Skkn giúp học sinh khắc phục những sai lầm thường gặp khi giải bài tập hóa học ở trường thpt quảng xương 4

  • Số trang: 21 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 22 |
  • Lượt tải: 0
nguyen-thanhbinh

Đã đăng 8358 tài liệu

Mô tả:

A. PHẦN MỞ ĐẦU I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI : Quyết định số 16/2006/QĐ. BGD & ĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu: Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh. Để đạt các mục tiêu đó thì khâu đột phá là đổi mới phương pháp giáo dục từ lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “phương pháp dạy học tích cực”. Làm cho “học” là quá trình kiến tạo: tìm tòi, khám phá, phát hiện, khai thác và xử lí thông tin,…Học sinh tự mình hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất. “Dạy” là quá trình tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh: cách tự học, sáng tạo, hợp tác,…dạy phương pháp và kĩ thuật lao động khoa học, dạy cách học. Học để đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai…Giúp học sinh nhận thức được những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân và cho sự phát triển xã hội. Trong chương trình THPT, Hoá học là một bộ môn khoa học tự nhiên có vai trò quan trọng trong nhà trường phổ thông. Môn học cung cấp cho học sinh một hệ thông kiến thức phổ thông, cơ bản và thiết thực đầu tiên về hoá học, rèn cho học sinh óc tư duy sáng tạo và khả năng trực quan nhanh nhạy .Vì vậy giáo viên bộ môn hoá học cần hình thành ở các em một kỹ năng cơ bản ,thói quen học tập và làm việc khoa học làm nền tảng để các em phát triển khả năng nhận thức và năng lực hành động. Hình thành cho các em những phẩm chất cần thiết như tính cẩn thận, kiên trì, trung thực, tỉ mỉ, chính xác yêu khoa học. Nhằm đạt được mục tiêu đào tạo ra thế hệ những người lao động đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, ngành giáo dục và đào tạo phải tiến hành đổi mới trên mọi mặt: nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện,….Trong đổi mới hoạt động dạy học hóa học, vai trò của BTHH đặc biệt quan trọng nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ của bộ môn hóa học, đi tới mục tiêu nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho học sinh (HS), tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không đơn thuần chỉ là “thầy đọc, trò chép” như kiểu truyền thống, HS được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân mình.Hóa học là môn khoa học thực nghiệm, do đó dạy và học hóa học không 0 chỉ dừng lại ở việc truyền đạt và lĩnh hội kiến thức khoa học mà còn phải nâng cao tính thực tiễn của môn học: rèn luyện các kỹ năng, năng lực thực hành, nâng cao khả năng vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn sản xuất. Trong dạy học hóa học, bài tập hóa học (BTHH) là nguồn quan trọng để HS thu nhận kiến thức, củng cố khắc sâu những lí thuyết đã học phát triển tư duy sáng tạo của học sinh, nâng cao năng lực nhận thức. Tuy nhiên việc bố trí thời lượng trong làm bài cho phần kiến thức, bài tập hóa học rất ít đặc biệt với các bài tập trắc nghiệm. Do vậy đa số học sinh THPT hiện nay khi gặp các bài tập có vấn đề học sinh thường lúng túng và mắc sai lầm của đề ra ,cho nên việc hướng dẫn HS THPT phát hiện và tránh những nhầm lẫn khi giải bài tập không nhằm ngoài mục đích này .Việc làm này sẽ có tác dụng nâng cao hiệu quả dạy của thầy và học của trò .Qua thực tiễn dạy học, bằng những kinh nghiệm có được,tôi xin đúc kết lại thành sáng kiến kinh nghiệm với đề tài: Giúp học sinh“Khắc phục các sai lầm thường gặp trong quá trình giải bài tập hoá học tại trường THPT Quảng Xương IV’’ II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: - Hệ thống hóa những sai lầm thường gặp trong giải bài tập hoá học. - Vận dựng những hệ thống kiến thức đã xây dựng để dạy học trong chương trình lớp 12, ôn thi đại học,ôn thi học sinh giỏi nhằm khắc phục những sai lầm trong giải bài tập hoá học ,tăng hứng thú học tập bộ môn cho học sinh. III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU: - Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa ,sách giáo viên Hoá học lớp 10,11,12, các đề thi đại học , đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh môn Hoá học từ năm 2007 đến 2012. - Học sinh khối 12, học sinh ôn thi đại học,ôn thi học sinh