Skkn khai thác hệ thống kênh hình trong sgk lịch sử lớp 9

  • Số trang: 32 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 22 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

ĐẶT VẤN ĐỀ Việc thực hiện đổi mới nội dung - chương trình, đổi mới phương pháp dạy học đã được năm năm. Với phương pháp dạy học mới, phương tiện , thiết bị đồ dùng dạy học đã trở thành không thể thiếu trong mỗi tiết dạy , ở tất cả các bộ môn . Tăng cường tính trực quan, tính cụ thể , tính sinh động ,tính hấp dẫn…của giờ dạy, sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của giờ dạy - góp phần tích cực vào việc thực hiện tốt mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học mà chúng ta thực hiện tích cực trong suốt năm năm qua. Như thế, nói đến phương pháp dạy học mới, không thể không nói đến việc sử dụng tốt phương tiện, thiết bị , đồ dùng dạy học. Phương tiện , thiết bị ,đồ dùng dạy học ,chỉ có thể phát huy tối đa giá trị của nó , khi người giáo viên biết khai thác và hướng dẫn học sinh khai thác một cách tốt nhất , tất cả các phương tiện, thiết bị , đồ dùng dạy học có trong tay . Với bộ môn lịch sử , phương tiện và thiết bị dạy học rất đa dạng , phong phú: tranh ảnh , bản đồ (lược đồ), mẫu vật , băng hình ,phim đèn chiếu…Trong phạm vi của đề tài này , tôi xin đề cập tới việc : Khai thác hệ thống kênh hinh trong SGK lịch sử lớp 9 . A.NHẬN THỨC CŨ - GIẢI PHÁP CŨ : 1) Nhận thức cũ : SGK lớp 9 cũ có 43 kênh hình ở cả hai tập. (Trong đó , có 26 tranh ảnh và 17 lược đồ). Trong quan điểm và nhận thức của hầu hết giáo viên bộ môn lịch sử trước đây: Hệ thống kênh hình trong SGK nói riêng , hay thiết bị đồ dùng dạy học lịch sử ( lược đồ tranh ảnh , mẫu vật …) nói chung, chỉ là để minh hoạ cho hệ thống kênh chữ ,để bổ sung làm phong phú nội dung SGK, còn giá trị về mặt kiến thức thì rất ít … 2) Giải pháp cũ : 1 Chính vì nhận thức , quan điểm về tác dụng của hệ thống kênh hình như vậy, nên trong quá trình giảng dạy , giáo viên không thực sự chú ý nhiều đến khai thác hệ thống kênh hình . + Lúc nhớ , có thể khai thác qua loa (cho có ),chưa biết nên khai thác trọng tâm vào đâu.Sự đầu tư cho khai thác kênh hình chủ yếu còn ở dạng minh hoạ, chưa chú trọng về mặt kiết thức. Ví dụ: khi phân tích kết quả của cải cách ruộng đất(cuối năm 1953 đến năm 1956) giáo viên cho học sinh quan sát hình 58 và giới thiệu:đây là hình ảnh người nông dân được chia ruộng trong cải cách ruộng đất. Nếu chỉ dừng lại như thế, thì giáo viên không giới thiệu học sinh cũng biết được (khai thác hình 58 cụ thể nên như thế nào sẽ có ở phần sau). + Hoặc: nếu thời gian không còn nhiều, giáo viên có thể bỏ qua không khai thác kênh hình ; thậm chí vẫn có thể "quên" không khai thác…! Chính vì vậy , trong một thời gian dài , với phương pháp dạy học cũ , " một nguồn kiến thức quan trọng " đã bị bỏ quên một cách vô tình . B .NHẬN THỨC MỚI - GIẢI PHÁP MỚI 2 1) Nhận thức mới : Hiện nay, với phương pháp dạy học mới, đồ dùng dạy học nói chung , hay hệ thống kênh hình trong SGK lớp 9 nói riêng, không