Skkn lồng ghép giáo dục giới tính vào chương trình sinh học 11 – cơ bản

  • Số trang: 32 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 42 |
  • Lượt tải: 0
nguyen-thanhbinh

Đã đăng 8358 tài liệu

Mô tả:

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI TRƯỜNG THPT TÔN ĐỨC THẮNG -------------------Mã số:…… “LỒNG GHÉP GIÁO DỤC GIỚI TÍNH VÀO CHƯƠNG TRÌNH SINH HỌC 11 – CƠ BẢN” Người thực hiện: Phạm Thị Thu Nga Lĩnh vực nghiên cứu: - Quản lý giáo dục:  - Phương pháp dạy học bộ môn  - Lĩnh vực khác  Có đính kèm:  Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh Năm học: 2012 - 2013 SƠ LƯỢC LÍ LỊCH KHOA HỌC I/ THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN :  Hiện vật khác 1/Họ và tên : Phạm Thị Thu Nga 2/ Sinh ngày : 12 tháng 10 năm 1982 3/ Giới tính: Nữ 4/ Địa chỉ : Ấp 9- Nam Cát Tiên - Tân Phú – Đồng Nai – ĐT:01667494819 5/ Chức vụ : Tổ trưởng 6/ Đơn vị công tác : Trường THPT Tôn Đức Thắng II/ TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO 1/ Học vị : Cử nhân 2/ Năm nhận bằng : 2005 3/ Chuyên ngành : Sinh học III/ KINH NGHIỆM KHOA HỌC 1/ Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm : Công tác giảng dạy 2/ Số năm kinh nghiệm : 07 MỤC LỤC I. Lí do chọn đề tài ..................................................................... Trang 1 II. Thực trạng trước khi thực hiện các giải pháp ......................... Trang 2 1. Thực trạng về giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản vị thành niên, tình dục an toàn............................................................................................... Trang 2 2. Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài................... Trang 3 3. Số liệu thống kê........................................................................ Trang 4 III. Nội dung................................................................................. Trang 6 1. Cơ sở lí luận ...................................................................... Trang 6 2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài..... Trang 7 IV. Kết quả ………………………………………………… ..... Trang 24 V. Kiến nghị……………………… . .......................................... Trang 26 VI. Kết luận.................................................................................. Trang 26 VII. Tài liệu tham khảo................................................................ Trang 27 2 Tên sáng kiến kinh nghiệm: LỒNG GHÉP GIÁO DỤC GIỚI TÍNH VÀO CHƯƠNG TRÌNH SINH HỌC 11 - CƠ BẢN -----***----I – LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Ngày nay, chúng ta đang sống trong một xã hội phát triển, hiện đại với biết bao đổi thay đang diễn ra. Chất lượng cuộc sống con người ngày càng được nâng cao. Chúng ta đang cố gắng tiếp cận với những cái mới, cái hiện đại và cái văn minh. Nhưng đồng thời chúng ta cũng phải chống lại những mặt tồn tại của chúng. Đó là sự bùng nổ dân số, bệnh hiểm nghèo, ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội,... ngày càng nặng nề, sức khỏe con người ngày càng bị đe dọa trầm trọng, nhất là ở những nước đang phát triển. Chúng đe dọa cuộc sống và sức khỏe của mọi lứa tuổi, đặc biệt là thế hệ trẻ phải đương đầu chịu đựng. Trong vòng 10 năm trở lại đây, xã hội mà đối tượng chủ yếu là thanh thiếu niên đang nổi lên các hiện tượng sống thử, phá thai, các “bà mẹ” 14 – 15 tuổi, quan hệ tình dục không an toàn, đồng tính,.... Nhìn chung, dư luận hầu như chỉ nhắm vào sự việc đã rồi của những thanh thiếu niên còn “trẻ người non dạ”, kiến thức giới tính, sức khỏe sinh sản còn nhiều hạn chế. Mặt khác, do quan niệm của người Á Đông, cho đến nay, trong phạm vi xã hội nói chung, và góc độ gia đình nói riêng, chuyện giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản cho con trẻ còn bị né tránh. Theo nhiều kết quả nghiên cứu cho rằng đấy chính