Skkn giúp học sinh bậc trung học cơ sở tiếp cận gần hơn với dân ca

  • Số trang: 18 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 21 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

Sáng kiến “ Giúp học sinh THCS tiếp cận gần hơn với dân ca” MỤC LỤC Danh mục Trang PHẦN MỞ ĐẦU 02 1. Lý do chọn đề tài. 1.1. Lý do khách quan. 1.2. Lý do chủ quan. 1.3. Lựa chọn đề tài. 2. Mục đích nghiên cứu. 02 02 04 04 04 05 3. Đối tượng nghiên cứu. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu04 4. Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu. 6. Phương pháp nghiên cứu. 7. Thời gian nghiên cứu. 05 05 PHẦN NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận. 1.1. Cơ sở lý luận. 1.2. Cơ sở pháp lý. 2. Thực trạng của vấn đề. 2.1. Đặc điểm chung. 2.2. Một số thuận lợi khó khăn. 3. Những biện pháp - giải pháp đã thực hiện. 3.1. Học sinh hát và tự kiểm tra lẫn nhau. 3.2. Khuyến khích kỹ năng nghe và đánh giá của học sinh. 3.3. HS phát biểu cảm nhận về bài hát dưới nhiều hình thức khác nhau. 3.4. Hướng dẫn học sinh biểu diễn bài hát. 3.5. Chơi trò chơi. 3.6. Sáng tác lời ca mới 3.7. Đưa dân ca vào trong các hoạt động ngoại khoá âm nhạc. 3.8. Nói chuyện về dân ca theo chuyên đề. 05 05 05 06 06 07 07 08 09 10 10 10 10 11 12 12 3.10. Phát thanh các bài dân ca trong nhà trường.12 3.9. Thi hát dân ca. 4. Bài dạy minh hoạ. 12 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 16 16 16 1. Kết quả đạt được. 2. Kiến nghị - Đề xuất. 2.1. Kiến nghị 2.2. Đề xuất. 16 17 NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT Viết thường Viết tắt Bộ giáo dục và đào tạo Trung học cơ sở Trung học phổ thông BGD&ĐT THCS THPT 1 Sáng kiến “ Giúp học sinh THCS tiếp cận gần hơn với dân ca” Giáo viên Học sinh GV HS PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 1.1. Lý do khách quan: - Căn cứ: Chỉ thị số 2337/CT-BGDĐT ngày 27/7/2012 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục chuyên nghiệp năm học 2012-2013; văn bản số 5289/BGDĐT- GDTrH ngày 16/08/2012 của Bộ GD&ĐT về Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học năm học 2012-2013; Sở GD&ĐT hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học năm học 2012-2013 như sau : A. CÁC NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM. + Tập trung đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá, tạo sự chuyển biến cơ bản về tổ chức hoạt động dạy học + Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động, các phong trào thi đua của ngành gắn với việc đổi mới giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị + Đổi mới công tác quản lý giáo dục trung học theo hướng tăng cường phân cấp quản lý + Tích cực triển khai công tác bồi dưỡng thường xuyên cho cán bộ quản lý, giáo viên; chú trọng bồi dưỡng năng lực đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm đánh giá, năng lực giáo dục đạo đức kĩ năng sống + Tổng kết 10 năm thực hiện phổ cập giáo dục THCS B. CÁC NHIỆM VỤ CỤ THỂ. Thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động và các phong trào thi đua. + Đối với các cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" và “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”: + Các trường THCS, THPT tiếp tục tổ chức tốt hoạt động “Tuần sinh hoạt tập thể” đầu năm học theo các nội dung tại hướng dẫn số 173/SGD&ĐT-GDTrH ngày 10/8/2012 về tổ chức tuần sinh hoạt tập thể. + Tăng cường đổi mới nội dung, phương thức hoạt động giáo dục theo chủ điểm, giáo dục truyền thống, giáo dục ngoài giờ lên lớp + Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động văn nghệ, trò chơi dân gian và các hội thi năng khiếu văn nghệ...vv 1.2. Lý do chủ quan. Như chúng ta đã biết Âm nhạc là một loại hình nghệ thuật nhằm phản ánh hiện thực khách quan bằng những hình tượng có sức biểu cảm của âm thanh. Với học sinh