chỉ dừng lại ở giá trị "minh hoạ" cho hệ thống kênh chữ - mà chính thiết bị, đồ dùng dạy học(trong đó có hệ thống kênh hình ) là công cụ, là phương tiện cung cấp kiến thức và chính nó là"nguồn kiến thức". Như ta biết, học tập lịch sử là quá trình nhận thức những điều đã diễn ra trong quá khứ của xã hội, để hiểu về hiện tại và chuẩn bị cho tương lai. Vì vậy nhiệm vụ đầu tiên, tất yếu của bộ môn lịch sử ở trường phổ thông là tái tạo lịch sử. Để tái tạo lịch sử, trước hết phải kể đến lời nói sinh động giàu hình ảnh của giáo viên(tường thuật, miêu tả, kể chuyện, nêu đặc điểm của nhân vật lịch sử…). Nhưng, so với lời nói của giáo viên, các phương tiện trực quan( bản đồ - lược đồ, tranh ảnh, mẫu vật…) có ưu thế nhiều hơn: tạo ra hình ảnh lịch sử cụ thể sinh động , chính xác hơn , giúp học sinh thuận lợi hơn trong việc tạo biểu tượng lịch sử. Vì vậy, thật là tốt nếu giáo viên biết kết hợp nhuần nhuyễn các phương tiện trực quan với lời giảng sinh động của mình. Sau đây, chúng ta cùng tham khảo một kết quả nghiên cứu mà tiến sỹ Nguyễn Hữu Chí có đề cập đến trong tài liệu: Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở( năm 2002). Tỷ lệ lưu giữ trong trí nhớ: Phương pháp 1 2 Sau 3 giờ 30% Hình ảnh Lời nói 20% 60% 3 4 5 80% 90% 99% Lời và hình Lời, hình và hành động Tự phát hiện Sau 3 ngày 10% 70% 80% 90% Ta lưu ý các phương pháp 3, 4, 5: khi giáo viên kết hợp được phương pháp dùng lời và các phương pháp nhằm huy động đồng thời nhiều giác quan tham gia 3 vào quá trình học tập, tổ chức tốt quá trình dạy học thì kết quả sẽ khả quan. Lời giảng sinh động, giàu hình ảnh; đồ dùng trực quan đầy đủ; cách thức tổ chức khai thác kiến thức chuẩn xác của giáo viên, là những yếu tố quyết định cho thành công của mỗi tiết dạy. ở đây, chúng ta đang đề cập đến một loại phương tiện trực quan luôn có trong tay, luôn phải sử dụng trong mọi tiết dạy, đó chính là hệ thống kênh hình trong SGK.Hãy khai thác triệt để kênh hình, kết hợp với khai thác tốt kênh chữ , chúng ta sẽ hoàn thành tốt mục tiêu của bài học, học sinh sẽ nhanh chóng hiểu bài và lưu gĩư kiết thức bền vững hơn. Giáo viên không chỉ có nhiệm vụ khai thác tốt nội dung kênh hình trong quá trình giảng dạy mà còn có nhiệm vụ tổ chức kỹ năng học sinh khai thác kênh hình ấy một cách đúng hướng nhất - hình thành ở các em kỹ năng khai thác tranh ảnh , lược đồ (bản đồ)….có như thế ,hệ thống kênh hình (một dạng quan trọng của thiết bị ,đồ dùng dạy học môn lịch sử) mới phát huy được tác dụng - nhằm nâng cao hiệu quả,chất lượng của giờ lịch sử - góp phần làm bài giảng sinh động , hấp dẫn , sâu sắc về kiến thức .Nếu giáo viên khai thác kênh hình tốt ,sẽ để laị những ấn tượng cụ thể,đậm nét lưu giữ trong trí nhớ …góp phần làm các em thêm yêu ,thêm quý môn lịch sử - cải thiện dần quan niệm :"môn lịch sử là khô khan , chán ngắt ".Ngược lại , giúp các em nhận ra bản chất đích thực của môn lịch sử :Rất hay , rất hấp dẫn có giá trị lớn trong giáo dục tư tưởng,đạo đức ; giáo dục tình yêu quê hương, đất nước, con người, cho các em nhận thức ngày càng tốt hơn về quy luật phát triển xã hội…. 