhất là vào mùa khô, nắng nóng. Giáo viên có thể nêu vấn đề trong bài giảng 16: Phân bón hóa học. Câu 14: Tại sao để cải tạo đất ở một số ruộng chua người ta thường bón bột vôi ? Giải thích: Thành phần của bột vôi gồm CaO và Ca(OH) 2 và một số ít CaCO3. Ở ruộng chua có chứa axit, pH < 7, nên sẽ có phản ứng giữa axit với CaO, Ca(OH)2 và một ít CaCO3 làm giảm tính axit nên ruộng sẽ hết chua. Áp dụng: Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức các bài đã học trước hỏi trong bài 4: Sự điện li của nước. pH. Chất chỉ thị axit-bazơ hoặc trong bài 16: Phân bón hóa học. Câu 15: Cây trồng hấp thu hiệu quả chất dinh dưỡng từ phân bón thì tránh được sự dư thừa trong đất gây ô nhiễm và ngộ độc thực phẩm. Bón phân đúng thời đểm làm tăng hiệu quả hấp thu của cây trồng. Nên bón phân vào thời điểm nào trong ngày? Giải thích: Thường bón vào buổi chiều tối, khi mặt trời vừa lặn. Áp dụng: Dùng để liên hệ thực tế trong bài 16: Phân bón hóa học. Câu 16: Vì sao khi bón phân vô cơ hoặc phân chuồng, có thể gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới thực phẩm? Giải thích: Vì sẽ tích lũy các chất độc hại, thậm chí nguy hiểm cho đất do phân để lại , tăng nồng độ các chất có tác dụng xấu đến việc cung cấp oxi, tích lũy nitrat trong nước ngầm làm giảm chất lượng của nước uống, làm tăng lượng NH3 không mong muốn trong khí quyển và lượng N2O do quá trình nitrat hóa phân đạm dư hoặc bón không đúng chỗ Áp dụng: Dùng để liên hệ thực tế trong bài 16: Phân bón hóa học. Câu 17: Phương pháp nào dùng để diệt rêu và làm cho lúa được tốt hơn? Giải thích: Bón vôi bột trước, vài ngày sau mới bón đạm. Áp dụng: Dùng để liên hệ thực tế trong bài 16: Phân bón hóa học. Câu 18: Chất nào được mệnh danh là vệ sĩ phòng độc cho con người? Giải thích: Cacbon Áp dụng: Dùng để liên hệ thực tế trong bài 20: Cacbon Câu 19: Vì sao than chất thành đống lớn có thể tự bốc cháy ? Giải thích: Do than tác dụng với O2 trong không khí tạo CO2, phản ứng này tỏa nhiệt. Nếu than chất thành đống lớn phản ứng này diễn ra nhiều nhiệt tỏa ra được tích góp dần khi đạt tới nhiệt độ cháy của than thì than sẽ tự bốc cháy. Áp dụng: Dùng để liên hệ thực tế trong bài 20: Cacbon Câu 20: Tại sao khi cơm bị khê, ông bà ta thường cho vào nồi cơm một mẫu than củi ? Giải thích: Do than củi xốp, có tính hấp phụ nên hấp phụ hơi khét của cơm làm cho cơm đỡ mùi khê. Áp dụng: Dùng để liên hệ thực tế trong bài 20: Cacbon 8 Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Đậu Thị Thịnh Câu 21: Tại sao khi nuôi cây trong bình, người ta thường cho một ít than hoạt tính? Giải thích: Vì than có đặc tính hút độc Áp dụng: Dùng để liên hệ thực tế trong bài 20: Cacbon Câu 22: Tại sao người ta dùng than hoạt tính sản xuất mĩ phẩm pond? Giải thích: Vì than hoạt tính có khả năng hấp phụ các chất bẩn trên mặt, giúp mặt sạch và sáng hơn Áp dụng: Dùng để liên hệ thực tế trong bài 20: Cacbon Câu 23: Vì sao khi mùa đông hay xảy ra ngộ độc khí đốt? Giải thích: Vào mùa đông nhiều người thường đóng kín cửa sổ và ngồi bên lò sưởi. khi đóng kín cửa, có thể cản được gió lùa