THCS môn âm nhạc là một trong những phương tiện hiệu quả nhất để thực hiện nhiệm vụ giáo dục thẩm mỹ (Đức – Trí - Thể - Mỹ) cho HS nhằm 2 Sáng kiến “ Giúp học sinh THCS tiếp cận gần hơn với dân ca” góp phần giáo dục toàn diện cho HS theo mục tiêu đào tạo và tạo cơ sở hình thành nhân cách con người mới Việt Nam. Ngày nay trong quá trình hội nhập với thế giới, văn hoá nghệ thuật mang bản sắc dân tộc và truyền thống văn hoá là những giá trị không thể thiếu trong hành trang của con người Việt Nam hiện đại. Do vậy nội dung giáo dục âm nhạc ở trường học nói chung và THCS nói riêng cũng góp phần làm nhiệm vụ đó. Tuy nhiên âm nhạc trong nhà trường THCS với tư cách là một môn học có mức độ nhất định về mục đích và nội dung, song mục đích của việc dạy và học môn âm nhạc trong nhà trường phổ thông là giáo dục văn hoá âm nhạc cho HS nhằm trang bị cho các em những kiến thức cơ bản các kỹ năng nhằm tạo điều kiện cho khả năng cảm thụ, hiểu và thể hiện nghệ thuật âm nhạc, khơi dậy ở các em những khả năng sáng tạo trong hoạt động âm nhạc, củng cố thêm về tình cảm đạo đức, về niềm tin thị hiếu nghệ thuật và nhu cầu âm nhạc. Thông qua những phương tiện của nghệ thuật âm nhạc mỗi bài hát mỗi bản nhạc đều gợi mở bao điều mới lạ dẫn dắt các em tới sự tưởng tượng phong phú, làm giàu tâm hồn của các em và để bồi dưỡng khả năng nhận thức, phát triển tư duy, óc sáng tạo góp phần cùng các môn học khác phát triển năng lực trí tuệ cho HS, bồi dưỡng những năng khiếu nghệ thuật, đẩy mạnh phong trào văn nghệ quần chúng làm cho không khí của nhà trường thêm vui tươi lành mạnh. Qua các giờ học hát, học tập đọc nhạc, âm nhạc thường thức đã mang đến cho các em tính lạc quan, tích cực, sự hoạt bát, lanh lợi, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tập thể và đặc biệt thông qua yếu tố cơ bản của ngôn ngữ âm nhạc như: “giai điệu, tiết tấu, cường độ âm sắc...” Hiện nay trong chương trình âm nhạc phổ thông môn âm nhạc đã được BGD biên soạn một chương trình đầy đủ gồm 3 phân môn: + Học hát + Tập đọc nhạc – Nhạc lý + Âm nhạc thường thức Nhưng còn rất ít các làn điệu dân ca 3 miền, dân ca các dân tộc thiểu số. Đây cũng là nội dung cần được quan tâm tới. Đất nước Việt Nam với hơn bốn ngàn năm lịch sử đã hình thành nên một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Trong đó: Âm nhạc dân gian nói chung, dân ca nói riêng là tinh hoa văn hóa đặc sắc, là linh hồn của dân tộc. Một nhà văn hoá đó đã ví dân ca “… Như dòng sông mênh mông tình đất, tình người, chắt lọc từ mạch nguồn cuộc sống, chảy qua nhiều thời đại, phản ánh tâm tư tình cảm, ước mơ khát vọng của con người trên mảnh đất quê hương của mình…”.Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, dân ca vẫn có sức sống bền chặt trong lũng mỗi người dân Việt Nam, là nhịp cầu thời gian để ta trở về với cội nguồn của ông cha, dân tộc. Sau hơn 20 năm đổi mới, bộ mặt đất nước ta có nhiều thay đổi đáng kể. Kinh tế phát triển kéo theo sự phát triển của văn hoá, xã hội… bên cạnh những giá trị tích cực do nền kinh tế thị trường mang lại thì những hạn chế tiêu cực vẫn tồn tại và len lỏi mọi ngóc nghách của đời sống. Tình trạng xuống cấp về mặt đạo đức ở một số bộ phận thanh, thiếu niên đang là vấn đề bức xúc của toàn xã hội, bên cạnh đó hầu hết con trẻ hiện nay gần như quên hẳn các trò chơi dân gian, 3 Sáng kiến “ Giúp học sinh THCS tiếp cận gần hơn với dân ca” các làn điệu dân ca vốn rất phong phú và đa dạng mà ông cha ta đã để lại. Trong đó hiện tượng lớp trẻ đang có xu hướng lãng quên các trò chơi dân gian, các làn điệu dân ca, bởi lẽ, các em được tiếp xúc nhiều với luồng văn hóa ngoại lai, nhất là luồng văn hóa phương Tây. Thực tế cho thấy, đa phần lớp trẻ ngày nay thích nghe và thích hát những bài hát trẻ trung, sôi động, nhạc ngoại ... hơn là thưởng thức những làn