giỏi. IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu luật giáo dục về đổi mới chương trình, phương pháp dạy học,.. Các tài liệu về lí luận dạy học, phương pháp dạy học tích cực bộ môn hóa. Nghiên cứu thực trạng dạy học hóa lớp 12 ở Trường THPT Quảng Xương IV. -Phân tích các sai lầm học sinh thường mắc khi giải bài tập Hoá học. 1 B. NỘI DUNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN Để hướng dẫn HS phát hiện và phân tích những sai lầm trong quá trình giải bài tập hoá học ở trường THPT ta cần hiểu rõ một số vấn đề và lý luận dạy học sau: 1. Tìm hiểu sai lầm và cơ chế phát sinh sai lầm trong dạy học a .Khái niệm về sai lầm- sai lầm trong nghiên cứu khoa học Theo trung tâm từ điển học ,từ điển Tiếng Việt (nhà xuất bản KHXH , Hà Nội 1994).Thì sai lầm là “ trái với yêu cầu khách quan ,lẽ phải dẫn đến hậu quả không hay” . Sai lầm không chỉ xuất hiện trong cuộc sống mà còn xuất hiện cả trong học tập, nghiên cứu khoa học. Alber Einstein nói về tác hại của sai lầm trong nghiên cứu khoa học “ nếu tôi mắc sai lầm thì chỉ cần một lần cũng đủ rồi”.Trong giáo dục Komensky khẳng định “bất kỳ một sai lầm nào cũng có thể làm cho học sinh kém đi, nhưng giáo viên không chú ý tới sai lầm đó bằng cách hướng dẫn học sinh nhận thức sửa chữa khắc phục sai lầm. A.A Stoliar cũng đã lên tiếng nhắc nhở giáo viên “ không được tiếc thời gian để phân tích trên giờ học các sai lầm của học sinh” b.Nguyên nhân phát sinh các sai lầm của học sinh trong giải bài tập HH. Qua tìm hiểu thực tế ở các lớp tôi trực tiếp giảng dạy,tìm hiểu quá trình các em giải bài tập, các sai lầm mà các em thường gặp là: - Đọc không kỹ đề ra, dẫn đến hiểu nhầm kiến thức, không phát hiện được nội dung chính(các “ chốt”) trong bài tập. - Không xét hết các trường hợp dẫn đến “thiếu nghiệm” -Vận dụng các phương pháp giải bài toán một cách không hợp lí và triệt để trong giải các bài tập hoá học. -Chưa có phương pháp phân tích và tổng hợp kiến thức. - Khi giải toán chưa cân bằng phương trình hoá học - Thiếu kĩ năng thực hành hoá học, các bài tập thực nghiệm hoá học còn mang nặng lý thuyết không sát thực tế. - Sai lầm của học sinh về cách hiểu và vận dụng lí thuyết hoá học trong giải bài tập 2 2. Ý nghĩa và tác dụng của việc phát hiện và phân tích những sai lầm trong quá trình giải bài tập hoá học ở trường THPT Theo tôi nếu giáo viên dự đoán được các sai lầm (về cách hiểu kiến thức lẫn kỹ năng thực hành) mà học sinh thường mắc phải sẽ tạo nên tình huống hay trong bài tập .Một giáo viên giỏi có kinh nghiệm trong dạy học sẽ có khả năng dự đoán được nhiều sai lầm làm cơ sở để xây dựng bài tập Hoá học có nội dung sâu sắc ,kiểm tra được nhiều sai phạm mà học sinh mình thường mắc trong quá trình học tập môn hoá học, để từ đó điều chỉnh quá trình dạy học nhằm khắc phục những sai lầm xảy ra,từ đó giúp học sinh hiểu sâu kiến thức hơn,tạo sự hứng thú học tập cho học sinh. II. NHỮNG SAI LẦM THƯỜNG GẶP TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI BÀI TẬP HÓA HỌC VÀ CÁCH KHẮC PHỤC SAI LẦM Việc tổng kết những sai lầm thường gặp trong dạy học hoá học cần có những nghiên cứu điều tra cơ bản, bước đầu tôi xin đề xuất một một số dạng sai lầm phổ biến sau: 1.Những nhầm lẫn trong quá trình vận dụng kiến thức về phản ứng oxi hoá khử Phản ứng oxi hoá khử là kiến thức rất quan trọng nó xuyên suốt trong quá trình hoá học vô cơ , trong kiểm tra kiến thức trong các kì thi tốt nghiệp, đại học và trong các kì thi chọn học sinh giỏi tỉnh thành phố,cho đến các kì thi quốc gia đều có kiểm tra kiến thức về phản ứng oxi hoá khử . Việc vận dụng kiến thức về phản ứng oxi hoá khử không thật đơn giản và dễ.Sau đây là một số “nhầm lẫn” về việc vận dụng kiến thức Ví dụ 1: Cho 39,2g hỗn hợp M gồm Fe, FeO, Fe 2O3, Fe3O4 ,CuO và Cu (trong đó oxi chiếm 18,367%về khối lượng) tác dụng vừa đủ với 400 ml dung dịch HNO3 nồng độ a mol/l,thu được 0,2 mol NO(sản phẩm khử duy nhất của N5+) .Gía trị của a là: A. 2,0 B.4,25 C .3,0 D.1,0 Phân tích : HS sẽ áp dụng pp bảo toàn e như sau: Qúa trình khử: NO3- +4H+ +3e NO+ 2H2O 0,8 0,6 0,2 mol  số mol HNO3 phản ứng=0,8 mol nồng độ của HNO3=a=2M suy ra đáp án A. Với cách giải trên HS phạm một sai lầm là viết quá trình khử để tính số mol HNO3 , thì số mol HNO3 trong quá trình đó là lượng HNO3 tham gia phản ứng oxi hoá khử , còn lượng