là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến những hậu quả không mong muốn như trên. Trong giai đoạn hiện nay, giáo dục giới tính rất quan trọng. Bởi giáo dục giới tính có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách cho trẻ ở lứa tuổi đang lớn và việc duy trì thế hệ mai sau, góp phần tạo ra cho xã hội một thế hệ phát triển toàn diện về thể trạng tâm lý và sinh lý. Xã hội càng phát triển, điều kiện sống càng được nâng cao, tuổi dậy thì của trẻ em càng sớm. Điều này khiến các em giảm bớt tuổi thơ ngây, sớm trở thành người lớn, dẫn đến sự chênh lệch giữa phát triển thể xác với phát triển sự khôn ngoan. Có nghĩa là tinh thần các em chưa đủ khôn ngoan để đối phó với những cám dỗ, cạm bẫy của thể xác. Vì vậy, sự thiếu hiểu biết về sức khỏe sinh sản, về giới tính một cách đúng đắn dễ dẫn đến những hành vi “lầm đường lạc lối”, và để lại hậu quả không nhỏ. Theo thống kê của hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, mỗi năm nước ta có khoảng 300.000 ca đình chỉ thai nghén ở độ tuổi từ 15 – 19 tuổi. Với con số này, Việt Nam đang dẫn đầu Đông Nam Á và xếp thứ năm trên thế giới về tỷ lệ nạo phá thai ở trẻ vị thành niên. Trước đây, tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên chỉ chiếm 5 - 7% tổng số ca nạo phá thai, tuy nhiên vài năm gần đây, tỷ lệ này tăng lên 10%. Việc mang thai 3 ngoài ý muốn tăng một phần bởi một bộ phận giới trẻ có suy nghĩ quá dễ dãi trong quan hệ tình dục. Thực tế đang diễn ra cho thấy vai trò quan trọng của việc cung cấp cho phụ nữ đặc biệt là trẻ em gái những kiến thức chung về kế hoạch hóa gia đình. Nếu không hiểu biết, phải đình chỉ thai nghén dù một lần hay nhiều lần cũng có nguy cơ gây hậu quả khôn lường với những tai biến nguy hiểm. Giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản hiện nay đã trở thành một nhu cầu cấp bách của xã hội. Trong các môn học có thể nói sinh học là môn dễ lồng ghép những kiến thức cơ bản về việc giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản giúp các em có ý thức bảo vệ cơ thể, sống lành mạnh. Trong các năm học trước, tôi đều chứng kiến cảnh các em học sinh nữ phải nghỉ học để lập gia đình, đa số các em đang học lớp 11 và 12. Trong số đó có cả em học lực khá, như vậy rõ ràng là các em chỉ được tiếp thu kiến thức của các môn học mà không hề trang bị cho mình những kiến thức về giáo dục giới tính, về kĩ năng sống. Trong hai năm học qua để giáo dục học sinh có ý thức bảo vệ sức khỏe, bảo vệ mình, sống lành mạnh, trong các tiết dạy có kiến thức liên quan tôi đã chú ý lồng ghép vấn đề này vào trong bài dạy, tôi nhận thấy đã đạt được một số hiệu quả nhất định. Các em trao đổi mạnh dạn, tự tin, tự nhiên hơn khi nói về một số kiến thức về giáo dục giới tính. Tỉ lệ các học sinh nữ phá thai, nghỉ học lấy chồng cũng giảm hẳn.Với mong muốn giúp học sinh tích cực và chủ động trong việc tiếp thu chủ đề này, để các em có thể tự giải đáp những tò mò, thắc mắc của bản thân đồng thời có những hành trang cần thiết để bước vào đời, tôi đã tìm hiểu thu thập thông tin, sử dụng một số phương pháp, phương tiện dạy học lồng ghép nhằm khai thác có hiệu quả nội dung giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản cho học sinh khi giảng dạy môn sinh lớp 11 Cơ bản. Qua thực tế giảng dạy môn sinh học đăc biệt là lớp 11 tôi xin đưa ra một kinh nghiệm nhỏ trong vấn đề: Lồng ghép giáo dục giới tính vào chương trình sinh học 11 – cơ bản II - THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI 1. Thực trạng về giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản vị thành niên, tình dục an toàn - Việc đưa giáo dục giới tính vào trường học là điều rất cần thiết. Nhưng hầu hết các trường THPT đều lúng túng khi đưa giáo dục giới tính vào giảng dạy. Các trường đều chọn giải pháp là lồng ghép hoặc ngoại khoá. Các giáo viên thiếu kiến thức chuyên môn, thiếu kĩ năng giảng dạy