điệu dân ca, thậm chí không mấy mặn mà với các bài dân ca, và cũng có quan niệm rằng: nghe dân ca là không sành điệu, lỗi thời… Điều đó đặt ra một yêu cầu cấp thiết là đưa dân ca đến gần với thanh, thiếu niên trong đó biện pháp hữu hiệu và phổ biến nhất là đưa dân ca trở thành một trong những nội dung giáo dục trong nhà trường. Điều đó sẽ giúp cho lớp trẻ hôm nay nhận ra được những giá trị tinh thần vô cùng to lớn kết tinh trong các làn điệu dân ca, từ chỗ hiểu được các giá trị, các em biết trân trọng, yêu quý các giá trị những làn điệu dân ca này và có ý thức, trách nhiệm giữ gìn và bảo tồn những di sản tinh thần to lớn đó. Để học sinh yêu thích và hiểu được giá trị to lớn của dân ca Việt Nam không phải một sớm một chiều mà phải cả một quá trình học tập, sưu tầm tìm tòi khám phá và phải thựờng xuyên được tiếp cận qua các tiết học chính khoá. Chính vì lẽ đó đưa dân ca vào trường học là vấn đề hết sức quan trọng đối với thế hệ trẻ hiện nay. 1.3. Lựa chọn đề tài: Xuất phát từ những lý do khách quan và chủ quan nêu trên tôi mạnh dạn chọn đề tài: “ Giúp học sinh THCS tiếp cận gần hơn với dân ca ” Đề tài này tôi nghiên cứu tầm quan trọng của việc đưa dân ca trường THCS hướng tới trường học thân thiện, học sinh tích cực. 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: Mục tiêu nhằm góp phần bảo tồn và phát huy dân ca các vùng miền và các dân tộc thiểu số của Việt Nam; giúp cho học sinh biết hát một số làn điệu dân ca tiêu biểu, tiếp cận với các hình thức biểu diễn dân ca và có những hiểu biết nhất định về dân ca các vùng miền của đất nước; xây dựng và phát triển khả năng âm nhạc cho học sinh; giáo dục tình cảm đạo đức trong sáng lành mạnh; hướng cho học sinh biết cảm thụ và có thị hiếu âm nhạc tốt để các em thêm yêu quê hương đất nước, yêu âm nhạc; tạo cho học sinh có một trình độ văn hoá âm nhạc nhất định góp phần phát triển toàn diện, hài hoà nhân cách của học sinh; hỗ trợ và tăng cường hiệu quả việc giảng dạy bộ môn âm nhạc trong các giờ chính khoá và ngoại khoá. 3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: - Hướng dẫn học hát dân ca cho học sinh trong trường THCS nơi giảng dạy. 4. GIỚI HẠN PHẠM VI NÔI DUNG NGHIÊN CỨU: - Đưa dân ca vào trường học đặc biệt ở trường THCS nơi công tác. - Tầm quan trọng của việc đưa dân ca vào trường học. - Hình thức tiến hành. - Phương pháp giảng dạy. 5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: - Hệ thống lại một số phương pháp dạy hát dân ca, sưu tầm những làn điệu dân ca 3 miền và dân ca dân tộc ít người. 4 Sáng kiến “ Giúp học sinh THCS tiếp cận gần hơn với dân ca” - Truyền tải được toàn bộ vấn đề đã nghiên cứu đến với đối tượng HS. HS phải lĩnh hội hết tất cả và vận dụng phát huy một cách chủ động, sáng tạo trong cách trình bày và biểu diễn một bài hát dân ca. 6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: * Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: - Nghiên cứu qua nội dung tài liệu tham khảo của “Dự án phát triển THCS II” của Bộ giáo dục và đào tạo - Nghiên cứu qua nội dung tài liệu bồi dưỡng giáo viên THCS môn Âm nhạc. * Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tế: - Nghiên cứu qua việc giảng dạy thực tế ở trường THCS - Qua dự giờ của các giáo viên giảng dạy Âm nhạc THCS - Qua việc đánh giá kết quả học tập của học sinh. * Phương pháp nghiên cứu hỗ trợ: - Xem đĩa dạy mẫu của Bộ Giáo dục. - Tập huấn hát dân ca trong dịp hè năm học 2011 – 2012 7. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU. - Qua thực tế giảng dạy và nghiên cứu từ tháng 08 năm học 2012 – 2013 đến nay. PHẦN NỘI DUNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP. 1.1. Cơ sở lý luận. - Căn cứ vào nhiệm vụ, yêu cầu của bộ môn. - Căn cứ vào nội dung chương trình, sách giáo khoa. - Với tư cách là nhà giáo, một giáo viên trực tiếp giảng dạy tôi nhận thấy cần phải nghiên cứu kỹ cơ sở lý luận và nắm vững các kiến thức và phương pháp giảng dạy bộ môn nhằm đưa dân ca vào trường THCS đạt được hiệu quả cao nhất. 1.2. Cơ sở pháp lý. - Căn cứ: Chỉ thị số 2337/CT-BGDĐT ngày 27/7/2012 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục chuyên nghiệp năm học 2012-2013; văn bản số 5289/BGDĐT- GDTrH ngày 16/08/2012 của Bộ GD&ĐT về Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học năm học 2012-2013; Sở GD&ĐT hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học năm học 2012-2013 - Căn cứ vào nhiệm vụ năm học 2012 – 2013 của trường nơi tôi đang công tác. - Căn cứ vào tình hình thực tế của nhà trường và thực tế HS ở trường THCS hiện nay. 2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ LỰA CHỌN NGHIÊN CỨU: 2.1. Đặc điểm chung: * Thực trạng trong việc đưa dân ca vào trường học THCS. 5 Sáng kiến “ Giúp học sinh THCS tiếp cận gần hơn với dân ca” Dân ca là một bộ phận cơ bản trong nền văn hoá âm nhạc dân gian. Âm nhạc dân gian lại là một phần hết sức quan trọng trong nền âm nhạc của một quốc gia. Vì thế, bảo tồn và phổ biến dân ca cho các thế hệ trẻ là một việc làm thiết thực nhằm bảo vệ và phát huy bản sắc dân tộc. Quán triệt tinh thần đó, trong chương trình giáo dục âm nhạc ở trường THCS trong những năm qua đã có sự chú ý thích đáng đến việc lựa chọn dân ca các vùng miền đưa vào sách giáo khoa âm nhạc dạy cho HS. Tuy nhiên do thời lượng môn âm nhạc ở trường THCS rất ít (chỉ có 1 tiết/tuần) nên số lượng các bài dân ca được dạy trong chính khoá ở trường còn rất khiêm tốn. Nhìn vào sách giáo khoa âm nhạc THCS ta thấy: - Lớp 6 có 2 bài dân ca (Vui bước trên đường xa- theo điệu lí con sáo gò công, dân ca Nam Bộ; Đi cấy – dân ca Thanh Hoá). - Lớp 7 có 2 bài dân ca (Lí cây đa – dân ca quan họ Bắc Ninh; Đi cắt lúa – dân ca Tây Nguyên) - Lớp 8 có 2 bài dân ca (Lí dĩa bánh bò – dân ca Nam Bộ; Hò ba lí – dân ca Quảng Nam). - Lớp 9 có 1 bài ( Lí kéo chài – dân Nam Bộ). Như vậy tổng số các bài được dạy ở THCS là 28 bài, trong đó dân ca có 7 bài, chiếm 25%. Trong sách giáo khoa âm nhạc THCS có một số nội dung thuộc phân môn Âm nhạc thường thức có đề cập đến dân ca. Đó là bài - Sơ lược về dân ca Việt Nam, bài - Vài nét về dân ca các dân tộc thiểu số, bài - Những bài hát mang âm hưởng dân ca. Ngoài các bài chính thức trong phần phụ lục của mỗi cuốn sách giáo khoa cũng có chọn thêm một số bài dân ca, như âm nhạc 6 phần phụ lục só 2 bài Chim bay (theo điệu Lí thương nhau – dân ca Trung Bộ) và bài Mưa rơi - dân ca Xá- Tây Bắc. Âm nhạc 7 phần phụ lục có 2 bài Khi vui xuân sang theo điệu Tứ Quý) và Cách cú (hát chèo). Qua thực tế cho ta thấy trong quá trình làm chương trình và sách giáo khoa, nhà biên soạn cũng đã quan tâm đúng mức tới việc giảng dạy dân ca cho HS nhưng cũng khó có thể tô đậm hơn, bởi thời lượng của nội khoá dành cho môn học là rất ít, trong khi nội dung giáo dục giảng dạy âm nhạc cho THCS không chỉ dừng lại ở vấn đề dạy hát dân ca. Để khắc phục vấn đề trên, nhằm tô đậm thêm nữa nội dung giáo dục văn hoá âm nhạc dân gian. Tôi đã nghiên cứu đề tài “ Giúp học sinh THCS tiếp cận hơn với dân ca ” - Là một trường chưa được đầy đủ cơ sở vật chất, các tư liệu liên quan tới dân ca còn hạn chế và chưa đựơc cấp tư liệu về dân ca. - Việc sưu tầm tư liệu, phong trào hát dân ca chưa được chú trọng, vận động phong trào sưu tầm những bài hát dân ca chưa được cao. 2.2. Một số thuận lợi, khó khăn: 2.2.1. Thuận lợi: - Được sự quan tâm của BGH nhà trường, chi bộ, các tổ chức trong trường nên việc thi đua phong trào sưu tầm tìm hiểu về các bài hát dân ca đạt kết quả cao. 6 Sáng kiến “ Giúp học sinh THCS tiếp cận gần hơn với dân ca” - Trường có một số hạt nhân văn nghệ là giáo viên nhiệt tình say mê hưởng ứng và sưu tầm được nhiều thể