2) Giải pháp mới: Nếu như SGK lớp 9 cũ , đưa vào 43 kênh hình (ở cả hai tập ) ,thì SGK lớp 9 mơí đưa vào 92 kênh hình (trong đó có 27 lược đồ và 65 tranh ảnh) .Đây chính là điểm mới về kênh hình của SGK mới và cũng chính là một trong những biểu hiện rõ nét về đổi mới nội dung -chương trình SGK lớp 9 mới - nhằm đổi mới 4 phương pháp dạy học : Nhằm giúp thầy và trò khai thác kiến thức và rèn luyện kĩ năng trong học tập . Kênh hình , bên cạnh kênh chữ , ngoài mục đích minh hoạ cho kênh chữ , còn chứa đựng trong đó nội dung mà kênh chữ không chứa đựng nổi . Kênh hình giúp thể hiện một cách đầy đủ , chính xác và sinh động kiến thức của bài giảng…. Tuy nhiên , điều quan trọng nhất , là làm thế nào để hệ thống kênh hình trong SGK " thể hiện tối đa giá trị " của nó ? Trước tiên, chúng ta cùng thống nhất các bước cụ thể khi khai thác nội dung kênh hìnn trong SGK( bản đồ - lược đồ, tranh ảnh…): ( *) Khai thác nội dung lược đồ (bản đồ) : - Bước 1: Học sinh quan sát lược đồ (chú ý quan sát cả nội dung , ranh giới và các kí hiệu của lược đồ) - Bước 2 : Giáo viên đặt câu hỏi nêu vấn đề và gợi ý học sinh tìm hiểu nội dung lược đồ . - Bước 3: Học sinh trình baỳ kết quả tìm hiểu nội dung lược đồ . - Bước 4:Giáo viên nhận xét , bổ sung , hoàn chỉnh nội dung lược đồ (gắn liền với nội dung bài học ) (*) Khai thác nội dung tranh ảnh : - Bước 1: Học sinh quan sát tranh ảnh để xác định một cách khái quát nội dung tranh ảnh cần khai thác. - Bước 2: Giáo viên nêu câu hỏi , nêu vấn đề , tổ chức hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung tranh ảnh . - Bước 3: Học sinh trình bày kết quả tìm hiểu nội dung tranh ảnh . - Bước 4: Giáo viên nhận xét , bổ sung , hoàn thiện nội dung khai thác tranh ảnh , cung cấp kiến thức cho học sinh . 5 Các bước khai thác nội dung kenh hình trong SGK trên đây, được xem là quy trình bắt buộc mà tất cả chúng ta phải thực hiện nhiêm túc, việc còn lại để trả lời đợưc câu hỏi: Làm thế nào để hệ thống kênh hình trong SGK thể hiện được tối đa giá trị của nó? Tôi xin đi vào hai vấn đề cơ bản : 1. Khai thác kênh hình vào lúc nào ? 2. Khai thác kênh hình như thế nào ? NỘI DUNG CỤ THỂ : Với phương pháp dạy - học mới , lấy học sinh làm trung tâm , dưới sự hướng dẫn và tổ chức cuả thầy  trò tích cực , chủ động , năng động , sáng tạo chiếm lĩnh tri thức . Một trong những yêu cầu của triết học là mọi đối tượng học sinh trong lớp đều được làm việc , đều được suy nghĩ , đều có cơ hội để trình bày suy nghĩ của mình ….Để làm trọn vẹn được điều nằy , trong một quỹ thời gian có hạn hoàn toàn không dễ! Việc khai thác nội dung cơ bản của hệ thống kênh chữ đã mất rất nhiều thời gian , bên cạnh đó , giáo viên phải tổ chức , hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình như thế nào cho tốt về kiến thức lại phải tiết kiệm được thời gian , để bài học hoàn thiện là một trong những mối quan tâm lớn của giáo viên ! . (*) Trong một bài cụ thể , kênh hình nằm ở mục nào ? Nên khai thác kênh hình ấy ở phần đầu mục , giữa mục hay cuối mục ?