về vấn đề nhạy cảm này. Cũng chưa có trường nào xây dựng được chuẩn kiến thức chung về vấn đề này khi dạy lồng ghép. Nếu dạy thì cũng chỉ thiên về lí thuyết còn thực hành thì bỏ ngỏ. Về 4 giáo cụ trực quan là không có, giáo viên không được tập huấn kĩ càng để giảng dạy về vấn đề giới tính. - Các cấp lãnh đạo cũng bỏ ngỏ khâu quản lí theo dõi giáo dục giới tính. Chưa có tổng kết, đánh giá về hoạt động này trong nhà trường một cách chính xác, sát thực. Dạy lồng ghép chỉ là phương án tạm thời, rất cần thiết có những chương bài chi tiết, cụ thể, phù hợp về giáo dục giới tính. Rất cần thiết đào tạo một đội ngũ giáo viên chuyên nghiệp, được trang bị đầy đủ kĩ năng, kiến thức, nắm bắt được tâm lí học sinh để thực hiện các bài dạy giáo dục giới tính, giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên, tình dục an toàn một cách hiệu quả. 2. Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài a. Thuận lợi - Tất cả các lớp đều học chung một chương trình cơ bản, do đó việc soạn giảng nhẹ nhàng hơn. - So với các bộ môn khác, môn sinh là bộ môn có nhiều kiến thức liên quan tới giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản. - Cơ sở vật chất trang thiết bị thuận lợi cho việc giảng dạy. - Sự hứng thú học tập của HS và sự giúp đỡ nhiệt tình của đồng nghiệp giúp công việc triển khai dễ dàng hơn. - Sự bùng nổ của CNTT thuận lợi cho việc tìm kiếm tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạy. - Bản thân tôi là một giáo viên nữ, đã có gia đình nên việc giảng dạy kiến thức sinh sản gặp nhiều thuận lợi hơn. b. Khó khăn - Hiện nay, ở nước ta, vấn đề giáo dục giới tính cho học sinh chưa được quan tâm đúng mức. Chưa hề có môn giáo dục giới tính được đưa vào nội dung giảng dạy. Vấn đề này được lồng ghép vào một số nội dung của một số bài trong môn sinh học, môn giáo dục công dân, môn địa lí. Tuy nhiên, những nội dung đó vẫn còn chung chung, chưa đáp ứng được nhu cầu hiểu biết và sự cần thiết phải nắm vững các kiến thức về giới tính của các em học sinh. - Trường THPT Tôn Đức Thắng thuộc khu vực miền núi, tập hợp học sinh của các xã Phú Thịnh, Phú Lập, Tà Lài, Núi Tượng, Nam Cát Tiên. Đây đều là các xã khó khăn, học sinh ít có điều kiện tiếp nhận kiến thức về giáo dục giới tính qua các phương tiện thông tin đại chúng. Trong thư viện nhà trường, những tài liệu cung cấp thông tin về giáo dục giới tính là rất hiếm. Phụ huynh đa số sống bằng nghề làm rẫy nên cũng không chú trọng đến vấn đề nhạy cảm này. Do đó mỗi năm tình trạng học sinh mang thai, phá thai, nghỉ học để lập gia đình đều diễn ra. - Thái độ của các em khi nói đến những vấn đề liên quan đến giới tính còn khá dè dặt, các em chưa hề mạnh dạn trong quá trình tìm hiểu hay tiếp thu những kiến thức đó. 5 - Giáo dục giới tính là một lĩnh vực hoàn toàn mới đối với học sinh THPT. Trong khi đó một tiết học chỉ có 45 phút nên nội dung lồng ghép phải cô đọng, truyền tải phải hiệu quả. - Giáo dục giới tính là một vấn đề nhạy cảm đối với cả tâm lí người dạy và người học. - Các phương tiện cung cấp thông tin về GDGT còn ít cho các em HS. - Đa số giáo viên dạy môn sinh trường tôi là giáo viên trẻ, chưa lập gia đình nên việc lồng ghép những nội dung liên quan đến giáo dục giới tính vào dạy cũng gặp rất nhiều khó khăn. 3. Số liệu thống kê Tôi đã tiến hành khảo sát một số kiến thức cơ bản về giáo dục giới tính trước khi thực hiện đề tài ở 6 lớp 11b2, 11b3, 11b4, 11b5, 11b6, 11b7 tại trường THPT Tôn Đức Thắng với 10 câu hỏi sau: Câu 1: Dấu hiệu nhận biết có thai sớm nhất là a. Trễ kinh. b. Nôn ói. c. Bụng càng ngày càng to lên. Câu 2: Bệnh nào sau đây không phải là bệnh lây truyền qua đường tình dục? a. Bệnh giang mai. b. Bệnh cảm cúm. c. Bệnh lậu. Câu 3: Nếu quan hệ tình dục có giao hợp ở tuổi vị thành niên sẽ: a. Không gây hậu quả vì cơ quan sinh dục chưa phát triển đầy đủ. b. Có thai vì ở nữ trứng