vào nhưng lại tạo điều kiện sản sinh khí CO là chất khí không màu, không mùi, không vị. Khi ta hít phải khí CO thì CO tác dụng với hồng cầu thành loại ‘hồng cầu cacbon oxit’ không vận chuyển được oxi đến cho cơ thể. Vì vậy sẽ bị ngộ độc, lúc mới ngộ độc thì bị đau đầu, buồn nôn, dần dần bị hôn mê, thậm chí dẫn đến tử vong. Muốn loại bỏ sự ngộ độc khí, phải đảm không khí được lưu thông, không nên đóng kín cửa sổ. Ngoài ra phải thường xuyên thông lò để đảm bảo lò đủ oxi. Áp dụng: Liên hệ thực tế trong bài 21: Hợp chất của Cacbon Câu 24: Muốn ăn lạc giòn,bánh xốp, bánh đa giòn, muốn giữ thức ăn được lâu, ta cho chúng vào tủ lạnh, vì sao? Giải thích: Vì trong tủ lạnh có chứa nước đá khô, không nóng chảy mà thăng hoa dùng để tạo môi trường lạnh và khô nên thuận tiện cho việc bảo quản thực phẩm Áp dụng: Liên hệ thực tế trong bài 21: Hợp chất của Cacbon Câu 25: Tại Java của Indonexia và ở nhiều địa phương của Italia, có một số hang động lạ: Khi người ta dẫn theo chó vào hang, chó lập tức bị chết ngạt, còn người thì không có việc gì. Thế nhưng khi người ta cúi xuống ngang tầm chiều cao của chó thì cũng bị đầu váng, mắt hoa. Tại sao lại vậy? Giải thích: Do ở các hang động này thường có nhiều khí CO 2. CO2 là chất khí gây ngạt thở, lại nặng hơn không khí tụ tập ở sát mặt đất. Chó cũng có chiều cao gần mặt đất, hít phải khí CO2 nên bị ngạt thở. Khi người cúi khom xuống, ngang chiều cao của chó sẽ hít phải khí CO2 nên cũng bị choáng ngất. Áp dụng: Liên hệ thực tế trong bài 21: Hợp chất của Cacbon Câu 26: Ở nông thôn có hiện tượng: Có người chui vào hầm chứa rau, đột nhiên bị ngất và ngã lăn ra. Có nhiều trường hợp gây ra chết người. Nhiều người nói vì ở dưới hầm có ma. Vậy ở đó có ma thật sự không? Giải thích: Trong các hầm chứa rau bắp cải, khoai…các loại này đều hô hấp. Cũng như con người, các loại rau củ này cũng hút dưỡng khí, thở ra khí CO 2. Ngày qua ngày, chúng tích tụ lại nhiều. Khi gian hầm quá kín, thông khí kém, lượng CO2 quá nhiều, người vào hầm hít phải sẽ bị hôn mê, choáng ngất. Vậy thật sự không có ma ở các hầm rau Áp dụng: Đây là một hiện tượng tự nhiên chứ không phải là một hiện tượng “ thần bí ” nào đó, phải tránh tình trạng mê tín dị đoan, làm cho cuộc sống thêm lành mạnh. Vấn đề này có thể được đề cập ở trong bài 21: Hợp chất của Cacbon 9 Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Đậu Thị Thịnh Câu 27: Vì sao muối NaHCO3 được dùng để chế thuốc đau dạ dày? Giải thích: Trong dạ dày có chứa dung dịch HCl. Người bị đau dạ dày là người có nồng độ HCl cao làm dạ dày bị bào mòn. NaHCO 3 dùng để chế thuốc đau dạ dày vì nó làm giảm hàm lượng HCl có trong dạ dày theo PTPƯ NaHCO 3 + HCl → NaCl + CO2+H2O Áp dụng: giáo viên có thể vận dụng kiến thức này vào bài 21: Hợp chất của Cacbon Câu 28: Vì sao trong công nghiệp thực phẩm, muối (NH 4)2CO3 được dùng làm bột nở? Giải thích: (NH4)2CO3 được dùng làm bột nở vì khi trộn thêm vào bột mỳ, lúc nướng bánh thì (NH4)2CO3 sẽ bị phân hủy thành các chất khí và hơi nên làm cho bánh xốp và nở hơn (NH4)2CO3 → 2NH3 + CO2 + H2O Áp dụng: Liên hệ thực