HNO 3 trong cả quá trình phản ứng thì còn phải 3 tính thêm HNO3 tham gia phản ứng axit bazơ với Fe3O4 ,FeO,Fe2O3,Cu. Vậy phải giải như sau: tách hỗn hợp thành Fe, Cu và O Ta có khối lượng oxi=7,2g nên số mol oxi là 0,45mol Ta có quá trình oxi hóa: Fe  Fe3+ +3e x 3x 2+ Cu Cu +2e Quá trình khử: y O + 2e 2y  O2- 0,45 0,9 5+ N + 3e  N2+ 0,6 0,2 mol Áp dụng bảo toàn e ta có:3x +2y=1,5= số mol HNO3 tạo muối . Áp dụng bảo toàn nguyên tố N ta được số mol HNO3 =1,7 mol . Vậy a=4,25M đáp án B. Ví dụ 2: Hãy viết phương trình hoá học sau đây dưới dạng ion đầy đủ và rút gọn a. Al + HNO3  Al(NO3)3 +NO + H2O b. Fe + H2SO4  FeSO4 +H2 c. Fe + H2SO4 đ  Fe2(SO4)3 +H2O +SO2 * Phân tích : với loại câu hỏi học sinh thường áp dụng kiến thức về điện li và trình bày với kết quả như sau: a . - phương trình ion đầy đủ: Al +4H+ +NO3-  Al3+ + 3NO3- +NO + H2O - Phương trình ion rút gọn: Al +4H+ +NO3-  Al3+ + NO + 2H2O b. phương trình ion đầy đủ : Fe +2H+ +SO42-  Fe2+ +SO42- +H2 Phương trình ion rút gọn:Fe +2H+  Fe2+ +H2 c.phương trình ion đầy đủ: 2Fe +12H+ +6SO42-  2Fe3+ +3SO42- +6H2O+3SO2 Phương trình ion rút gọn: 2Fe +12H+ +3SO42-  2Fe3+ + 6H2O+3SO2 Với cách giải trên học sinh học sinh phạm một sai lầm ở câu (c) đó là nhìn phương trình ion rút gọn ta thấy SO 42- có tính oxi hoá ,nhưng thực chất 4 SO42- không có tính oxi hoá , mà tính oxi hoá của cả phân tử H 2SO4 . Vì vậy phương trình ion đầy đủ cũng như rút gọn của (c) là: 2Fe + 6H2SO4  2Fe3+ +3SO42-+ 6H2O+3SO2. 2 . Những sai lầm về cách hiểu và vận dụng kiến thức Kiến thức hoá học phổ thông vừa phong phú vừa đa dạng ,vừa lí thuyết vừa thực nghiệm , vừa trừu tượng vừa cụ thể , nên việc mắc sai lầm trong học tập là điều khó tránh khỏi . Giáo viên nên dự đoán về sai lầm để tạo tình huống có vấn đề trong bài tập ,phần nào giúp học sinh hiểu được những sai lầm đó qua hoạt động giải bài tập, tránh mắc những tình huống tương tự sau khi đã hiểu kiến thức một cách chính xác. Ví dụ 3: ốt cháy hoàn toàn 7,2 gam một hợp chất A ,thu được 22gam CO 2. Tìm CTPT của A. Phân tích :với bài tập này nhiều học sinh đưa ra lời giải như sau: Từ giả thiết ta có số mol CO2=0,5mol=số mol CmC= 6g mH=1,2 gam ,với CTTQ của A là CxHy ta có x:y= mC/12:mH/1==5:12 vậy công thức hợp chất A là C5H12. Với cách giải trên nhiều học sinh đã phạm sai lầm là nhầm lẫn giữa công thức thực nghiệm và công thức phân tử, thực chất của việc giải trên mới tìm ra CTTN, để có CTPT ta phải làm như sau: nCO2 = 1mol mH =2,4gam nH2O=1,2mol. Do nH2O>nCO2 nên A là ankan A có CTTQ CnH2n+2 ; n=1/ (1,2-1)= 5. CTPT A là C5H12 Ví dụ 4: cho biết điểm sai của một số cấu hình sau và sửa lại cho đúng a. 1s22s12p5 b. 1s22s22p63s23p64s23d2 c. 1s22s22p64s2 * Phân tích : đây là bài tập kiểm tra về kiến thức cấu hình e nguyên tử .Vậy học sinh phải hiểu khái niệm về cấu hình electron và phương pháp viết cấu hình electron,cụ thể là : Bước 1: mức năng lượng 1s2s2p3s3p4s3d4p5s4d5p…. Bước 2 : hiểu rõ các quá trình viết cấu hình electron: sắp xếp các phân lớp theo đúng trật tự của từng lớp trong mỗi lớp theo đúng thứ tự phân lớp Với kiến thức này học sinh sẽ áp dụng giải quyết vấn đề trên như sau: a. 1s22s12p5 Điểm sai vi phạm về việc sắp xếp e theo trật tự mức năng lượng Sửa sai: chủ yếu học sinh sửa lại theo kết quả:1s22s22p4(bảo toàn e) Như vậy học sinh làm đúng nhưng còn thiếu một kết quả 1s22s22p5 5 b.1s22s22p63s23p64s23d2 Điểm sai đây là mức năng lượng chứ không phải cấu hình e. Vì vậy hầu hết học sinh sẽ sửa lại :1s22s22p63s23p63d24s2.Tuy nhiên cấu hình e trên HS có thể sửa theo kết quả không bảo toàn:1s22s22p63s23p64s2 c. 1s22s22p64s2 * Phân tích : điểm sai cấu hình e thiếu lớp 3 ,vi phạm về sắp xếp e và mức năng lượng Sửa lại : hầu hết học sinh sử dụng bảo toàn e và sửa lại :1s 22s22p63s2. một số học sinh không sử dụng bảo toàn e mà thấy còn thiếu lớp thứ 3,nên viết lại cấu hình e trên với kết quả: 1s22s22p63s23p64s2. Một số học sinh nắm vững về cấu hình e có thể còn đưa ra 9 kết quả khác 1s22s22p63s23p63d x4s2. với x= 0,1,2,3,5,6,7,8,10 Ví dụ 5: xác định sản phẩm chính của phản ứng sau : CH2=CH-COOH +HBr * Phân tích : đây là câu hỏi về phản ứng cộng hợp các tác nhân bất đối xứng vào liên kết đôi C=C .