đã chín và rụng; ở nam đã hình thành tinh trùng. c. Cả 2 ý trên đều đúng. Câu 4: Giai đoạn dậy thì chính thức ở bạn nam được đánh dấu bằnghiện tượng a. vỡ tiếng. b. xuất tinh lần đầu không chủ định. c. mọc lông mu và râu. Câu 5: Thế nào là tình dục an toàn? a. Thỏa mãn nhu cầu sinh lý. b. Đảm bảo không nhiễm các bệnh lây lan qua đường tình dục, không gây tổn thương cơ quan sinh dục. c. Cả hai đều đúng. 6 Câu 6: Giai đoạn dậy thì chính thức ở bạn nữ được đánh dấu bằng hiện tượng a. vỡ tiếng. b. ngực phát triển. c. hành kinh lần đầu. Câu 7: Tác hại của việc mang thai ở tuổi vị thành niên: a. Ảnh hưởng tới sức khỏe, tâm sinh lí b. Ảnh hưởng tới kinh tế xã hội, tương lai của bản thân. c. Cả 2 ý trên đều đúng. Câu 8: Điểm khác biệt giữa tình bạn cùng giới và khác giới là: a. Tình bạn giữa bạn nam và bạn nữ. b. Có sự chân thành tin cậy, đồng cảm sâu sắc. c. Có một khoảng cách tế nhị, không dễ biểu lộ thân mật gần gũi, Câu 9: Tuổi vị thành niên được hiểu là giai đoạn từ a. khi sinh ra đến 10 tuổi. b. 10 tuổi đến 15 tuổi. c. 10 tuổi đến 19 tuổi. Câu 10: Chu kì kinh nguyệt của một người phụ nữ thường là a. 20 ngày. b. 28 ngày. c. 42 ngày. Kết quả khảo sát: (số câu đúng tính theo tỷ lệ %) Câu 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11b2 26,7 50,0 40,0 40,0 36,7 33,3 33,3 36,7 6,7 16,7 11b3 14,3 31,4 34,3 20,0 17,1 51,4 34,3 37,1 11,4 8,6 11b4 22,8 34,3 25,7 22,8 17,1 54,3 34,3 42,8 14,3 20,0 11b5 28,6 42,8 25,7 37,1 28,6 65,7 62,8 42,8 28,6 31,4 11b6 15,6 34,4 31,3 28,1 34,4 31,3 46,9 31,3 31,3 21,9 11b7 20,6 20,6 29,4 20,6 14,7 35,3 29,4 32,3 17,6 20,6 Trung 21,4 35,5 31,0 28,1 24,7 44,7 40,1 37,1 28,8 19,4 7 bình III - NỘI DUNG ĐỀ TÀI 1 – Cơ sở lí luận 1.1 Những kiến thức cơ bản về giáo dục giới tính cần cung cấp cho học sinh ở trường THPT - Giáo dục những hiểu biết về tâm lý, sinh lý, vệ sinh tuổi dậy thì, những biến đổi và khác biệt về tính cách em trai em gái do các hocmon từ các tuyến sinh dục gây ra. - Giáo dục kỹ năng giao tiếp ứng xử trong quan hệ giữa bạn trai, bạn gái ở tuổi vị thành niên. - Hiểu biết sâu sắc các giá trị của tình bạn, tình yêu, hiểu biết những thất bại tâm lý và các nguy hại lâu dài phải gánh chịu nếu mang thai ở tuổi vị thành niên. - Giáo dục bạn trai, bạn gái biết tôn trọng, bảo vệ nhau, cùng giữ gìn cho một tình yêu trong sáng. 1.2 Một số bài dạy có thể lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính trong chương trình sinh học 11 - cơ bản ở trường THPT: STT Bài Kiến thức về giới tính Bài 38 - Các nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển ở động vật - Dậy thì và các yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ sinh sản 2 Bài 39 - Các nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển ở động vật (tt) Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản tuổi vị thành niên. 3 Bài 40. Thực hành Xem phim về sinh trưởng và phát triển ở động vật Xem phim về 1 4 - Hoocmon giới tính - Quá trình thụ tinh ở người - Quá trình phát triển của thai nhi Bài 45. Sinh sản hữu tính ở động - Thụ tinh vật - Tình dục an toàn - Hậu quả mang thai ở tuổi vị thành niên. 8 5 Bài 46. Cơ chế điều hoà sinh sản - Hoocmon sinh sản - cơ chế điều hoà sinh sản - Hiện tượng kinh nguyệt - Phòng tránh thai 6 Bài 47. Điều khiển sinh sản ở động Các biện pháp phòng tránh thai và dân vật và sinh đẻ có kế hoạch ở người số kế hoạch hoá 1.3 Phương pháp tổ chức dạy học Giáo dục giới tính là vấn đề nhạy cảm, đòi hỏi sự khéo léo của người giáo viên. Một số yêu cầu cần đạt được trong dạy học: - Nội dung kiến thức khoa học chính xác, phù hợp với lứa tuổi, không né tránh gây những hiểu biết sai lầm của học sinh. - Phương pháp dạy học đa dạng, sinh động, lôi cuốn. - Khuyến khích việc tự tìm hiểu, nghiên cứu của học sinh. - Kích thích tối đa tính tích cực, bạo dạn nhưng nghiêm túc của học sinh. - Giáo viên sử dụng