tế trong bài 21: Hợp chất của Cacbon Câu 29: Tại sao khi tô vôi lên tường thì lát sau vôi khô và cứng lại ? Giải thích: Vôi là canxi hiđroxit, là chất tan ít trong nước nên khi cho nước vào tạo dung dịch trắng đục, khi tô lên tường thì Ca(OH) 2 nhanh chống khô và cứng lại vì tác dụng với CO2 trong không khí theo phương trình: Ca(OH)2 + CO2 � CaCO3 �+ H2O � Áp dụng: Liên hệ thực tế trong bài 21: Hợp chất của Cacbon Câu 30: Vì sao khi mở bình nước ngọt có ga lại có nhiều bọt khí thoát ra ? Giải thích: Nước ngọt không khác nước đường mấy chỉ có khác là có thêm khí cacbonic CO2. Ở các nhà máy sản xuất nước ngọt, người ta dùng áp lực lớn để ép CO2 hòa tan vào nước. Sau đó nạp vào bình và đóng kín lại thì thu được nước ngọt. Khi bạn mở nắp bình, áp suất bên ngoài thấp nên CO 2 lập tức bay vào không khí. Vì vậy các bọt khí thoát ra giống như lúc ta đun nước sôi. Về mùa hè người ta thường thích uống nước ngọt ướp lạnh. Khi ta uống nước ngọt vào dạ dày, dạ dày và ruột không hề hấp thụ khí CO2. Ở trong dạ dày nhiệt độ cao nên CO 2 nhanh chóng theo đường miệng thoát ra ngoài, nhờ vậy nó mang đi bớt một nhiệt lượng trong cơ thể làm cho người ta có cảm giác mát mẻ, dễ chịu. Ngoài ra CO 2 có tác dụng kích thích nhẹ thành dạ dày, tăng cường việc tiết dịch vị, giúp nhiều cho tiêu hóa. Áp dụng: Hiện tượng có nhiều bọt khí thoát ra từ bình nước ngọt có ga hay chai bia thì chắc hẳn học sinh nào cũng biết. Nhưng khi giải thích khí đó là khí gì và có công dụng ra sao, tại sao người ta đưa khí đó vào bình được ? thì học sinh không biết được. Giáo viên có thể nêu câu hỏi trên khi dạy bài 21: Hợp chất của Cacbon Câu 31: Làm thế nào để biết dưới giếng có khí độc CO hoặc khí thiên nhiên CH4 không có oxi để tránh khi xuống giếng bị chết ngạt ? Giải thích: Trong các giếng sâu ở một số vùng đồng bằng thường có nhiều khí độc CO và CH4 và thiếu oxi. Vì một lí do nào đó mà ta xuống giếng thì rất nguy hiểm. Đã có rất nhiều trường hợp tử vong do trèo xuống giếng gặp nhiều khí độc và chết ngạt do thiếu oxi. Điều tốt nhất là tránh phải xuống giếng, nếu có xuống thì nên mang theo bình thở oxi. 10 Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Đậu Thị Thịnh Trước khi xuống giếng cần thử xem trong giếng có nhiều khí độc hay không bằng cách cột một con vật như gà, vịt rồi thả xuống giếng. Nếu gà, vịt chết thì chứng tỏ dưới giếng có nhiều khí độc. Áp dụng: Đây là hiện tượng hay xảy ra vào mùa khô. Mọi người không hề biết được sự nguy hiểm khi xuống giếng sâu. Thực tế là đã có nhiều cái chết thương tâm xảy ra mà báo đài đã nêu trong thời gian qua. Giáo viên cần đưa vào bài giảng để nhắc nhở học sinh và mọi người. Vấn đề này có thể xen vào bài 21: Hợp chất của Cacbon hoặc bài 34: Ankan cấu trúc phân tử và tính chất vật lí. Câu 32: Tại sao không thể dập tắt đám cháy của các kim loại: K, Na, Mg bằng khí CO2 ? Giải thích: Do các kim loại trên có tính khử mạnh nên vẫn cháy được trong khí CO2 t Mg + CO2 �� � MgO + C Áp dụng: Liên hệ thực tế trong bài 21: Hợp chất của Cacbon Câu 33: “Hiệu ứng nhà kính” là gì? Giải thích: Khí cacbonic