Để giải quyết vấn đề này học sinh phải vận dụng quy tắc Maccopnhicop. + Áp dụng CH2 =CH-COOH + HBr→ CH3-CHBr-COOH( SPChính). với cách giải quyết trên học sinh đã vướng vào cái “ bẫy” là phản ứng trái với quy tắc Maccopnhicop vì 2 liên kết đôi liên hợp C3=C2-C1=O phân cực về phía O.Dẫn đến liên kết đôi C=C phân cực về phía C 2 mang một phần điện tích âm và H+ của tác nhân sẽ tấn công vào C2 sản phẩm chính là CH2Br-CH2 –COOH. Ví dụ 6: Cho một lượng dư bột kim loại sắt tác dụng với 250ml dung dịch HNO3 4M đun nóng và khuấy đều hỗn hợp ,phản ứng xãy ra hoàn toàn và giải phóng khí NO duy nhất . Sau khi kết thúc phản ứng đem lọc bỏ kết tủa thu được dung dịch A .Làm bay hơi cẩn thận dung dịch A thu được lượng muối khan, nung nóng lượng muối khan đó ở nhiệt độ cao đến phản ứng hoàn toàn ,thu được m gam chất rắn và x mol hỗn hợp gồm 2 khí . a. Viết phương trình hoá học xãy ra . b. Tính m và x  Phân tích : với bài tập này học sinh sẽ tập trung chú ý đến tính chất oxi hoá mạnh của HNO3. Vì vậy ,các em sẽ giải quyết bài tập bằng việc viết các PTHH :Fe + 4HNO3 →Fe(NO3)3+ NO+ 2H2O 6 4Fe(NO3)3 →2Fe2O3+12 NO2+3O2 Vậy chất rắn là Fe2O3 , hỗn hợp khí là NO2 và O2 từ giả thiết cho kim loại dư nên HNO3 hết vậy nFe2O3= 1/2nFe(NO3)3=1/8nHNO3=0,125mol m Fe2O3= 0,125.160=20g n NO2+ nO2= 6n Fe2O3+3/2n Fe2O3=15/16 mol. Tuy nhiên cách giải trên học sinh đã sai lầm là không chú ý dữ kiện kim loại đây là kim loại Fe,khác với kim loại khác ở chỗ khi Fe dư thì xãy ra phản ứng: Fe +2Fe(NO3)3  3Fe(NO3)2 Như vậy cách hiểu trên sẽ đem lại kết quả sai . Vậy dung dịch A phải là Fe(NO3)2 và phương trình nhiệt phân 4Fe(NO3)2 →2Fe2O3+8 NO2+O2 khối lượng chất rắn =0,1875.160=30g; Số mol khí= 5/2n Fe2O3=15/32 mol. Ví dụ 7: R là nguyên tố mà nguyên tử có phân lớp electron ngoài cùng là np2n+1(n là số thứ tự của lớp electron). Có các nhận xét sau về R: (I) Số electron lớp ngoài cùng trong nguyên tử R là 7 (II) Công thức oxit cao nhất tạo ra từ R là: R2O7 (III) Công thức với hidro tạo ra từ R là RH (IV) Công thức hidroxit tương ứng là HRO4. Số nhận xét đúng là: A. 4 B.1 C. 3 D. 2 * Phân tích:Bài tập trên là bài kiểm tra kiến thức học sinh về nội dung Bảng tuần hoàn,. Để làm bài tập này học sinh phải nắm vững kiến thức về CTTQ của các hợp chất quan trọng: số e tối đa trong mỗi phân lớp, oxit cao nhất , hiđroxit, hợp chất khí với hidro của các nguyên tố nhóm IA đến VIIA. Học sinh dễ dàng suy ra n=2 , nguyên tố thuộc nhóm VIIA. Với kiến thức đó các nguyên tố nhóm VIIA, học sinh sẽ chọn đáp án A. Tuy nhiên học sinh đã mắc sai lầm là nguyên tố thuộc chu kì 2,thì kết quả trên là sai .Ở nhóm VIIA ,chu kì 2 là nguyên tố F,do đặc điểm cấu tạo nguyên tử F nên công thức oxit cao nhất của F là F 2O, F không có công thức hidroxit tương ứng là HRO4.Vì vậy chọn D. Ví dụ 8: dãy gồm các chất đều tác dụng với Fe(NO3)2 là : A . Al,Cl2, NaOH, NaCl. B. AgNO3 ,Cl2, NaOH, NH3 7 C. Cl2, NaOH, HCl, AgNO3 , NH3 . D.NaOH, HCl, AgNO3 , Cu, * Sai lầm : hầu hết học sinh đều cho rằng không có phản ứng HCl+ Fe(NO3)2 vì HCl và HNO3 đều là axit mạnh và là axit dễ bay hơi .Do đó HS chọn đáp án B. Phương trình khi cho Fe(NO3)2 + HCl có phản ứng dạng ion như sau: Fe2+ +2H+ +NO3-  Fe3+ + NO + H2O. Vậy chọn đáp án C. Ví dụ 9:cho các chất p-crezol, natrietylat, alanin, phenylamoniclorua, protein,số chất phản ứng với NaOH là: A. 5 B. 4 C.3 D. 2 * Sai lầm : học sinh thường chọn đáp án B là gồm 4 chất p-crezol, alanin, phenylamoniclorua, protein. * Phân tích: Học sinh đã sai lầm khi không để ý phản ứng C2H5ONa+ H2O, vì trong dung dịch NaOH có H2O  chọn đáp án D. Ví dụ 10: cho dung dịch NaOH loãng dư vào mỗi dung dịch BaCl 2, AlCl3, CrCl2, CuCl2, AgNO3. Số chất tạo kết tủa: A. 5 B. 4 C.3 D. 2 * Sai lầm: đa số học sinh làm như sau: dd NaOH vào BaCl 2 không có hiện tượng gì. dd NaOH vào dd AlCl3 ban đầu có kết tủa ,sau kết tủa tan dd NaOH vào dd CuCl2 có kết tủa Cu(OH)2 dd NaOH vào dd AgNO3 không xãy ra phản ứng do AgOH không tồn tại. Vậy học sinh chọn đáp án D. * Phân tích: Do AgOH không tồn tại nên đã bị phân huỷ tạo thành Ag2O+H2O. Vì vậy NaOH vào dung dịch AgNO3 tạo kết tủa => đáp án C. Ví dụ 11: Fructozo phản ứng được với A. dd Br2 , B. Cu(OH)2 , C. KMnO4 D. cả ba chất * Sai lầm: Đa số HS chọn đáp án D vì các em suy nghĩ rằng Fructozo là một ancol đa chức nên phản ứng với Cu(OH)2 có cân bằng Fructozo ↔ Glucozo , nên có phản ứng của nhóm chức CHO,bị oxi hoá bởi các chất oxi hoá như dd brom, dd KMnO4 * Phân tích : thực ra để có cân bằng Fructozo ↔ Glucozo , thì cần phải có môi trường OH-, chính vì thế mà dung dịch brom, dd KMnO4 đều không thể oxi hoá được F, nên suy ra đáp án B 8 Ví dụ 12: điều chế polivinylancol dung các phương pháp nào sau đây 1.Trùng hợp ancol vinylic. 