thuật ngữ chính xác nhưng khéo léo làm giảm tính căng thẳng trong tiết học. - Kết hợp giữa kiến thức khoa học với kiến thức xã hội, tình yêu, hôn nhân và gia đình. 2 - Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài Bài 38: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH TRUỞNG VÀ PHÁT TRIỂN Ở ĐỘNG VẬT I. Kiến thức giáo dục giới tính: - Hoocmon giới tính - Thế nào là giai đoạn dậy thì? - Những thay đổi về cấu tạo cơ thể, tâm sinh lí ở giai đoạn dậy thì? Nguyên nhân của sự thay đổi này. II. Vận dụng vào tiết dạy: Hoạt động 1: Tìm hiểu ảnh hưởng của các hoocmôn sinh trưởng và phát triển ở động vật có xương sống. Hoạt động của giáo viên, học sinh Nội dung kiến thức - GV: Cho HS quan sát Tranh vẽ H 38.1 và yêu I. Nhân tố bên trong cầu HS thực hiện lệnh SGK/ 152. 1. Các hoocmon ảnh hưởng đến sinh trưởng 9 - HS: quan sát, trả lời. và phát triển của động vật có xương sống y/c HS nêu được: + Tuyến yên tiết ra hooc môn sinh trưởng. + Tuyến giáp tiết ra Tirôxin. + Tuyến yên tiết ra hoocmôn sinh trưởng. + Tuyến giáp tiết ra Tirôxin. + Buồng trứng tiết ra Ơstrôgen. + Tinh hoàn tiết ra Testostêron. + Buồng trứng tiết ra - GV: Các tổ thảo luận (4') và nêu vai trò của các Ơstrôgen. hoocmon + Tinh hoàn tiết ra Testostêron. + Tổ 1: HM sinh trưởng + Tổ 2: Tirôxin + Tổ 3: Ơstrogen + Tổ 4: Testosteron - HS: Các tổ thảo luận, báo cáo. y/c nêu được nội dung 4 vai trò của 4 hoocmôn trong hình 38.1. - GV: Hướng dẫn HS quan sát hình 38.1, chỉ cho HS thấy nơi sản sinh ra ơstrôgen và testosterôn, 2 hoocmôn này gọi là hoocmôn sinh dục hay còn gọi là hoocmôn giới tính, kích thích biểu hiện các đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp, ở người các đặc điểm này biểu hiện mạnh ở giai đoạn dậy thì. - GV: Thế nào là dậy thì? - HS : Nghiên cứu, trả lời. Tuổi dậy thì là mốc đánh dấu sự trưởng thành về mặt sinh học của cơ thể. Đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời. Đây chính là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con thành người lớn. Ở Việt Nam, tuổi dậy thì thường kéo dài từ 3 - 5 năm và có thể chia thành 2 giai đoạn nhỏ: + giai đoạn trước dậy thì từ 11 – 13 tuổi ở nữ, 13 15 tuổi ở nam. + giai đoạn dậy thì 13 – 15 tuổi ở nữ, 15 - 17 tuổi ở nam. - GV: Giai đoạn dậy thì chính thức được đánh dấu bằng hiện tượng gì? -HS : Nghiên cứu, trả lời. 10 + Trẻ em nữ dậy thì được đánh dấu bằng lần có kinh nguyệt đầu tiên; trẻ em nam dậy thì được đánh dấu bằng lần xuất tinh không chủ định đầu tiên. - GV: Tuổi dậy thì gây ra những thay đổi gì? - HS: Nêu một vài biểu hiện thay đổi mà dễ nhận thấy. * Những thay đổi về thể chất: dưới tác dụng của tuyến yên và tuyến sinh dục, cơ thể diễn ra hàng loạt những biến đổi về hình thể, về sinh lí. Các cơ quan sinh dục ngoài phát triển, kích thích cơ thể tăng nhanh, trung bình mỗi năm chiều cao tăng thêm 4 - 8 cm, khối lượng cơ thể tăng thêm 4 - 8 kg. Hệ cơ cũng phát triển mạnh nhưng tốc độ chậm hơn so với hệ xương, làm cho trẻ em thường gầy, cao, chân tay lèo khèo, động tác vụng về thiếu chính xác. Có một số trường hợp, khối lượng cơ thể tăng rất nhanh và béo bệu. Hệ mao mạch dưới da phát triển làm cho da trở nên hồng hào hơn, nhất là các em nữ, lông mọc ở mu và nách, tuyến mồ hôi và tuyến nhờn phát triển mạnh, có thể xuất hiện trứng cá. + Những thay đổi trong cấu tạo cơ quan sinh dục của nam: da bìu bắt đầu thẫm màu và nhăn lại, tinh hoàn to lên, các ống sinh tăng kích thước và bắt đầu sinh sản tinh trùng gây xuất tinh. Cơ phát triển mạnh, vai rộng, chậu hông hẹp, tầm vóc cao to, thanh quản nở rộng, gây vỡ giọng. + Những thay đổi trong cấu tạo cơ quan sinh dục của nữ: sự phát triển của tử cung và 2 buồng trứng, các nang trứng phát triển mạnh và hình thành các trứng chín và rụng gây hiện tượng kinh nguyệt. Trong thời gian đầu, chu kì kinh nguyệt không đều và độ dài của chu kỳ, về số ngày hành