CO2 trong khí quyển chỉ hấp thụ một phần những tia hồng ngoại (tức là những bức xạ nhiệt) của Mặt Trời và để cho những tia có bước sóng từ 50000 đến 100000 Å đi qua dễ dàng đến mặt đất. Nhưng những bức xạ nhiệt phát ra ngược lại từ mặt đất có bước sóng trên 140000 Å bị khí CO 2 hấp thụ mạnh và phát trở lại Trái Đất làm cho Trái Đất ấm lên. Theo tính toán của các nhà khoa học thì nếu hàm lượng CO 2 trong khí quyển tăng lên gấp đôi so với hiện tại thì nhiệt độ ở mặt đất tăng lên 4oC. Về mặt hấp thụ bức xạ, lớp CO2 ở trong khí quyển tương đương với lớp thủy tinh của các nhà kính dùng để trồng cây, trồng hoa ở xứ lạnh. Do đó hiện tượng làm cho Trái Đất ấm lên bởi khí CO2 được gọi là hiệu ứng nhà kính. Áp dụng: Ngày nay hiện tượng “Hiệu ứng nhà kính” trở thành một vấn đề có ảnh hưởng mang tính toàn cầu. Mục đích vấn đề giúp học sinh biết được nguyên nhân và tác hại của hiệu ứng nhà kính nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Giáo viên có thể đặt vấn đề này khi dạy tích hợp môi trường ở bài 21: Hợp chất của Cacbon Câu 34: Pin mặt trời phổ biến trên thị trường hiện nay được sản xuất chủ yếu từ nguyên tố hóa học nào? Giải thích: Từ nguyên tố Si Áp dụng: Dùng để đặt câu hỏi vào bài trong bài 22: Silic và hợp chất của silic Câu 35:Tại sao không dùng bình thủy tinh đựng dung dịch HF ? Giải thích: Tuy dung dịch axit HF là một axit yếu nhưng nó có khả năng đặc biệt là ăn mòn thủy tinh. Do thành phần chủ yếu của thủy tinh là silic đioxit SiO 2 nên khi cho dung dịch HF và thì có phản ứng xảy ra: SiO 2 + 4HF → SiF4↑ + 2H2O Áp dụng: Đây là phần kiến thức mà bất kì học sinh nào cũng phải biết được sau khi học bài Flo và hợp chất của nó. Học sinh biết giải thích và vận dụng trong thực tiễn tránh việc dùng bình thủy tinh đựng dung dịch HF. Giáo viên có thể hỏi học sinh sau khi dạy xong bài 22: Silic và hợp chất của silic Câu 36: Làm thế nào có thể khắc được thủy tinh ? 0 11 Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Đậu Thị Thịnh Giải thích: Muốn khắc thủy tinh người ta nhúng thủy tinh vào sáp nóng chảy, nhấc ra cho nguội, dùng vật nhọn khắc hình ảnh cần khắc nhờ lớp sáp mất đi, rồi nhỏ dung dịch HF vào thì thủy tinh sẽ bị ăn mòn ở những chổ lớp sáp bị cào đi : SiO2 + 4HF → SiF4↑ + 2H2O Nếu không có dung dịch HF thì thay bằng dung dịch H 2SO4 đặc và bột CaF2. Làm tương tự như trên nhưng ta cho bột CaF2 vào chổ cần khắc, sau đó cho thêm H2SO4 đặc vào và lấy tấm kính khác đặt trên chổ cần khắc. Sau một thời gian, thủy tinh cũng sẽ bị ăn mòn ở những nơi cạo sáp. CaF2 + 2H2SO4 → CaSO4 + 2HF↑ ( dùng tấm kính che lại) Sau đó SiO2 + 4HF → SiF4↑ + 2H2O Áp dụng: Đây là một vấn đề rất thực tế khi mà nghề khắc thủy tinh đang phát triển ở nước ta. Sau bài học học sinh không những biết được phương pháp khắc thủy tinh mà còn có thể giải thích được vấn đề này. Thậm chí đây là cơ sở cho việc học nghề, khơi gợi niềm đam mê học tập, học sinh có thể tự làm thí nghiệm này trong tiết thực hành. Giáo viên có thể nêu vấn đề trên để dẫn dắt vào bài 22: Silic và hợp chất của silic hoặc bài 23: Công nghiệp