2.Trùng hợp vinyaxetat,sau đó thuỷ phân trong môi trường kiềm . 3. Thuỷ phân tinh bột . A. 1 và 2. B . chỉ có 1. C . chỉ có 2. D .chỉ có 3 * Sai lầm : hầu hết học sinh thường chọn đáp án A, vì học sinh thường nghĩ rằng để có polivinylancol thì phương pháp trùng hợp được áp dụng và trùng hợp monome ancol vinylic . * Phân tích: học sinh đã phạm sai lầm là ancol vinylic là một ancol kém bền không tồn tại, nó sẽ tự chuyển thànhCH3CHO. => Đáp án C. Ví dụ 13: Sự mô tả nào sau đây không đúng hiện tượng hoá học. A . Cho từ từ dung dịch Na 2CO3 loãng vào dung dịch HCl và khuấy đều ,lúc đầu không có hiện tượng gì, sau một thời gian thấy có sủi bọt khí. B. Cho quỳ tím vào dung dịch C6H5CH2NH2(benzylamin) thấy quỳ tím chuyển thành màu xanh. C. Cho từ từ anilin vào dung dịch HCl thấy tan dần vào dung dịch HCl. D. Cho propilen vào dung Br2, Br2 bị mất màu và thu được dung dịch đồng nhất trong suốt. *Sai lầm : hầu hết học sinh đã chọn đáp án B.Vì cho rằng amin thơm rất ít tan trong nước nên không làm đổi màu quỳ tím . *Phân tích : Benzylamin là một trường hợp đặc biệt,tan rất nhiều trong nước và đổi màu quỳ tím ,vì có phản ứng thuỷ phân với nước. Vì vậy chọn đáp án A. .3. Vận dụng các phương pháp giải toán một cách không hợp lý và triệt để trong công việc giải các bài tập hoá học. Một số sai lầm phổ biến như khi tính theo PTHH hoặc sơ đồ phản ứng mà quên cân bằng , hoặc cân bằng không đúng ,hiểu sai công thức tính toán trong hoá học,sử dụng đơn vị tính không thống nhất, không để ý đến hiệu suất của phản ứng, không xác định được chất nào hết hay dư,trong quá trình phản ứng , hiểu sai tính chất của các chất nên viết PTHH không chính xác, thiếu các khái niệm cơ bản ,khi sử dụng phương pháp giải bài tập. Ví dụ 14: Hỗn hợp X gồm HCOOH, CH3COOH, có số mol bằng nhau. Lấy 5,3g hỗn hợp X cho tác dụng với 5,75g C 2H5OH (H2SO4đ)thu được m gam hỗn hợp este(H=40%) giá trị m là: A. 7,04 B . 6,48 C. 8,10 D. 8,80 9 * Phân tích học sinh dễ mắc sai lầm khi áp dụng nhanh phương pháp tăng giảm khối lượng quen thuộc nhưng chỉ chú ý đến số mol ancol: RCOOH +C2H5OH RCOOC2H5+ H2O 1 mol  0,125mol m tăng =18g m tăng =3,5g khối lượng Este=5,3+3,5=8,8g => đáp án D. Một số học sinh khác cho rằng kết quả này chưa đúng ,vì chưa tính đến hiệu suất phản ứng m=8,8.0,8=7,04g=> đáp án A Rõ ràng kết quả này cũng chưa chính xác vì học sinh mắc sai lầm khi tính toán theo lượng chất dư C2H5OH(H=100%) Hướng dẫn học sinh tìm số mol axit và so sánh với ancol xem chất nào là chất thiếu trong PTHH . Gọi x là số mol mỗi axit ,ta có: 46x+60x=5,3  x=0,05, số mol axit=0,1<0,125 nên tính theo axit RCOOH +C2H5OH RCOOC2H5+ H2O 1mol 1 mol m tăng =18g  0,1mol m tăng =2,8g Vậy khối lượng Este m=(5,3+2,8).0,4=3,24g => đáp án B. Ví dụ 15: trong một cốc nước chứa a mol Ca 2+, b mol Mg2+ và c mol HCO3-, nếu chỉ dùng nước vôi trong, nồng độ Ca(OH) 2 xM làm giảm độ cứng của nước thì người ta thấy khi thêm V lít nước vôi tôi vào trong cốc thì độ cứng của nước trong cốc là nhỏ nhất.Biểu thức tính V theo a,b,x. A. V=2b+a/x ; B. V=b+a/x ;C. V=b+2a/x ; D. V=b+a/2x . *Phân tích: cách giải phổ biến thường gặp là dựa vào các phản ứng ion: Ca(OH)2  Ca2++ 2OHxV xV HCO3- +OH-  c 2xV CO32- + Mg2+  b b CO32- + Ca2+  2xV mol CO32- + H2O 2Xv MgCO3 CaCO3 a+xV a+xV vậy ta có a+b+xV=2xV =>V=b+a/x => đáp án B(nhiễu) * Sai lầm ở đây là học sinh không biết được độ tan của Mg(OH)2 10 (T=5.10-12)nhỏ hơn nhiều so với MgCO3( T=10-5) nên có sự ưu tiên tạo kết tủa Mg(OH)2 do đó phản ứng trao đổi ion xảy ra trong dung dịch như sau: Ca(OH)2  Ca2++ 2OHxV HCO +OH-  3 c c 2OH- + Mg2+  2b b 2CO3 + Ca2+  xV 2xV 2CO3 + H2O mol c Mg(OH)2 CaCO3 c c vậy ta có a+xV=c và a+2b=2xV =>V=2b+a/x => đáp án A. Ví dụ 16: Cho 31,84g NaX và NaY (X,Y là 2 halozen ở 2 chu kì liên tiếp) vào dung dịch AgNO3 dư thì thu được 57,34 g kết tủa. Công thức 2 muối là: A. NaCl và NaBr B. NaBr và NaCl C. NaF và NaCl D. NaF và NaCl hoặc NaBr và NaI. *Phân tích : hầu hết học sinh sẽ giải bài tập này bằng cách chuyển bài toán hỗn hợp thành bài toán 1 chất