kinh và lượng máu chảy. Vú và mông to lên, xương chậu phát triển theo chiều rộng, mô mỡ dưới da phát triển và dày tạo nên dáng mềm mại. * Những thay đổi về tâm lý: thường kém tập trung, kém nhạy cảm và trí nhớ chưa tốt. Quá trình hưng phấn thường mạnh hơn quá trình ức chế nên trẻ em thường nóng tính khả năng kềm chế kém, phản ứng thường bộp chộp, thiếu chính xác, cảm xúc 11 thường thay đổi đột ngột. Xuất hiện trạng thái mơ mộng và sự quan tâm đến bạn bè khác giới, nảy sinh những suy nghĩ về giới tính, về quan hệ tình dục. - GV: Nguyên nhân những thay đổi ở giai đoạn này? -HS : Nghiên cứu, trả lời. Do các hoocmon sinh dục (ơstrôgen và testostêron). Ở giai đoạn trước tuổi dậy thì, hàm lượng các hoocmon này còn thấp, nhưng đến tuổi dậy thì hàm lượng tăng cao kích thích sự chuyển hóa và hoàn thiện của các tế bào sinh dục, làm phát triển các đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp. Bài 39: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH TRUỞNG VÀ PHÁT TRIỂN Ở ĐỘNG VẬT( Tiếp theo) I. Kiến thức giáo dục giới tính: - Ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài (thức ăn , một số chất độc hại ) đối với sức khỏe tuổi vị thành niên. II. Vận dụng vào tiết dạy: Hoạt động 1: Tìm hiểu ảnh hưởng nhân tố bên ngoài đến sinh trưởng và phát triển ở động vật. Hoạt động của giáo viên, học sinh Nội dung kiến thức - GV: y/c HS thực hiện lệnh SGK/155: II. Các nhân tố bên ngoài cho vài ví dụ về nhân tố ngoại cảnh ảnh 1. Thức ăn hưởng đến sinh trưởng và phát triển 2. Nhiệt độ của động vật và con người. 3. Ánh sáng - HS: liên hệ thức tế, trả lời. - GV: y/c HS thảo luận (5'): Hãy cho biết ảnh hưởng của : thức ăn, nhiệt độ, ánh sáng, các chất độc hại tới sinh trưởng phát triển của ĐV và con người. + tổ 1: Ảnh hưởng của thức ăn. + tổ 2: Ảnh hưởng của nhiệt độ. + tổ 3: Ảnh hưởng của ánh sáng. 12 + tổ 4: Ảnh hưởng của các chất độc hại đối với động vật và con người. - HS: thảo luận theo tổ, đại diện tổ trình bày. - GV: Vì sao chế độ dinh dưỡng ở tuổi vị thành niên lại rất quan trọng? - HS: liên hệ thực tế, trả lời. - GV: So với cả đời người, lứa tuổi vị thành niên chỉ là một giai đoạn ngắn nhưng lại có những tác động lớn lao tới sự phát triển và tăng tiến của cuộc đời mỗi con người. Vì ở lứa tuổi này, các chất dinh dưỡng đóng vai trò tối cần thiết trong việc tăng cường thể lực, trí lực và ảnh hưởng cả đối nhân xử thế. Trong giai đoạn phát triển vượt bậc này, cần rất nhiều năng lượng, nhất là từ những chất thật bổ dưỡng. Nguồn dinh dưỡng tốt nghĩa là ăn thức ăn phù hợp để cơ thể khỏe mạnh. Những người khỏe mạnh có sức đề kháng tốt. Thức ăn đủ chất nghĩa là chế độ ăn uống hàng ngày phải có nhiều loại thức ăn, có đầy đủ các thực phẩm thuộc 4 nhóm: + Nhóm thức ăn chứa nhiều đạm: cá, thịt, trứng,... + Nhóm thức ăn tinh: cơm, mì,ngũ cốc... + Nhóm thức ăn chứa chất xơ: các loại rau xanh... + nhóm thức ăn chứa lipit: đậu phụng, dầu ăn,... Ở các em nữ đang trong thời kì kinh nguyệt mất một lượng máu lớn, do đó phải bổ sung năng lượng nhiều và bổ sung thêm sắt. Để có một sức khỏe tốt cần quan tâm đến những điều sau + Tạo cho thói quen ăn uống tốt, khoa 13 học. + Hạn chế ăn quà vặt, thực phẩm thức ăn nhanh. + Biết tìm hiểu những thực phẩm nào có lợi cho sự phát triển của chúng ta, và ngược lại những thực phẩm nào có hại. + Ăn nhiều chất sắt hơn, nhất là các em nữ. + Ăn thêm nhiều chất đạm, nhất là các em nam. + Bổ sung chất kẽm: Đối với nam, lượng kẽm cần bổ sung mỗi ngày là 33%, đối với nữ là 20%, so với thời kỳ trước dậy thì. + Ăn nhiều thức ăn chứa canxi: Cả nam và nữ đến độ dậy thì đều cần thêm chừng 33% hàm lượng canxi so với giai đoạn trước (tương đương 1200 miligram mỗi ngày, so với 800 miligram ở giai đoạn trước dậy thì). - Ăn nhiều thức ăn chứa nhiều loại vitamin trong thực phẩm. - Lựa chọn các chất béo có lợi, ăn nhiều cá và giảm các món sử dụng