Silicat. Câu 37: Những nhà bán trứng gà, trứng vịt thường làm cách nào để bảo quản trứng được lâu?Tại sao không nên rửa trứng bằng nước khi chưa dùng luôn? Giải thích: Trên vỏ trứng có rất nhiều lỗ nhỏ, trên bề mặt quả trứng có phủ một lớp mỏng chất keo che kín các lỗ nhỏ trên bề mặt vỏ trứng. Lớp màng chất keo mỏng này rất dễ hòa tan trong nước. Khi rửa trứng bằng nước, thì màng mỏng chất keo cũng bị rửa sạch, vỏ trứng bị phá bỏ lớp bảo vệ, nên các vi khuẩn chui vào phá hoại trứng. nên Người ta bảo quản trứng trong dung dịch thủy tinh lỏng là dung dịch đậm đặc của Na2SiO3 và K2SiO3 , đây là loại dung dịch như keo dán. Khi nhúng trứng vào dung dịch thủy tinh lỏng, thì các lỗ nhỏ trên quả trứng đều được bít kín. Dùng cách bảo quản này thì trứng sẽ không bị hư hỏng trong nhiều tháng. Áp dụng: Liên hệ thực tế trong bài 22: Silic và hợp chất của silic Câu 38: Silicagen là chất dùng để hút ẩm trong các gói bánh, kẹo. Đó là chất gì? Giải thích: Đó là axit silixic có công thức là H2SiO3. Silicagen được tạo thành khi axit silixic bị mất nước Áp dụng: Liên hệ thực tế trong bài 22: Silic và hợp chất của silic Câu 39: Nham thạch do núi lửa phun ra là chất gì ? Giải thích: Bên dưới vỏ trái đất là lớp dung nham gọi là macma ở độ sâu từ 75 km – 3000 km. Nhiệt độ của lớp dung nham này rất cao 2000 – 2500 0C và áp suất rất lớn. Khi vở trái đất vận động, ở những nơi có cấu tạo mỏng, có vết nứt gãy thì lớp dug nham này phun ra ngoài sau một tiếng nổ lớn. Macma cấu tạo ở dạng bán lỏng gồm silicat của sắt và mangie. Dung nham thoát ra ngoài sẽ nguội dần và rắn lại thành nham thạch. Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế trong bài 23: Công nghiệp Silicat. 4. Ví dụ một bài có sử dụng các hiện tượng thực tiễn trong bài học 12 Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Đậu Thị Thịnh TiÕt 21 Bài 14: phot pho ( Hóa học lớp 11 nâng cao ) A/ Mục tiêu: - Biết cấu tạo phân tử và các dạng thù hình của Phot pho; Phương pháp điều chế và ứng dụng của Phot pho. Hiểu được tính chát hoá học của Phot pho. - Rèn kỹ năng vận dụng những kiến thức về tính chất của Phot pho để giải các bài tập. - Giáo dục ý thức học tập của Học sinh. B/ Phương tiện dạy học: - GV: Dụng cụ: ống nghiệm, kẹp gỗ, ... - Hoá chất: Phot pho đỏ, trắng. - HS: SGK và vở ghi C/ Phương pháp dạy học: Sử dụng phương pháp đàm thoại, trực quan D/ Tổ chức các hoạt động dạy học. 1. Tổ chức: Lớp, sĩ số Ngày dạy 2. KTBC: Hoàn thành các PTPƯ sau NH3 N2 NO NO2 HNO3 Zn Hs: Trả lời GV: Nhận xột và cho điểm 3. Bài mới: Cho hs chơi trò chơi đuổi hình bắt chữ Chiếu 1 hình vẽ một bộ xương người đang di chuyển. Gv hỏi đây là hiện tượng thường gặp trong các bãi tha ma khi trời mưa nhẹ (có 2 chữ) HS: Đó là hiện tượng “ ma trơi” GV: Vậy ma trơi là hiện tượng như thế nào? Nó có đáng sợ như người ta vẫn nghĩ hay không, chúng ta cùng nghiên cứu bài hôm nay để hiểu rõ hơn về hiện tượng này. HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ TRÒ NỘI DUNG Hoạt động 1 GV : Nêuqua về việc tìm ra nguyên tố Photpho của nhà bác học Henning Brand (1630-1710) Hoạt