tương đương bằng việc gọi công thức tổng quát chung 2 muối là :NaX PTHH đã được viết là: NaX + AgNO3 AgX + NaNO3 23+X 108+ X 31,84 57,34 X=83,18 ,suy ra 2 halozen là Br và I=> Đáp án B Với cách giải trên học sinh đã phạm một sai lầm là cho cả 2 muối đều tạo kết tủa với dung dịch AgNO3, điều này chỉ đúng với 3 halozen Cl, Br, I. Còn NaF không tác dụng với AgNO3 vì không tạo kết tủa. Vì vậy cần hướng dẫn học sinh xét bài tập theo 2 khả năng Khả năng 1: hỗn hợp 2 muối halozen gồm NaF và NaCl ,lúc đó chỉ có NaCl phản ứng :NaCl + AgNO3 AgCl + NaNO3 Số mol NaCl = Số mol AgNO 3 =0,4 mol=> mNaCl=0,4.58,5=23,4<31,84 => trường hợp này thoả mãn Khả năng 2: cả 2 muối đều phản ứng với AgNO 3 -->Kết quả tìm được 2 halozen Br và I. Như vậy đáp án D. .4. Sai lầm của học sinh về cách hiểu và vận dụng lý thuyết hoá học trong giải bài tập. 11 Một số sai lầm của học sinh khi giải bài tập là do kiến thức lí thuyết chưa nắm vững còn phiến diện ,chưa tổng hợp được kiến thức . Ví dụ :một chất hữu cơ có phản ứng tráng gương ,thì học sinh chỉ nghĩ đó là anđehit mà không xét các trường hợp khác như HCOOH, HCOR, (HCOO) nM ….hay khi thuỷ phân este thì học sinh chỉ nghĩ rằng chỉ tạo ra axit(hoặc muối) và ancol chứ không nghĩ đến trường hợp tạo andehit, xeton, nhiều muối… Sau đây là một số ví dụ minh hoạ Ví dụ 17: Đun một chất hữu cơ A đơn chức có khối lượng 8,6 gam trong môi trường kiềm ta thu được 2 chất hữu cơ B và C .Chất B không phản ứng tráng gương ,còn lượng chất C tác dụng với Ag2O/NH3 thu được 21,6 gam Ag và chất D. Khi cho D tác dụng với NaOH tạo chất B. Tìm CTCT A,B,C. Giải: * Sai lầm ,hầu hết học sinh đều có thói quen suy nghĩ rằng: khi thuỷ phân este trong môi trường axit tạo axit và ancol khi thuỷ phân este trong môi kiềm tạo muối và ancol .Do đó bài tập trên học sinh sẽ nhầm tưởng B là ancol còn C là HCOOH, A là este. * Phân tích :ta giả sử C là chất có chức anđehit, CTTQ : RCHO Ta có RCHO + Ag2O  RCOOH +2Ag RCOOH + NaOH RCOONa +H2O . Theo 2 phản ứng trên : số mol RCOOH=nRCOONa= nRCHO =1/2 .nAg=0,1 mol Gỉa sử A là este đơn chức RCOOR1 +NaOH  RCOONa +R1OH 0,1 0,1 0,1 M Theo giả thiết MA=86=44+ R+ R1 =>R+R1= 42 = C3H6, nếu tách thành 2 gốc thì được –CH3 và – CH=CH2 , Nếu R của B là – CH=CH2 thì – CH=CH2COOH là B, còn C là CH3OH. Vậy C không tham gia phản ứng tráng gương.Do đó B là CH 3COONa và C là CH2=CH-OH, ancol này không bền chuyển thành CH3CHO có phản ứng tráng gương. Vậy A là CH3COOCH=CH2. Ví dụ 18: Hoà tan 2,8 gam Fe trong 150ml dung dịch HCl 1M, sau phản ứng thu được và khí H2. Cho lượng dư dung dịch AgNO3 vào dung dịch X thì thu được m gam chất rắn. H ãy tìm giá trị m Giải : * Sai lầm hầu hết học sinh làm như sau : 12 PTHH: Fe + 2 HCl 0,05 0,1 Ag+ + Cl-  Fe2+ FeCl2+ H2 (1). 0,05 AgCl 0,15 0,15 + Ag+  Fe3+ + Ag (3). mol (2) mol 0,05 0,05 mol Vậy khối lưọng chất rắn là 26,925 g. * Phân tích : học sinh đã viêt thiếu phản ứng hoá học : 4H+ + 3Fe2+ + NO3-  3Fe3+ + NO + 2H2O(*) Phản ứng(*) xãy ra trước phản ứng (3) , nên số mol Fe 2+ trong phản ứng (4) chỉ còn 0,0125 mol.Do đó khối lượng chất rắn là gam 22,875g .5. Không xét hết các trường hợp dẫn đến thiếu nghiệm . Một số học sinh thường mắc sai lầm khi giải bài tập không chú ý đến các tính chất đặc biệt của các phản cũng như các chất sản phẩm , như tính lưỡng tính của các oxit , hiđroxit lưỡng tính quá trình hoà tan các kết tủa của các oxit axit như hoà tan CaCO 3 bởi CO2 ....,Vì vậy học sinh thường xét thiếu nghiệm .Sau đây là một số ví dụ . Ví dụ 19: X là một dung dịch chứa 0,1 mol AlCl 3 , Y là dung dịch NaOH 1M. Cho dung dịch Y tác dụng với dung dịch X thu được kết tủa là 3,9 gam. V dung dịch X là : A . 0,15 lít B. 0,32lít C. 0,15 lít hoặc 0,35lít D. 0,35 lít. * Sai lầm : Hầu hết học sinh đều giải theo cách sau : PTHH: AlCl3 +3 NaOH Al(OH)3 + 3NaCl Bđ 0,1 1V 0,05 Qua số mol Al(OH)3 ta thấy AlCl3 dư, nên NaOH hết; Số mol NaOH= 3nAl(OH)3=0,15 mol, vậy VY=0,15 lít * Phân tích : đa số học sinh đã mắc sai lầm là không nghĩ đến tính chất lưỡng tính của Al(OH)3 nên đã không xét thêm trường hợp nữa là dd NaOH tác dụng hết với AlCl3 để thu được kết tủa cực đại ,1phần kết tủa Al(OH) 3 tan ra, nên bài tập này có 2 kết quả đúng là VY=0,14 lít hoặc 0,35 lít => đáp án C. .6 .Chưa có phương pháp phân tích và tổng hợp kiến thức 13 Đa số các em học sinh có năng lực