…(làm sao cho hợp lí để đảm bảo tốt nhất về phương pháp - phương pháp mới) . (*) Khai thác như thế nào để đảm bảo về kiến thức (để kênh hình : chính là công cụ, là phương tiện cung cấp kiến thức và chính nó là nguồn kiến thức ) - kiến thức khai thác phải : vừa đúng , vừa đủ , vừa sâu lại vừa hay ( vừa phải đảm bảo về thời gian ) là điều rất khó … I. KHAI THÁC KÊNH HÌNH VÀO THỜI ĐIỂM NÀO ? 6 (*) Việc khai thác kênh hình , gần như song hành với kênh chữ - khai thác kênh hình có thể đi trước mở đường , có thể đi sau kênh chữ để hoàn thiện nội dung kiến thức và kênh hình được khai thác khi kênh chữ đề cập tới . Tôi xin đưa ra các phương án , ở 28 kênh hình trong học kì một (từ bài 1 đến bài 17). 1. Các kênh hình được khai thác vào đầu mục của bài (từ khai thác kênh hình, sẽ định hướng kiến thức cho học sinh khi khai thác kênh chữ ): Hình2(bài1); Hình 12 (bài 6) ; Hình3 (bài 2) ; Hình 14 (bài 7) ; Hình5 (bài 4) ; Hình 17 (bài 9) ; Hình 9 (bài 5) ; Hình 21 (bài 10) ; Hình10 ,hình11 (bài 5) ; Hình 22 , hình23 (bài 11) . 2. Các kênh hình khai thác vào cuối mục ( để hoàn thiện nội dung ) : Hình 4 (bài 2 ) ; hình 6 (bài 4 ) . 3. Khai thác kênh hình khi kênh chữ đề cập tới ( kênh hình cụ thể hoá nội dung kênh chữ ) : Hình 1 ( bài 1) ; Hình 18, hình 19, hình20 (bài 9); Hình 7 , hình 8 (bài 4) ; Hình 24 hình 25 , hình 26 (bài 12), Hình 13 ( bài 6 ) ; Hình 27 (bài 14) ; Hình 15 (bài7); Hình 28 (bài 16). Hình 16 ( bài 8) ; Trên đây , là những phương án , bản thân đã thể nghiệm qua hai năm thực hiện phương pháp dạy học mới , ở chương trình lịch sử lớp 9 - Sự sắp xếp và 7 bố trí nằy không phải là một quy định bắt buộc , mà nó hoàn toàn phụ thuộc vào sự chủ động về kiến thức , khả năng linh hoạt , sáng tạo của mỗi giáo viên . Tuy nhiên , dù khai thác kênh hình ở thời điểm nào chăng nưã , thì điều quan trọng nhất vận là : Khai thác theo hướng thể hiện phương pháp mới - Nghĩa là : Giáo viên phải hướng dẫn học sinh định hướng được kiến thức , tập trung sự suy nghĩ của các em vào trọng tâm của vấn đề . CHÚNG TA SẼ ĐI VÀO CÁC VÍ DỤ CỤ THỂ : 1) CÁC KÊNH HÌNH ĐƯỢC KHAI THÁC VÀO ĐẦU MỤC BÀI : (*) Ví dụ 1: Hình 2 (lược đồ các nước dân chủ nhân dân Đông Âu ) - Bài 1:II .Đông Âu . Hình 2 - Nằm ở mục 1 : Sự ra đời của các nước dân chủ nhân dân Đông Âu . * Nếu căn cứ theo nội dung kênh chữ ( nặng về phương pháp cũ ): + Bước1: 8 Chúng ta sẽ khai thác hoàn cảnh ra đời của các nước dân chủ nhân dân Đông Âu . + Bước 2 : Quá trình thành lập các nước DCND Đông Âu . + Bước 3: Mới khai thác kênh hình .