động 2 GV : Nêu nội dung bài học Nguyờn tố P thuộc: GV : Chiếu Bảng tuần hoàn, yêu cầu hs dựa - ô 15 vào đó nêu vị trí của nguyên tố P trong bảng - Chu kì 3 13 Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Đậu Thị Thịnh tuần hoàn HS : Trả lời Hoạt động 3: GV : cho hs quan sát hình vẽ P trắng và P đỏ, cấu trúc mạng của 2 loại P này và sự bỏng do P trắng gây ra . Sau đó gv chia hs thành các nhóm làm việc, hoàn thành chỗ còn trống trong bảng sau - Nhóm VA I – Tính chất Vật lí: - P tồn tại ở một số dạng thù hình, quan trọng nhất là:P(đỏ) và P(trắng) P P đỏ trắng P Trạng Chất rắn, Chất bột, trắng P đỏ thái, trong suốt,màu đỏ Trạng màu sắc màu trắng thái, màu hoặc hơi sắc vàng Cấu tạo Cấu tạo Cấu trúc Cấu trúc phân tử phân tử mạng tinhpolime thể phân tử Tính tan (P4) Độc tính Tính tan Không tan Không tan -tính bền trong nước trong các Tính phát dung môi quang thông thường Hs: Điền bảng và rỳt ra kiến thức cần nắm Độc Rất độc và Không độc tính gây bỏngBền ở điều -tính nặng khi rơikiện thường -GV : thông báo: Bảo quản P trắng phải ngâm bền vào da trong nước. không bền P đỏ. GV làm TN chuyển hoá Tính Phát quang Không phát Ptrắng       Pđỏ phát màu lụcquang trong quang nhạt trongbóng tối Họat động 4: bóng tối GV: Yêu cầu hs nhận xét tính chất hóa học của P theo các ý sau: P       Pđỏ - Tại sao P lại hoạt động hoá học hơn N ở điều trắng II – Tính chất hoá học: kiện thường?  Nhận xét - Trong 2 dạng thù hình của P thì P nào hoạt động hơn? hs quan sát thí nghiệm về khả năng - Độ âm điện P < N, nhưng P hoạt động hơn là do trong phân tử N có bốc cháy của photpho trắng và photpho đỏ. - Khi tham gia phản ứng P thể hiện vai trò là liên kết ba bền vững. - P trắng họa động hơn P đỏ. chất gì? - Khi tham gia phản ứng: Hs : Trả lời P0  P+3 hoặc P+5( thể hiện tính Họat động 5: -GV: P thể hiện tính chất hóa học như thế khử) 0 P  P-3( thể hiện tính Oxi hoá) nào? Với các chất nào? 250 0 , kh«ng cã k 2 250 0 , kh«ng cã k 2 14 Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Đậu Thị Thịnh 1. Tính oxi hoá: - GV: Yêu cầu HS lên Bảng viết PT của P tác + Tác dụng với một số kim loại dụng với Ca mạnh: K, Na, Ca, Mg, .. 2P + 3Ca  Ca3P2. GV: Nêu thêm tính chất P tác dụng với H 2 , từ + Tác dụng với H2 đó giải thích hiện tượng ma trơi 2P + 3H2  2PH3 (Photphin) - GV: Yêu cầu HS lên bảng viết PT của P tác dụng với O2?( thiếu và dư O2)  Giải thích hiện tượng ma trơi Hs : Trả lời Hoạt động 6: Xác người(chứa Ca3P2) PH3 - GV: P thể hiện tính khử khi nào? (P2H4) - HS viết PTPƯ P + O2? - HS viết PTPƯ: P + Cl2? (Photphin) Đốm sáng lập lòe Phản ứng hóa học: Ca3P2 + H2O 3Ca(OH)2 + 2PH3 4PH3 + 8O2 2P2O5 + 6H2O + Q 2. Tính khử: Khi tác dụng với các phi kim hoạt động như: O2, S, Halogen và các chất oxi hoá mạnh khác. a. Tác dụng với oxi: - GV: bổ xung: P cũng tác dụng với một số phi - Thiếu O2: 4P + 3O2  2P2O3. kim khi đun nóng: S - Dư O2: 4P + 5O2  2P2O5. - HS viết PTPƯ P + KClO3? b. Tác dụng với Clo: - Thiếu Cl2: 2P + 3Cl 2  2PCl3. Hoạt động 7: - Dư Cl2: 2P + 5Cl2  - GV: nêu ứng dụng của P? 2PCl5. Chiếu lên màn hình những ứng dụng của P c. Tác dụng với hợp chất: - Hs trả lời -Tác dụng dễ dàng với những hợp Hoạt động 8: chất có tính oxh mạnh: HNO3, - GV: Trong tự nhiên P tồn tại ở dạng nào? KClO3, KNO3, K2Cr2O7, ... Tại sao N2 tồn tại dạng đơn chất còn P thì 6P  3P2O5 + 5KClO3 + không? 