học tập trung bình và yếu đều mắc sai lầm các kiến thức về phần này ,các em có thể có các kiến thức ở phần riêng biệt ,nhưng sự tổng hợp các kiến thức đó lại trong một vấn đề cần giải quyết thì hạn chế . Mặt khác nhiều em chưa có khả năng phân tích các dữ kiện bài toán để từ đó xâu chuỗi chúng lại thành một kiến thức thống nhất logic.Sau đây là một số ví dụ. Ví dụ 20: Cho các chất Zn(OH)2(1), AgCl(2), KOH(3), Al(OH)3(4), Mg(OH)2(5). Những chất nào trong các chất trên bị hoà tan trong dung dịch NH3. A. Chỉ có 1,2 B. Chỉ có 1,2,3. C. Chỉ có 1,3 D. 1,2,3và 5 * Sai lầm : Đa số học sinh thường chọn 1,2 vì học sinh nghĩ ngay đến khả năng tạo phức của dung dịch NH3 với Cu(OH)2(1), AgCl(2), nên chọn đáp án A *Phân tích : đề ra yêu cầu tìm chất bị hoà tan trong dung dịch NH 3 nên có thêm NaOH vì NaOH không phản ứng nhưng tan trong dung dịch NH 3 , nên phải chọn B Ví dụ 21 : Để điều chế Cl2 trong phòng thí nghiệm có thể dung các cách sau : 1.Cho dung dịch KMnO4 + dung dịch HCl đặc 2. Cho dung dịch KMnO4 và dung dịch H2SO4 đặc tác dụng với tinh thể NaCl. 3. Điện phân nóng chảy NaCl. A. Chỉ có 1, B. Chỉ có 2, C. Chỉ có 3, D . Cả 1,2,3 * Sai lầm : học sinh thường chọn đáp án D , như vậy phản ứng 2 cũng được chấp nhận. *Phân tích: khi cho H2SO4 đặc tác dụng NaCl sẽ tạo khí HCl: NaCl + H2SO4 NaHSO4 +HCl Nhưng do HCl sinh ra ở dạng khí hoặc có hoà tan thành axit thì nồng độ cũng không đủ lớn để tác dụng với KMnO4 tạo khí Cl2 - Trong phòng thí nghiệm với lượng chất điều chế ít dụng cụ đơn giản không dùng phương pháp diện phân . Vậy chỉ có phương án (1) là hợp lí nên chọn đáp án A. Ví dụ 22 : dãy gồm các chất đều làm mất màu dung dịch Brom là: A. Xiclobutan, propilen, axetilen, butadien. B. Propilen, axetilen, glucozo, triolein. 14 C. Benzen, axetilen , etilen,tripanmitin. D. Propilen, axetilen, butadiene, saccarozo. * Sai lầm : hầu hết học sinh khi giải quyết kiến thức trên thấy các chất trong câu A đều thoả mãn, nên chọn đáp án A . * Phân tích :Xiclobutan chỉ có khả năng phản ứng với Brom khan ,chứ không phản ứng với Br2 dd trong dung môi CCl4 => đáp án dung là B Ví dụ 23: Cho 0,1 mol mantozo thuỷ phân với hiệu suất 60% . Cho sản phẩm tác dụng với lượng dư dung dịch AgNO3/ NH3 thu được m gam kết tủa . Giá trị của m là: A. 34,56 g . B. 43,2g . C. 38,88g . D .17,28g . *Sai lầm: hầu hết học sinh sẽ làm như sau : C12H22O11 + H2O  2C6H12O6 0,1 C6H12O6  2Ag 0,12 0,12 0,24 Vậy khối lượng kết tủa m= 25,92g =>đáp án A(nhiễu). * Phân tích: hầu hết học sinh đã quên là mantozo còn dư cũng tác dụng với dung dịch AgNO3/ NH3 tạo kết tủa ,vì vậy khối lượng kết tuả phải là: (0,24+0,04.2)108= 34,56g => đáp án C. Ví dụ 24: Cho 2,4 gam Mg tác dụng hết với dd HNO 3 sau phản ứng thu được 0,224 lít khí N2 (đktc) và dung dịch A. Cô cạn dung dịch A thu được m gam muối khan. Gía trị của m là: A. 14,8 B. 13,8 C .15,8 D .7,4 * Sai lầm: hầu hết học sinh đều nghĩ rằng ,vì Mg phản ứng hết , nên muối tạo thành là Mg(NO3)2 có khối lượng là: 0,1. 148=14,8 g =>đáp án A(nhiễu) * Phân tích: học sinh đã không để ý đến giá trị VN2 ,nên ta phải sử dụng phương pháp bảo toàn electron : Qúa trình oxi hoá: Mg Mg2+ +2e 0,1 0,1 0,2 Qúa trình khử : 2N5+ + 10e N2 mol. 0,1 0,01 mol. Vậy chứng tỏ trong dd muối có NH4NO3 ,nên có N5+ + 8e N3-(NH4NO3) 0,1 0,1/8 15 Vậy khối lượng muối là: m= 14,8+ 80. 0,1/8=15,8 .Vậy đáp án C. Qua những sai lầm ở trên học sinh cần chú ý những điểm sau trong quá trình trả lời các câu hỏi lí thuyết ,cũng như giải bài tập hoá học. 1. Đọc kỹ đề ra trước khi làm bài. 2. Tóm tắt đề bằng cách gạch chân dưới những nội dung quan trọng có trong đề ra. 3. Nếu là câu hỏi lý thuyết cần phân loại nhanh, là câu hỏi thuộc dạng nào: giải thích một vấn đề, nhận biết các chất, tách hay tinh chế các chất. Từ đó áp dụng ngay phương pháp giải các dạng đó để giải quết vấn đề nêu ra. Nếu là bài tập tính toán, trước hết học sinh phải trang bị một số phương pháp giải toán hoá học như : phương pháp bảo toàn khối lượng, bảo toàn e, phương pháp đường chéo, bài toán chất khí, phương pháp trung bình. Sau đó hướng dẫn học sinh trước khi giải toán tìm ra số mol các chất (nếu có thể), viết phương trình hoá học, hay sơ đồ biến hoá để kết nối các mối quan hệ, từ đó lập phương trình toán học để tìm nghiệm. Nếu bài tập thí nghiệm cần cho học sinh làm quen với