dầu ăn và mỡ động vật. Nhu cầu năng lượng Nhu cầu năng lượng tăng cao ở tuổi 13-15 đối với nữ (2.200kcal/ngày) và 16-19 đối với nam (2.700kcal/ngày). Lượng đạm (protein) cần ở giai đọan này là 55g/ngày (nữ) và 65g/ngày (nam). Tương đương khoảng 250g thịt cá mỗi ngày. Dưỡng chất cần lưu ý Ở giai đoạn tiền dậy thì và trong suốt thời gian dậy thì, các em thường thiếu chất kẽm, canxi, và sắt do nhu cầu tăng đáng kể nhưng chế độ ăn thường không cung cấp đủ. Kẽm cần thiết cho sự phát triển khối 14 Tóm lại, để sự phát triển thể chất được hoàn chỉnh, các em cần lưu ý ăn đủ bữa và nhiều loại thực phẩm khác nhau để nhận đủ các dưỡng chất cần thiết. Nhớ uống 2-3 ly sữa mỗi ngày, ăn đủ thực phẩm giàu đạm, rau và trái cây, hạn chế thức ăn chế biến sẵn và soda. cơ và hệ sinh dục. Nhu cầu của các em cần 12-15mg kẽm mỗi ngày. Các em có thể nhận kẽm từ thức ăn giàu đạm (thịt gia cầm, trứng, sữa,…) và ngũ cốc nguyên hạt. Canxi cần để phát triển khối xương. Nhu cầu canxi của các em là 700mg/ngày. Canxi có nhiều trong sữa, sản phẩm từ sữa (yaourt, phô-mai, …), cá nhỏ ăn cả xương, tôm tép, đậu hũ, và rau xanh. Sắt: Sự tăng thể tích máu đáng kể trong suốt quá trình tăng trưởng làm tăng nhu cầu sắt để tạo hemoglobin trong máu. Sắt cũng cần thiết cho sự hình thành myoglobin ở cơ bắp. Sắt có nhiều trong gan, huyết, thịt, cá, trứng, và rau xanh. vitamin B1, B2, và niacin, là những vitamin tham gia trong quá trình chuyển hóa năng lượng Folate và vitamin B12 cần thiết để tổng hợp DNA và RNA. Nhu cầu vitamin B6 cũng tăng theo sự tăng tổng hợp acid amin trong giai đọan này. Vitamin D cần thiết để phát triển khối xương. vitamin A, C và E cần để hình thành các tế bào mới. - GV: giảng về một số chất độc hại tiêu biểu mà tuổi vị thành niên dễ mắc vào. + Thuốc lá: Khói thuốc chứa hơn 4700 chất độc hại cho sức khỏe, gây các bệnh lí về hô hấp; bệnh lí về phổi; ung thư các cơ quan như vòm họng, thực 15 quản, khí quản…;ảnh hưởng đến sinh sản; thiệt hại về kinh tế gia đình…. + Ma túy: là những chất tác động tâm thần mà người sử dụng sẽ gây ra cho mình sự lệ thuộc. Ma túy có thể gây nhiễm độc, lú lẫn tâm trí, các phản ứng loạn tâm thần, hội chứng hồi tưởng, rối loạn các hành vi, rối loạn nhân cách, gây nhiều tội phạm, thiệt hại kinh tế…. + Bia, rượu: Mất khả năng xét đoán, suy nghĩ, tính chủ động, huyết áp tăng, khó kiềm chế cử chỉ, cử động không bình thường. Thần kinh bị tác động , vùng não bị tổn thương tạo nên nhiều ý nghĩ sai lầm, dễ gây tai nạn, gây hành vi phạm tội; liên quan đến các bệnh thận, dinh dưỡng, gan, tim, viêm dạ dày mãn tính,… với nồng độ cồn quá cao sẽ dẫn đến tử vong. Bài 40 THỰC HÀNH XEM PHIM VỀ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN Ở ĐỘNG VẬT I. Kiến thức giáo dục giới tính Xem phim về: - Quá trình thụ tinh ở người. - Quá trình phát triển của thai nhi. II. Vận dụng vào tiết dạy Hoạt động 1: Tìm hiểu quá trình thụ tinh ở người - GV: cho HS xem các đoạn phim về quá trình kết hợp giữa tinh trùng và trứng (thụ tinh) ở người. Hoạt động 2: Tìm hiểu quá trình phát triển của thai nhi - GV: cho HS xem đoạn phim về quá trình phát triển của thai nhi (sự phân chia tế bào, phân hóa hình thành các cơ quan, thai nhi qua các tuần tuổi) 16 Bài 45: SINH SẢN HỮU TÍNH Ở ĐỘNG VẬT I. Kiến thức giáo dục giới tính: - Cơ chế thụ tinh - Hậu quả mang thai ở tuổi vị thành niên. - tình dục an toàn. II. Vận dụng vào tiết dạy: Hoạt động 3: Tìm hiểu các hình thức thụ tinh Hoạt động của giáo viên, học sinh Nội dung kiến thức - GV: Yêu cầu HS quan sát hình 45.3 III. Các hình thức thụ tinh và 45.4 và hãy cho biết : 1. Thụ tinh ngoài + Đó là hình thức thụ tinh ngoài hay 2. Thụ tinh trong trong ? Tại sao. + Cho biết ưu thế của thụ trong so với thụ tinh ngoài. - HS: quan sát, trả lời. Yêu cầu nêu được : + Thụ tinh ở ếch là thụ tinh ngoài vì trứng gặp tinh trùng và thụ tinh bên