loại dân ca. - Học sinh luôn muốn khám phá tìm tòi những cái hay cái đẹp trong những làn điệu dân ca của các miền. 2.2.2. Khó khăn: - Đây là một nội dung khó bởi thuộc về năng khiếu bẩm sinh. Thực tế cho thấy, đa phần lớp trẻ ngày nay thích nghe và thích hát những bài hát trẻ trung, sôi động, nhạc ngoại ... hơn là thưởng thức những làn điệu dân ca, thậm chí không mấy mặn mà với các bài hát dân ca, và cũng cứ quan niệm rằng: nghe dân ca là không sành điệu, lỗi thời… - Từ đó dẫn đến khó khăn trong quá trình tìm hiểu và đưa dân ca vào trường học. Cộng với việc tuyên truyền và tìm hiểu, hát dân ca chưa thường xuyên, ít tổ chức được các sân chơi hay cuộc thi hát dân ca. 3. NHỮNG BIỆN PHÁP - GIẢI PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN: Dân ca là một thể loại ca hát dân gian, chủ yếu phát xuất từ môi trường nông ngư nghiệp ở thôn làng, rất có thể bắt đầu từ một cá nhân có năng khiếu dệt nhạc vào một bài ca dao (thơ dân gian), rồi được truyền miệng và nhào luyện, uốn nắn, gọt dũa qua nhiều người trong tập thể, từ làng này đến làng khác, từ thời này qua thời khác, có thể sinh ra nhiều dị bản khác nhau, thường khó xác định được gốc phát xuất, nói chi đến tên tác giả hoặc tập thể đầu tiên phác họa ra làn điệu gốc của bài dân ca. Cũng như các môn học khác, môn học hát dân ca nhằm trang bị cho lớp trẻ một trình độ văn hoá âm nhạc dân gian trong một tổng thể của chương trình giáo dục toàn diện. Nội dung môn học hát dân ca sẽ phải bao gồm một số kỹ năng tối thiểu về ca hát, những vấn đề về lí thuyết âm nhạc cơ bản, hướng dẫn nghe hát dân ca, tìm hiểu về các làn điệu dân ca giúp các em nâng cao năng lực cảm thụ và yêu thích môn học này. Quan niệm và cảm xúc của mỗi người trước cái đẹp luôn khác nhau, từ quan niệm đó nảy sinh nhiều ý tưởng và trường phái khác nhau trong nghệ thuật nói chung và dân ca nói riêng. Trong quá trình giảng dạy âm nhạc ở trường THCS và đưa dân ca vào trường học , GV cần tạo mọi điều kiện để HS phát huy được những cảm xúc nghệ thuật, những sáng tạo trong học tập, cảm thụ được nét đẹp truyền thống, nhằm góp phần bảo tồn và phát huy dân ca các vùng miền và các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Muốn làm được điều đó HS cần có quá trình rèn luyện không chỉ ở môn âm nhạc. Sáng tạo giúp HS phát huy được những suy nghĩ tư tưởng và hành động của mình, nâng cao kết quả học tập và hình thành những năng lực riêng biệt của các em. Học hát dân ca thực chất là quá trình bắt chước của HS để hát đúng giai điệu, lời ca của bài hát. Sự bắt chước này gồm hoạt động nghe giáo viên hát mẫu, hoặc đánh đàn rồi tái hiện lại. Với sự bắt chước đó thì chưa thể coi là sáng tạo, vậy muốn có sự sáng tạo GV cần phải làm như thế nào? * Một số lưu ý khi dạy hát dân ca: - Nếu nhìn khái quát dạy hát dân ca cũng tương tự như việc dạy hát bài hát thiếu nhi hoặc bài hát nhạc nước ngoài. Tuy nhiên đi sâu vào kĩ thuật thì có một số khác biệt nhỏ: 7 Sáng kiến “ Giúp học sinh THCS tiếp cận gần hơn với dân ca” - Việc chia các câu hát trong bài hát dân ca phải hết sức linh hoạt, có thể có câu hát dài, có câu hát ngắn vì các bài dân ca thường được xây dựng từ thơ lục bát, có thêm tiếng đệm bằng những hư từ. Ví dụ: chia câu hát trong bài “Đi cấy” Lên chùa bẻ một cành sen Lên chùa bẻ một cành sen ăn cơm bằng đèn đi cấy sáng trăng Ba bốn cô có hẹn cùng chăng có bạn cùng chăng Thắp đèn ta sẽ chơi trăng ngoài thềm Chơi trăng ngoài thềm ý rằng cầu cho Cầu cho trong ấm êm, êm lại ngoài êm. Lời ca trên được phổ từ các câu thơ lục bát sau đây: Lên chùa bẻ một cành sen Ăn cơm bằng đèn đi cấy sáng trăng Ba cô có bạn cùng chăng Thắp đèn ta sẽ chơi trăng ngoài thềm Cầu cho trong ấm ngoài êm. - GV nên dùng bản đồ thế giới để học sinh nhận biết vị trí địa lí, dùng tranh ảnh để giới thiệu về phong cảnh hoặc đời