( hình 2) . Như như vậy , kênh hình ( hình 2) lúc này xuất hịên chỉ có giá trị minh hoạ cho nội dung kênh chữ (học sinh xác định tên và vị trí các nước DCND Đông Âu trên lược đồ Châu Âu) . * Khai thác kênh hình (hình 2) theo phương pháp dạy - học mới ( chúng ta sẽ đưa việc khai thác kênh hình lên đầu mục ). Sau khi viết mục bài (II, 1) giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình : + Bước 1: Giáo viên cho học sinh quan sát hình 2 và đưa ra câu hỏi định hướng ? Các nước DCND Đông Âu gồm mấy nước , đó là những nước nào ? ( chú ý phần chú thích của lược đồ ). + Bước 2: Học sinh trả lời : Tên của tám nước DCND Đông Âu . + Bước 3:  Từ hình 2 (SGK) -> Giáo viên cho học sinh quan sát vị trí tám nước trên bản đồ Châu Âu -> Giáo viên hướng dẫn để học sinh nhận biết : Đa số các nước nằm ở phía đông Châu Âu ( vị trí địa lí ), nhưng có nước nằm ở phía tây Châu Âu ( cộng hoà dân chủ Đức).  Như vậy , khái niệm : "Các nước Đông Âu" trong lịch sử là các nước ở Châu Âu đi theo con đường XHCN chứ không đơn thuần về mặt vị trí địa lí (khái niệm này nặng nề về xu hướng chính trị hơn là về vị trí địa lí, để phân biệt với các nước Tây Âu đi theo con đường TBCN). 9  Từ khai thác hình 2: Các em đã nắm được có mấy nước Đông Âu? Tên các nước ? Vị trí địa li ? Tại sao gọi là các nước Đông Âu ? + Bước 4 Giáo viên tổ chức học sinh hoạt động nhóm để khai thác nội dung kênh chữ : Giáo viên có thể chia lớp thành 6 nhóm để hoàn thành hai câu hỏi ( cứ 3 nhóm làm một câu hỏi ): (1) Các nước DCND Đông Âu ra đời trong hoàn cảnh nào? (2) Các nước DCND Đông Âu đã hoàn thành Cách mạng DCND như thế nào ?  Mỗi câu hỏi : Một nhóm trả lời , hai nhóm còn lại sẽ nhận xét , bổ sung . + Bước 5:Giáo viên treo bảng phụ ( đã chuận kiến thức) để giảng và phân tích …(làm rõ đẳc điệm chung , hoàn cảnh ra đời của các nước Đông Âu - Kết hợp trình bày ở trên bản đồ Châu Âu ;cũng trong quá trình phân tích : Giáo viên một lần nữa giúp các em nắm chắc khái niệm "Cách mạng DCND" và khẳng định được bản chất tốt đẹp của "Nhà nước DCND" ( của dân , do dân và vì dân ).  Lịch sử các nước Đông Âu đã lật sang trang mới . ( khai thác nội dung (1) : Cả kênh hình và kênh chữ từ 13' đến 15'). (*) Ví dụ 2: Hình 3 (cuộc biểu tình đòi li khai và độc lập của Lít -Va )- bài 2: Sự khủng hoảng và tan rã của Liên bang Xô Viết . 10 * Nếu căn cứ theo nội dung kênh chữ : + Bước 1: Ta tìm hiểu bối cảnh Liên Xô đầu những năm 70 của thế kỉ XX. + Bước 2: Công cuộc cải tổ của M.Goóc -Ba Chốp . + Bước 3: Kết cục công cuộc cải tổ …  Lúc nằy, Kênh chữ mới đề cập tới sự thành lập "Cộng đồng các quốc gia độc lập '' (SNG 21/12 1991) - Nếu lúc nằy mới khai thác nội dung kênh hình (hình 3)_ thì giá trị kênh hình chỉ dừng lại ở sự minh hoạ cho nội dung kênh chữ là chủ yếu ( giá trị cung cấp kiến thức sẽ mờ đi ). * Khai thác "Hình 3" theo phương pháp dạy - học mới : + Bước 1: Sau khi viết mục bài (Bài 2…,I…), ta khai thác nội dung "hình 3" ngay . Hỏi : Các em quan sát hình 3(trang 9) và cho biết nội dung hình 3 nói về vấn đề gì? (dưới sự hướng dẫncủa giáo viên : học sinh sẽ khai thác kiến thức từ trung tâm bức tranh - hình chiếc kéo cắt rời lãnh thổ Lít -Va ra khỏi Liên Bang cộng hoà XHCN Xô Viết (CCCP) và biển người dương cao biểu ngữ , hô vang khẩu hiệu đòi Lít- Va độc lập … bên cạnh Lít- Va , nhiều nước cộng hoà khác nằm trong Liên Bang cộng hoà XHCN Xô Viết cũng diễn ra tình trạng tương tự …Đây chính là những sự kiện báo hiệu sự khủng hoảng trầm trọng và dẫn tới sự tan rã của Liên Bang cộng hoà XHCN Xô Viết .  