ngoài cơ thể con cái. Thụ tinh ở rắn là thụ tinh trong vì trứng gặp tinh trùng và thụ tinh bên trong cơ quan sinh dục của cơ thể con cái. + Thụ tinh trong cho hiệu suất thụ tinh cao hơn so với thụ tinh ngoài. Do đó động vật thụ tinh ngoài thường đẻ trứng với số lượng lớn. - GV: Hãy nêu một số ví dụ về động vật có hình thức thụ tinh ngoài và động vật có hình thức thụ tinh trong. - HS: Liên hệ thực tế, lấy ví dụ. - GV: Vậy thụ tinh ở cơ thể người là hình thức thụ tinh ngoài hay thụ tinh trong? - HS: Liên hệ, trả lời. (Thụ tinh trong) - GV: Hãy nêu điều kiện để xảy ra quá trình thụ thai ở người? Ở tuổi vị thành 17 niên có thể thụ thai không? - HS: suy luận, trả lời. (Có trứngchín và rụng; tinh trùng gặp được trứng ở 1/3 ngoài của ống dẫn trứng tạo thành hợp tử; hợp tử di chuyển được về tử cung; màng tử cung đủ dày để thể làm tổ.Ở tuổi vị thành niên cũng có thể thụ thai nếu ở nữ có trứng chín và rụng, ở nam có tinh trùng.) + Nếu quan hệ tình dục có giao hợp ở tuổi vị thành niên sẽ có thai vì ở nữ trứng đã chín và rụng; ở nam đã hình thành tinh trùng. - GV: Thế nào là tình dục an toàn? (tình dục an toàn là hưởng thụ tình dục + Tình dục an toàn là: mà vẫn an toàn. Nghĩa là: - Không dẫn đến mang thai ngoài ý + không mang thai ngoài ý muốn. muốn và lây nhiễm các bệnh qua + hạn chế nguy cơ bị lây nhiễm các đường TD như: lậu, giang mai, bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS...Có nghĩa là không có sự điều này có nghĩa là không có sự tiếp tiếp xúc cơ thể với máu, chất dịch âm xúc cơ thể với máu, chất dịch âm đạo đạo và tinh dịch từ người này sang và tinh dịch từ người này sang người người khác. khác) - GV: Hậu quả của tình dục không an toàn? - HS: Liên hệ kiến thức, thự tế, trả lời. - GV: Hậu quả của tình dục không an toàn là: + mang thai ngoài ý muốn. + Mắc các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục hiện nay người ta đã tìm thấy khoảng hơn 20 loại bệnh lây qua đường tình dục như: HIV/AIDS, lậu, giang mai, sùi mào gà, mụn rộp sinh dục, hạ cam, trùng roi âm đạo, nhiễm nấm sinh dục, ... - GV: Hậu quả của việc mang thai ở vị thành niên? Mang thai ở độ tuổi vị thành niên ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ vì ở tuổi vị thành niên, cơ thể chưa phát triển đầy đủ cả về sinh – tâm lý. Chính vì 18 + Hậu quả của việc mang thai ở vị thành niên: - Ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ vậy, nếu vị thành niên để đẻ, nguy cơ tử vong mẹ và con vẫn còn cao. Và có nguy cơ cao về vô sinh, con trí tuệ kém, dị tật… và còn nhiều hậu quả nghiêm trọng khác nữa. vì ở tuổi VTN, cơ thể chưa phát triển đầy đủ cả về sinh – tâm lý, nguy cơ tử vong mẹ và con vẫn còn cao, con trí tuệ kém, dị tật… Về mặt kinh tế – xã hội: khi có thai phải ngưng việc học hành, khó khăn về kinh tế, không kiếm được việc làm, dẫn vị thành niên đi vào con đường bế tắc. Mặt khác, sinh con ở vị thành niên còn làm tăng nhanh dân số. - GV: Hậu quả của việc nạo phá thai ở vị thành niên? Hậu quả về mặt sinh học: Những biến chứng có thể gặp trong nạo phá thai đó là băng huyết, thủng tử cung và nhiễm trùng kéo dài có thể phải cắt bỏ tử cung... Hậu quả vê tâm lý và xã hội: - Về mặt kinh tế – xã hội: phải ngưng việc học hành, khó khăn về kinh tế, làm tăng nhanh dân số. + Hậu quả của việc nạo phá thai ở vị thành niên: - Bị các biến chứng - Tổn thương cơ quan sinh sản - Ảnh hưởng về tâm lý, gây ra hội chứng stress Các em sống trong lo sợ, bất an, buồn phiền... - GV: Hãy nêu các biện pháp đảm bảo tình dục an toàn? - HS: Nêu một số biện pháp. - GV: các biện pháp đảm bảo tình dục an toàn + Sử dụng bao cao su: tránh khỏi các bệnh lây truyền qua đường tình dục và mang thai ngoài ý muốn.. + Sống chung thủy. + Kiểm tra sức khỏe định kỳ. Bài 46: CƠ CHẾ ĐIỀU HÒA SINH SẢN I. Kiến thức giáo dục giới tính - Hoocmon sinh sản - Cơ chế điều hoà sinh sản. 19
- Xem thêm -