sống của nhân dân các vùng miền. - Nếu có điều kiện, GV nên cho HS nghe và xem băng đĩa hình, để các em biết về trang phục và động tác múa hát đặc trưng của từng vùng miền. - GV nên dùng thang âm của các bài dân ca cho HS khởi động giọng, qua đó các em biết sơ lược về âm hưởng của bài dân ca. GV không nên dùng gam trưởng hoặc thứ để khởi động giọng. Ví dụ: Dùng chuỗi âm dưới đây để khởi động giọng cho Bài – “Lí cây đa” Bài – “Lí con sáo gò công” Bài – “Bài ca hạnh phúc” – dân ca Xá - Khi tập hát từng câu, GV nên hạn chế dùng đàn mà cần phải hát mẫu nhiều hơn để giúp HS hát đúng những chỗ khó, tiếng luyến láy, ngân nghỉ, cũng như thể hiện được sắc thái đặc trưng của bài dân ca. - Ngoài cách dạy hát theo các bước cơ bản, để phát huy tính sáng tạo của học sinh, GV có thể đảo các bước và sử dụng những phương pháp sau: 3.1. Học sinh hát và tự kiểm tra lẫn nhau: Trong quá trình học hát dân ca, các em hát đúng về lời ca, giai điệu, để các em thuộc bài nhanh và nhớ giai điệu bài hát, giáo viên có thể chia nhóm để các em tự ôn tập và kiểm tra lẫn nhau. *Ví dụ: Bài hát “Trống cơm” 8 Sáng kiến “ Giúp học sinh THCS tiếp cận gần hơn với dân ca” Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm. Lần lượt từng nhóm trình bày, sau đó GV gọi từng nhóm nhận xét các bạn hát. Hoặc GV chia nhóm và vận dụng hình thức hát đối đáp: Nhóm 1 hát câu 1 đoạn 1, câu 1 đoạn 2. Nhóm 2 hát câu 2 đoạn 1 và câu 2 đoạn 2. GV có thể chia thành nhiều nhóm nhỏ để các em hát và lựa chọn hình thức trình bày bài hát phù hợp như: 1 HS nam hát lĩnh xướng câu 1 đoạn 1, 1 HS nữ hát câu 2 đoạn 1, đoạn 2 HS hát tập thể. Với phương pháp này học sinh có thể tự kiểm tra lẫn nhau và chủ động trong cách trình bày bài hát. 3.2. Khuyến khích kỹ năng nghe và đánh giá của học sinh: Để học sinh không bị thụ động trong cách lựa chọn tiết tấu cho bài hát, GV khuyến khích kỹ năng nghe và đánh giá của học sinh bằng cách như sau: GV thay đổi tiết tấu, tốc độ hay dịch giọng bản nhạc để học sinh nhận biết và thực hành. *Ví dụ 1: Bài hát “Lý kéo chài” Dân ca: Nam Bộ GV đàn cho HS hát với nhịp Rumba. Rồi lần lượt chuyển nhịp Rook yêu cầu học sinh nghe và hát theo nhịp đàn. ? Các em hãy cho biết sự thay đổi tiết tấu như thầy và các em vừa trình bày có phù hợp với bài hát không? HS nêu ý kiến dựa vào kỹ năng nghe của bản thân. *Ví dụ 2: Bài hát “Lí cây đa” Dân ca: Quan họ Bắc Ninh GV thay đổi tốc độ của bài hát: Từ tempo 115 xuống 90. ? Em có nhận xét gì nếu thay đổi tốc độ bài hát như thầy vừa trình bày? 9 Sáng kiến “ Giúp học sinh THCS tiếp cận gần hơn với dân ca” HS trả lời và đưa ra nhận xét của mình. *Ví dụ 3: Bài hát “Đi cắt lúa” Dân ca:(Hê-Rê)- Tây Nguyên GV dịch giọng bài hát xuống một quãng 2, GV bắt nhịp HS trình bày bài hát. ? Em có nhận xét gì khi dịch giọng bản nhạc xuống một quãng 2? HS trả lời: Khi dịch giọng bản nhạc xuống một quãng 2 có phù hợp không? Vì sao? 3.3. Học sinh phát biểu cảm nhận về bài hát dưới nhiều hình thức khác nhau. Trong học tập, so với bắt trước và tìm tòi sáng tạo là hình thức cao nhất thể hiện tính tích cực học tập của HS, hãy bắt đầu khuyến khích các em mạnh dạn nói lên những cảm nhận của mình về môn học, về bài hát. HS có thể không ủng hộ ý kiến của GV, của bạn bè, có thể trình bày những ý kiến, tư tưởng của mình. Đó là cơ sở để có kĩ năng sáng tạo lớn hơn. GV cần tạo điều kiện để HS tự nhận xét, tự đánh giá, tự cảm nhận để có thể điều chỉnh cách học theo hướng tích cực. Bằng cách: - Học xong bài hát, GV chia lớp thành 2 nhóm. Lần lượt từng nhóm viết lời giới thiệu cho bài hát. GV nhận xét, chấm điểm. 3.4. Hướng dẫn học sinh biểu diễn bài hát. Thông thường mỗi bài hát giáo viên đều hướng dẫn học sinh hát kết hợp vận động giúp cho các em tự nhiên khi hát. Tuy nhiên, ở một số bài GV có thể dạy HS một vài động tác tay hoặc