Vậy , quá trình khủng hoảng và tan rã của Liên Bang cộng hoà XHCN Xô Viết ,diễn ra như thế nào ? chúng ta sẽ tìm hiểu cụ thể … + Với khai thác hình 3ngay từ đầu mục , sẽ tạo nên sự chú ý đặc biệt , tò mò , ham muốn tìm hiểu , khám phá : Tại sao Liên Xô - Niềm tự hào , thành trì của Cách mạng thế giới lại có thể khủng hoảng và tan rã ?… 11  Như thế , việc khai thác "hình 3" sẽ có giá trị đi trước mở đường : Cung cấp kiến thức , định hướng kiến thức , tạo ấn tượng mạnh , tạo nên tình huống có vấn đề ,làm cho các em tập trung suy nghĩ để tìm tòi, khám phá … + Bước 2: Chuyển sang khai thác hoàn cảnh dẫn tới sự khủng hoảng ở Liên Bang Xô Viết . + Bước 3: Công cuộc cải tổ M.Goóc _Ba _Chốp . + Bước 4:Kết cục của công cuộc cải tổ …. 2) CÁC KÊNH HÌNH ĐƯỢC KHAI THÁC VÀO CUỐI MỤC : (*) Ví dụ 1: 12 - Nếu hình 3 được khai thác vào đầu mục I thì hình 4 được khai thác vào cuối mục I (bài 2) : Khai thác nội dung hình 4 có giá trị hoàn thiện nội dung kiến thức mục(I) Giáo viên hướng dẫn học sinh nắm được : Lãnh thổ rộng lớn chiếm 1/6 S thế giới mang tên CCCP không còn nữa , thay vào đó là : Lược đồ của nước SNG…. Đây là sự kiện nhức nhối , làm đau lòng loài người tiến bộ , là nỗi xót xa đau đớn với tất cả những ai đã từng yêu tổ quốc Xô Viết … 13 (*) Ví dụ 2: - Hình 6. Lược đồ nước cộnh hoà nhân dân Trung Hoa sau ngày thành lập (bài 4, II. Trung Quốc) 14 (Mặc dầu hình 6 nằm ở trang 17 phần (2) , nhưng chính nó là nội dung kiến thức của hình (1)- Sự ra đời nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa ) - Khai thác hình 6 : chỉ nên khai thác vào cuối mục (1). + Khi giáo viên và học sinh phân tích ý nghĩa của sự ra đời nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa :…  Tới nội dung : Nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời , đã nối liền hệ thống XHCN từ Châu Âu sang Châu Á - trước tiên, giáo viên cụ thể hoá thông tin "nối liền hệ thống XHCN từ Châu Âu sang Châu Á bằng bản đồ thế giới.  Từ trực quan bản đồ thế giới, các em sẽ khai thác cụ thể hơn vào H6 (SGK): dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh sẽ nắm được những điều cơ bản nhất: đây là một đất nước rộng lớn với tổng diện tích là 9.596.960 km 2 - là nước rộng thứ 3 thế giới sau Nga và Ca-na-đa, biên giới giáp 12 quốc gia, thủ đô Bắc Kinh, số dân đông nhất thế giới -1,3 tỉ người,( chiếm 1/5 tổng dân số thế giới). Sự ra đời của nước CHND Trung Hoa không chỉ mở ra bước ngoặt vĩ đại trong sự phát triển của lịch sử đất nước Trung Quốc mà nó còn có giá trị đặc biệt to lớn đối với phong trào Cách mạng thế giới, tăng cường sức mạnh của hệ thống XHCN, cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới . . . => Khai thác H6 (SGK): sẽ có giá trị kết lại kiến thức phần (1) khẳng định được giá trị vô giá của sự nghiệp Cách mạng lâu dài, gian khổ của nhân dân Trung Quốc, mở ra giai đoạn phát triển mới trong phong trào Cách mạng thế giới (trong đó có Việt Nam). 