5KCl Chiếu lên màn hình những vật mà P tồn tại III- ứng dụng: trong đó - Dùng sản xuất thuốc đầu que diêm. - Hs trả lời - Điều chế H3PO4: P  P2O5  H3PO4 t0 15 Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Đậu Thị Thịnh IV – Trạng thái tự nhiên và điều chế: 1. Trạng thái tự nhiên: - GV: P được điều chế trong CN bằng cách -Không có P ở dạng tự do: Do P khá nào? Viết PTPƯ? hoạt động về mặt hoá học - Hs trả lời - Tồn tại ở dạng muối của axit photphoric: Quặng apatit: 3Ca3(PO4)2.CaF2; Qặng photphorit: Ca3(PO4)2. - Có trong protein thực vật, trong xương, răng, bắp thịt, tế bào não,... của người và động vật, 2. Điều chế: - Trong cụng nghiệp: Nung hỗn hợp Ca3(PO4)2, SiO2 và than ở 12000C Ca3(PO4)2 + 3SiO2 +5C  3CaSiO3 + 2P + 5CO 4. Củng cố: Dùng hình vẽ khắc sâu tính chất hóa học của P Photpho vừa thể hiện tính oxi hóa vừa thể hiện tính khử Tính oxi hóa Tác dụng với H2 Tác dụng với một số kim loại như Ca, Zn Tính khử thể hiện khi Tác dụng với đơn chất phi kim mạnh như Oxi, Clo. Tác dụng với một số hợp chất có tính oxi hóa mạnh như HNO3, K2Cr2O7… Ở điều kiện thường Photpho hoạt động mạnh hơn N2 Photpho hoạt động mạnh hơn Photpho đỏ - Khắc sâu cho HS kiến thức về P. Đặc biệt tính chất hoá học của P. 16 Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Đậu Thị Thịnh - Dùng một số câu hỏi để củng cố cho HS Câu1: Công thức đúng của magie photphua là: a. Mg2P2O7 b. Mg2P3 c. Mg3P2 d. Mg3(PO4)2 Câu 2: Viết các ptpư thực hiện dãy biến hoá sau: Ca3(PO4)2 + ( SiO2+C(t0) )  A + (Ca )  B + (HCl )  C +( O2(t0) ) D Câu 3: Một hợp chất hidrua có công thức là RH 3. Trong oxit cao nhất R chiếm 43,66% về khối lượng. Xác định nguyên tố R 5. Hướng dẫn về nhà: Học bài và làm bài 1,2,3, 4  6SGK 5: ĐO LƯỜNG(Thực nghiệm sư phạm) 5.1. Mục đích thực nghiệm Chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm theo các giáo án đã soạn nhằm kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết khoa học của đề tài đã đặt ra, hoặc khẳng định hoặc bác bỏ giả thuyết đó. 5.2. Đối tượng và phương pháp thực nghiệm - Quá trình thực nghiệm được diễn ra ở 2 lớp :11A4, 11A5, 11A6, 11A7 trường THPT Tĩnh Gia 2 - Lớp 11A5, 11A7 là các đối chứng - Lớp 11A6, 11A4 là các lớp thực nghiệm - Ở các lớp thực nghiệm dùng giáo án có sử dụng các hiện tượng thực tiễn trong bài. Ở các lớp đối chứng sử dụng giáo án không có liên hệ thực tế. Các lớp đối chứng và thực nghiệm đồng đều về thời gian dạy, nội dung kiến thức và điều kiện dạy học Sau bài dạy, kiểm tra kết quả lĩnh hội và khả năng vận dụng kiến thức của HS ở cả hai nhóm đối chứng và thực nghiệm với cùng thời gian, cùng đề, cùng biểu điểm. Cuối học kì kiểm tra độ bền kiến thức của học sinh ở mỗi nhóm bằng một bài kiểm tra. 5.3. Kết quả thực nghiệm Trong khuôn khổ đề tài, tôi xin trình bày kết quả kiểm tra hai lần trong thực