múa đơn giản, phù hợp để các em có thêm những lựa chọn khi biểu diễn bài hát. *Ví dụ 1: Với bài hát “Đi cắt lúa” GV hướng dẫn một số động tác múa Tây Nguyên sẽ không chỉ giúp cho cách trình bày bài hát thêm sinh động mà các em còn được tìm hiểu về những điệu múa của dân tộc Tây Nguyên rất cuốn hút và đặc sắc. 3.5. Chơi trò chơi. - Sau khi học sinh hát đúng giai điệu của bài hát GV hướng dẫn học sinh chơi trò chơi: GV làm kí hiệu tay theo các chữ cái A, U, I. Khi GV đưa tay theo kí hiệu, học sinh hát giai điệu chỉ với 3 chữ cái theo đúng kí hiệu GV hướng dẫn trước lớp. *Ví dụ: Bài hát “Đi cấy”. Câu 1 đoạn 1, GV đưa tay kí hiệu chữ A, HS hát "A" theo giai điệu của câu 1. Câu 2 đoạn 1, GV đưa tay kí hiệu chữ I, HS hát "I" theo giai điệu của câu 2. GV tiếp tục thay đổi các kí hiệu khác cho đến hết bài hát. Trò chơi này giúp các em thay đổi không khí học tập, đồng thời để kiểm tra việc ghi nhớ giai điệu của HS . 3.6. Sáng tác lời ca mới. Đây là một hoạt động sáng tạo và đòi hỏi rất nhiều kỹ năng của học sinh. Phần lớn nội dung này là bài tập nâng cao giành cho những học sinh khá giỏi và có năng khiếu Âm nhạc. Sau khi HS được học xong bài hát và trình bày ở mức độ hoàn chỉnh, GV cho các em tự sáng tác lời mới. GV phải sử dụng sản phẩm 10 Sáng kiến “ Giúp học sinh THCS tiếp cận gần hơn với dân ca” sáng tạo của HS một cách tích cực: đó là GV nhận xét về lời ca, hướng dẫn HS chỉnh sửa chỗ cần thiết, tạo điều kiện cho các em trình bày sản phẩm của mình...Những bài viết tốt, có thể phổ biến cho các em khác cùng hát. Như vậy các em mới có hứng thú và yêu thích hoạt động này. Trong quá trình dạy học âm nhạc THCS chúng ta đã từng tiếp cận với một số bài dân ca được đặt lời mới như: Vui bước trên đường xa- dân ca Nam Bộ; Đi cắt lúa – dân ca Tây Nguyên. Ví dụ: đặt lời mới cho bài Đi cấy – dân ca Thanh Hoá Xuân về hát một cành hoa Xuân về hát một cành hoa vui bên bạn hiền ta cấp tiếng ca Muôn cánh hoa thắm đượm tình thân Theo đàn chim én lướt bay trên đồng lướt bay trên đồng Tiếng cười rộn vang Mùa xuân đang đến trên khắp nẻo đường xa. 3.7. Đưa dân ca vào trong các hoạt động ngoại khoá âm nhạc. Để đưa dân ca vào trường THCS một cách có hiệu quả, GV cần cần kết hợp giữa tiết nội khoá và hoạt động ngoại khoá, trong đó các hoạt động ngoại khoá có tầm quan trọng đặc biệt. Dưới đây là cách hướng dẫn kết hợp giữa nội khoá và ngoại khoá: *Câu lạc bộ dân ca: Là hình thức hoạt động có thể dễ dàng thực hiện ở các trường học nhằm phổ biến và giáo dục văn hoá âm nhạc dân gian. Để có một câu lạc bộ hoạt động thường xuyên và có hiệu quả, xin gợi ý một vấn đề sau: a> Mục tiêu của câu lạc bộ dân ca: - Tập hợp những HS có năng khiếu và yêu thích ca hát, biểu diễn âm nhạc. - Phát triển và giữ gìn những bản sắc văn hoá dân tộc qua âm nhạc dân gian. b> Công tác tổ chức: - Thành lập ban chủ nhiệm câu lạc bộ: + GV âm nhạc phải đóng vai trò chủ chốt trong câu lạc bộ. + Xây dựng kế hoạch hoạt động thường kì của câu lạc bộ. + Xây dựng nội quy của câu lạc bộ. - Tuyển thành viên cho câu lạc bộ: + Các lớp giới thiệu thành viên tham gia câu lạc bộ. Câu lạc bộ có khoảng 20 đến 40 thành viên là phù hợp. + Mời GV hoặc cán bộ của trường cùng tham gia. - Chuẩn bị về cơ sở vật chất, phương tiện: + Địa điểm: phòng học, bàn ghế, bảng... + Nhạc cụ, máy nghe. + Tài liệu học tập: sách và băng đĩa nhạc. - Lịch sinh hoạt: mỗi tháng sinh hoạt từ 2 đến 4 lần, mỗi lần thời gian khoảng 90 đến 120 phút. c> Phương thức hoạt động. - Học hát dân ca: + Chọn bài hát: mỗi giai đoạn chỉ nên tập trung vào bài dân ca của vùng miền. 11 Sáng kiến “ Giúp học sinh THCS tiếp cận gần hơn với dân ca” Ví dụ: Đợt thứ nhất GV chọn 4-5 bài dân ca của miền núi phía Bắc, tiếp theo học 4-5 bài dân ca trung du và Châu thổ sông Hồng... + Cách học: tiến hành tương tự như các tiết