3. CÁC KÊNH HÌNH ĐƯỢC KHAI THÁC KHI KÊNH CHỮ GIỚI THIỆU: Việc xác định thời điểm khai thác kênh hình loại thứ 3 này nhìn chung dễ hơn và phổ biến hơn. Kênh hình được khai thác khi kênh chữ giới thiệu, có giá trị cụ thể hoá nội dung kênh chữ, làm cho kiến thức sinh động , hấp dẫn. 15 (*)Ví dụ 1 : - Hình 13: Chân dung Nenxơn - Manđêla ( bài 16 các nước Châu Phi - phần II . Cộng hoà Nam Phi). - Ta chỉ nên khai thác hình 13: Chân Dung Nenxơn - Manđêla khi giới thiệu đến "dưới sự lãnh đạo của tổ chức "Đại hội dân tộc Phi" (ANC), người da đen đã tiến hành cuộc đấu tranh đòi thủ tiêu chế độ phân biệt chủng tộc .  Người đứng đầu ANC là Nensơn Manđêla vĩ lãnh tụ cách mạng kiên cường, trong cuộc đấu tranh chống chế độ apácthai . . . (*) Ví dụ 2 : - Hình 15: chân dung Phiđen Cátxtơrô. (Bài 7: II. Cuba - hòn đảo anh hùng) 16 - Chân dung Phiđen Cát xtơrô phải được giới thiệu đến khi giáo viên và học sinh phân tích sự kiện 26 tháng 7 năm 1953. Cuộc tấn công của 135 thanh niên yêu nước Cuba dưới sự lãnh đạo của Phiđen Cát xtơrô - một luật sư tuổi trẻ (27 tuổi) hội trưởng hội sinh viên, nổi tiếng thông minh, cương trực , qủa cảm và tuyệt vời yêu nước . . .  Khi khai thác hình 15 - Chân dung Phi đen Ca- Xtơ rô, Giáo viên nên kết hợp kể chuyện : Sự hiên ngang, hùng hồn tự bào chữa của Phi đen trước toà án Ba Ti Xta. . . trong (Bài tự bào chữa nổi tiếng : " Lịch sử sẽ xoá án cho tôi " ) Điều này, sẽ có giá trị rất lớn trong giáo dục tư tưởng , tình cảm của các em đối với Phi - đen - Vị lãnh tụ Cách mạng kiên cường của nhân dân Cu Ba - một cây tùng vươn mình hiên ngang trong bão tố trùng khơi , giữa vịnh Ca Ri Bê . . . Trên đây là hướng xác định : Thời điểm khai thác kênh hình trong bài giảng, cá nhân xin mạnh dạn đưa ra để các bạn đồng nghiệp cùng tham khảo , trên cơ sở ấy , các đồng chí có thể lựa chọn để đưa ra phương án cho chính mình : Khi xác định thời điểm khai thác kênh hình trong SGK . II KHAI THÁC KÊNH HÌNH NHƯ THẾ NÀO ? Việc khai thác kênh hình vào lúc nào là hợp lý và đúng lúc trong bài giảng , là điều hết sức quan trọng . Nhưng , bên cạnh xác định đúng thời điểm khai thác , giáo viên phải biết được mình sẽ khai thác nội dung gì ? Khai thác như thế nào để kênh hình " Bật lên tiếng nói " của chính nó - Tức là nội dung kiến thức của kênh hình sẻ được thể hiện rõ qua lời giảng của giáo viên- lúc này , chính kênh hình là “ nguồn cung cấp kiến thức” . Nếu giáo viên khai thác tốt , kênh hình không chỉ có giá trị cung cấp kiến thức , mà kênh hình còn có giá trị rất lớn trong việc giáo dục đạo đức , tư tưởng , tình cảm cho các em học sinh . Việc khai thác kênh hình như thế nào cho tốt , hoàn toàn tuỳ thuộc vào khả năng và vốn liếng kiến thức của mỗi một giáo viên . Trong phạm vi đề tài này , 17 Tôi xin nêu lên một số phương án mà bản thân đã thực hiện , qua thực tế giảng dạy từ nhiều năm nay . * Muốn khai thác kênh hình tốt , giáo viên phải chú ý đến các vấn đề sau : + Kênh hình ở mỗi bài ( Mỗi mục) là những đơn vị kiến thức cụ thể của các bài (của mục) ấy - như