nghiệm ở hai nội dung khác nhau và lần một kiểm tra sau thực nghiệm, cụ thể: - Kiểm tra trong thực nghiệm: 184 bài nhóm đối chứng và 182 bài nhóm thực nghiệm - Kiểm tra sau thực nghiệm: 92 bài nhóm đối chứng và 91 bài nhóm thực nghiệm 17 Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Đậu Thị Thịnh 5.3.1. Phân tích định lượng các bài kiểm tra Lần KT số 1 2 3 Phương Tổng Điểm án số TB bài Số KT bài TN 91 2 ĐC 92 9 TN 91 1 ĐC 92 8 TN 91 2 ĐC 92 14 dưới Điểm TB % 2,2 9,8 1,1 8,7 2,2 15,2 Số bài 25 35 20 32 37 42 % Điểm khá Số bài 27,5 50 38 38 22 53 34,8 45 40,66 38 45,65 28 % Điểm giỏi Số bài 55 14 41,3 10 58,24 17 48,9 7 41,76 14 30,43 8 % 15,3 10,9 18,66 7,6 15,38 8,72 Qua bảng phân loại học sinh sau các bài kiểm tra, tôi thấy: - Điểm dưới trung bình ở nhóm thực nghiệm thấp hơn so với nhóm đối chứng. - Điểm khá và điểm giỏi ở nhóm thực nghiệm cao hơn so với nhóm đối chứng. Như vậy, điểm khá và điểm giỏi ở lớp thực nghiệm cao hơn so với các lớp đối chứng. Kết quả này cho thấy học sinh ở các lớp thực nghiệm đã nắm kiến thức khá vững vàng. 5.3.2. Phân tích định tính các bài kiểm tra Chất lượng kiến thức ở nhóm thực nghiệm cao hơn hẳn so với nhóm đối chứng về mức độ hiểu sâu sắc bài giảng thể hiện ở giờ kiểm tra bài cũ và ở các bài kiểm tra. Kết luận: sử dụng các hiện tượng thực tiễn liên quan đến bài giảng nhằm tăng hứng thú học tập của học sinh, giúp học sinh phát triển năng lực nhận thức và các thao tác tư duy. Công tác giảng dạy có sử dụng các hiện tượng thực tiễn được nghiên cứu trong để tài mang tính khả thi. C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. Kết luận - Qua việc sử dụng các hiện tượng thực tiễn vào trong bài học đã tăng hứng thú học tập của học sinh, kết quả học tập tăng rõ rệt. - Quá trình thực nghiệm sư phạm được tiến hành ở 2 lớp 11, tôi đã thu được kết quả tốt thông qua ý kiến đánh giá của giáo viên giảng dạy hóa học. - Qua việc thực nghiệm sư phạm đã khẳng định hiệu quả đạt được khi áp dụng phương pháp dạy học tích cực lồng ghép các hiện tượng thực tiễn vào bài giảng. Tỉ lệ học sinh thích học bộ môn tăng lên rõ rệt thông qua chất lượng học tập bộ môn này được nâng cao. 2. Khuyến nghị Qua quá trình nghiên cứu đề tài và tiến hành thực nghiệm đề tài, tôi có một vài khuyến nghị sau: 18 Sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Đậu Thị Thịnh - Sở giáo dục và đào tạo cần tăng cường bồi dưỡng, chuẩn hóa kiến thức cho giáo viên. Đặc biệt là mở rộng các chuyên đề, cung cấp tài liệu để giáo viên có kiến thức nhiều hơn nữa về các hiện tượng thực tế liên quan đến môn dạy. - Cần tăng cường đầu tư thiết bị dạy học , cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm...cho các trường THPT. - Khuyến khích giáo viên tự mình xây dựng hệ thống các câu hỏi liên quan đến thực tiễn nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh. Từ đó nâng cao chất lượng dạy và học môn hóa học. XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Thanh Hóa, ngày tháng năm 2013 Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác. (Ký và ghi rõ họ tên) 19
- Xem thêm -