nhiều các thao tác thí nghiệm, các buổi thực hành phải hướng dẫn học sinh trực tiếp làm thí nghiệm. Các em phải tận mắt quan sát được các hiện tượng và giải thích được các hiện tượng đó một cách khoa học.Từ đó, các em khái quát và hình thành nên tư duy thực nghiệm hoá học. IV. KẾT QUẢ THU ĐƯỢC: Như vậy, đổi mới dạy và học hiện nay là hướng tới học tập chủ động, tích cực, tự tòm tòi, chống thói quen học tập thụ động. Các phương pháp tích cực hướng tới việc hoạt động hoá, tích cực hoá hoạt động nhận thức của người học phải gắn liền với giá trị thực tiễn của nội dung bài học. Đó là nhu cầu cũng là xu hướng của giáo dục thời hội nhập để rèn luyện cho học sinh khả năng tự lực, nhạy bén trong cuộc sống bao gồm các kĩ năng đặc trưng chung là : Khả năng liên hệ thực tế các vấn đề học tập vào cuộc sống. Khả năng tự học. Khả năng tổ chức các hoạt động học tập của học sinh. Tăng cường học tập cá nhân phối hợp với học tập hợp tác. Áp dụng các bài tập mà học sinh thường mắc sai lầm nên lồng ghép vào các giờ luyện tập ,giờ học yêu cầu và lựa chọn đúng nội dung bài, thời gian hợp lí trong giờ học mới cuốn hút sự chú ý, tập trung của học sinh tạo không khí thoải mái trong tiết học, mới tạo được ý thức học tập và yêu thích bộ môn. 16 Khi tôi chưa áp dụng kinh nghiệm này thì tỉ lệ học sinh yêu thích bộ môn hóa học không nhiều, các em vẫn ngại học môn Hoá. Từ đó dẫn đến kết quả học tập,điểm thi đại học của học sinh không cao. Sau khi tôi áp dụng phương pháp dạy học tích cực lồng ghép các bài tập có vấn đề và phân tích các sai lầm thường gặp cho học sinh, chất lượng học tập bộ môn này được nâng cao,tôi nhận thấy, trong quá trình tự học, học sinh tự tìm tòi, phát hiện được nhiều phương pháp khác nhau trong giải bài tập hoá học. Giúp cho niềm hứng thú, say mê trong học tập của học sinh càng được phát huy.Trong những lần kiểm tra định kì ,kiểm tra chất lượng khối 12 (thi thử đại học) kết quả tăng lên rõ rệt . Kết quả các lần khảo sát chất lượng khối 12 của bộ môn Hóa học của trường như sau : Lần kiểm tra Lần 1(tháng 12-2012) Lần 2(tháng 3 năm 2013) Lần 3(tháng 4 năm 2013) Dưới TB 35,6% 18,9% 10,3 % TB 38,9% 45,7% 38,4% Khá , giỏi 25,5% 35,4% 51,3% 17 C. KẾT LUẬN Đề tài này mới chỉ khai thác một số nhầm lẫn mà quá trình hướng dẫn học sinh giải bài tập các em mắc phải , chắc chắn rằng đang còn nhiều nội dung khác nữa cần được tiếp tục phát triển thêm. Các tình huống trong bài tập có thể giúp giáo viên đánh giá năng lực nhận thức của học sinh từ đó, phân loại học sinh để tìm ra phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh, giúp giáo viên bồi dưỡng nhân tài cũng như phụ đạo học sinh yếu kém một cách khoa học hơn. Phân tích những sai lầm trong giải bài tập hoá học có thể xem như một phương pháp “phản chứng” trong giảng dạy kiến thức ở trường THPT , có thể được nghiên cứu sâu rộng hơn ,kết hợp thực nghiệm sư phạm để có thể trở thành cơ sở lý luận khoa học trong dạy học.Với cố gắng của bản thân, tôi tin rằng tỉ lệ học sinh yếu sẽ được giảm hơn nữa, để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục cho tỉnh nhà. Với điều kiện thời gian ngắn,chưa có điều kiện tìm hiểu môi trường học ở những nơi khác nhau ,trình độ bản thân có hạn chắc chắn đề tài còn nhiều hạn chế.Các ví dụ được đưa ra có thể chưa thực sự điển hình. Với tâm huyết nghề nghiệp và tấm lòng của mình tôi muốn đóng góp một phần nhỏ công sức của mình vào công việc chuyên môn, nhằm nâng cao hiệu quả dạy học, rất mong được sự chỉ dẫn, góp ý và đồng cảm của các đồng nghiệp để cho đề tài thực sự góp phần giúp cho việc giảng dạy và học tập môn hoá học trong nhà trường phổ thông ngày càng tốt hơn. Xác nhận của Ban giám hiệu Thanh Hóa, ngày 13 tháng 05 năm 2013 Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh nghiệm của mình viết, không sao chép nội dung của người khác. Người thực hiện Hà Thị Hiền 18 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đề thi đại học cao đẳng các năm từ 2007 đến 2012. 2. Đề thi thử đại học cao đẳng các năm từ 2007 đến 2012 3. Cao Cự Giác .Thiết kế và sử dụng bài tập hoá học thí nghiệm trong dạy và học hoá học.Nhà xuất bản giáo dục 2009. 4. Cao Cự Giác .Các phương pháp chọn lọc giải nhanh bài tập hoá học.Nhà xuất bản Giáo Dục,2009. 5. Đào Hữu Vinh.500 bài tập hóa học. Nhà xuất bản giáo dục 1995. 19
- Xem thêm -