thế , nó sẽ là một trong những đơn vị kiến thức cơ bản của bài giảng , hoặc các đơn vị kiến thức bổ trợ cho kiến thức cơ bản của bài giảng . (1) Khai thác kênh hình , trước tiên phải bám vào kiến thức cơ bản của bài. (2) Từ kênh hình , chúng ta phải cụ thể hoá được nội dung kiến thức mà kênh hình chứa đựng . (3) Giáo viên sử dụng thủ pháp gì ? Sẽ sử dụng ngôn ngữ như thế nào cho phù hợp , để kênh hình trở thành nguồn cung cấp kiến thức , để kênh hình có giá trị giáo dục tư tưởng ,đạo đức , tình cảm cho học sinh. Trong khuôn khổ của đề tài này tôi chỉ nêu lên một số ví dụ cụ thể để minh hoạ ( Những kênh hình – kể cả lược đồ và tranh ảnh đã được sách giáo viên đề cập tôi xin không đề cập nữa ). 1. KHAI THÁC TRANH ẢNH : (*) Ví dụ 1 : Hình 11 - Hội nghị cấp cao ASEANVI họp tại Hà Nội . ( Bài 5 : III . Từ “ASEAN 6” Phát triển thành" ASEAN 10 ” ) 18 Ở phần I ( khai thác kênh hình vào thời điểm nào ?), chúng ta đưa ra phương án : Khai thác hình 11 ngay từ đầu mục III : + Giáo viên cho học sinh quan sát hình 11 và hướng dẫn các em khai thác : Hỏi: Các em nhận biết gì từ hình 11 ?  Các em trả lời được ngay : Đây là hội nghị cấp cao ASEANVI Họp tại Hà Nội . Như thế chưa đủ , ta hướng học sinh khai thác vào trung tâm của bức ảnh : Chín nguyên thủ của 9 Quốc gia Đông Nam Á , với gương mặt rạng rỡ nụ cười , đang nắm chặt tay trong tay  Chín nguyên thủ - Chín quốc gia đang kết thành một khối vững vàng tiến tới … đây chính là hội nghị cấp cao ASEAN VI họp tại Hà Nội , ngày 15,16/12/1998 – một mốc lịch sử đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển của tổ chức ASEAN . + Từ kênh hình , ta chuyển sang nội dung kênh chữ : Ở phần II : Sự ra đời của ASEAN , ta mới biết được sự gia nhập của 5 thành viên( 8/8/1967 : In -đô - nê -xi -a, Ma- lai - xi -a, Phi -líp -pin, Xin -ga - po, Thái - Lan). Vậy, 4 thành viên tiếp tục gia nhập sau đó là những nước nào? Vào thời điểm nào ?  Học sinh làm việc cá nhân  Giáo viên chuẩn kiến thức qua bảng phụ ( Thời gian gia nhập và tên của 4 nước tiếp theo ). Nội dung của III : Từ "ASEAN 6" phát triển thành "ASEAN 10" . Vậy thành viên thứ 10 là nước nào ? Gia nhập vào thời điểm nào ? 19  Học sinh phát biểu  Giáo viên điền tiếp vào bảng phụ – Hoàn thiện “ Sự phát triển về quy mô " của ASEAN .  Như vậy , kênh hình ( hình 11 ) đã đi trước, có giá trị mở đường cho sự phát triển và kênh chữ đã hoàn thiện "sự phát triển về quy mô" của ASEAN. + Giáo viên chuyển nội dung : ASEAN không chỉ dừng lại sự phát triển ở quy mô , mà quan trọng hơn , đó chính là sự phát triển về mức độ (  chuyển trọng tâm hoạt động sang hợp tác kinh tế . . . 1992 ,1994. . .) * Ví dụ 2 : Hình 42 – nhân dân góp gạo chống giặc đói ( bài 24-III . diệt giặc đói , diệt giặc dốt và giải quyết khó khăn về tài chính ). Ở hình 42 : khi khai thác , chúng ta nên bổ sung kiến thức , cụ thể hoá kiến thức bằng lời giảng hình ảnh . Bằng những câu chuyện cụ thể . . .để tạo ấn tượng , làm bài giảng thêm sinh động hấp dẫn : “ Hũ gạo cứu đói " , “ Ngày 20
- Xem thêm -