học hát ở chương trình nội khoá. + Cách củng cố, luyện tập, tăng cường luyện tập theo nhóm và nghe băng đĩa. - Biểu diễn dân ca: + Dàn dựng: GV giao nhiệm vụ cho từng nhóm từ việc chọn bài , hình thức biểu diễn (đơn ca, song ca, tam ca hoặc tốp ca), cách hát (đối đáp, lĩnh xướng, hoà giọng...), trang phục động tác múa minh hoạ... + Biểu diễn: trước hết cần biểu diễn tại câu lạc bộ cho cá thành viên thêm tự tin, mạnh dạn, sau đó tổ chức biểu diễn trước toàn trường trong sinh hoạt tập thể hoặc ngày lễ... - Giao lưu với câu lạc bộ khác: nếu có điều kiện câu lạc bộ nên tổ chức giao lưu với cá trường khác trong khu vực. Đây là điều kiện tốt để tham khảo, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. 3.8. Nói chuyện về dân ca theo chuyên đề. - Hình thức này có thể tổ chức trong phạm vi toàn trường hoặc cho một khối lớp, cũng có thể trong phạm vi câu lạc bộ và mở rộng cho những người quan tâm. - GV âm nhạc trình bày về vấn đề dân ca địa phương, kết hợp minh hoạ bằng băng đĩa và tiết mục biểu diễn của HS. - Mời các nghệ nhân, nghệ sỹ đến nói chuyện và biểu diễn minh hoạ. Ví dụ: dân ca 3 miền (Bắc – Trung – Nam) - Giới thiệu khái quát về dân ca từng miền. 3.9. Thi hát dân ca. - Mục tiêu hoạt động này giúp HS biết nhiều bài hát dân ca và hát đúng, thể hiện tốt những bài hát dân ca đó. Tổ chức thi hát trong lớp, trong câu lạc bộ, trong trường. - Thi hát tập thể (hoặc cá nhân) đây là cách thi mang tính quần chúng, có thể làm như sau: Ví dụ: Tổ chức theo 2 nhóm theo từng tổ (hoặc giữa nam với nữ) Nhóm thứ nhất hát bài 1 nhóm thứ 2 đáp lại bằng hát 1 bài dân ca khác, đến khi nhóm nào không còn bài để hát nữa là nhóm đó bị thua. 3.10. Phát thanh các bài dân ca trong nhà trường. - Trong các giờ ra chơi trước hoặc sau các buổi sinh hoạt tâp thể toàn trường, GV có thể mở băng đĩa các bài dân ca trên hệ thống loa đài của trường. Đây là hoạt động tuyên truyền giáo dục về dân ca rất hữu ích, việc chọn bài để phát cần được chọn lọc mang tính giáo dục cao. 4. BÀI SOẠN MINH HOẠ: Dạy hát dân ca bài: “Xe chỉ luồn kim” (Dân ca Quan họ Bắc Ninh) I. MỤC TIÊU: 1. Kiến thức: - Biết bài “Xe chỉ luồn kim” là dân ca Quan họ Bắc Ninh. Bắc Ninh là vùng đất thuộc châu thổ sông Hồng (miền Bắc Việt Nam), giáp thủ đô Hà Nội. Nơi 12 Sáng kiến “ Giúp học sinh THCS tiếp cận gần hơn với dân ca” đây có truyền thống hát quan họ lâu đời. Bài hát có tính chất nhẹ nhàng, tha thiết. 2. Kĩ năng: - Hát đúng giai điệu và lời ca, thể hiện đúng những tiếng hát có dấu luyến trong bài dân ca. - Biết cách lấy hơi ở cuối mỗi câu hát và thể hiện sắc thái nhẹ nhàng, tha thiết của bài. - Biết hát kết hợp gõ đệm. 3. Phát triển : - HS phát triển khả năng hát dân ca , khả năng nghe và cảm nhận dân ca , khả năng biểu diễn . 4. Giáo dục : - Qua bài hát dân ca “Xe chỉ luồn kim” giáo dục các em về truyền thống nét đẹp văn hoá của cha ông chúng ta, những nét đẹp của từng vùng miền nói chung và vùng Kinh Bắc nói riêng. Bài hát thể hiện tình yêu lao động, tình nghĩa làng xóm, tình yêu nam nữ và phản ánh những nét sinh hoạt hết sức phong phú của những người dân lao động. II. PHƯƠNG PHÁP –BIỆN PHÁP: - PP: Hướng dẫn ,luyện tập và thực hành - BP: Dùng lời sửa sai. III. CHUẨN BỊ: 1. Chuẩn bị của GV - Nhạc cụ quen dùng - Chuẩn bị một số tranh ảnh minh hoạ Quan họ Bắc Ninh hoặc văn hoá dân gian vùng châu thổ sông Hồng. - GV tìm hiểu một số nét về dân ca Quan họ Bắc Ninh và nội dung bài “ Xe chỉ luồn kim”. - GV tập hát và đệm đàn bài hát thành thạo - Đĩa nhạc, máy nghe, các phương tiện hỗ trợ cho giảng dạy như máy chiếu, máy tính.... 2. Chuẩn bị của HS - Sách âm nhạc, vở ghi. - Nhạc cụ gõ. IV. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC: Nội dung Hoạt động của GV Hoạt động của HS MỞ ĐẦU TIẾT HỌC (5’) - Ổn định tổ chức lớp - GV ổn định lớp học - HS ổn định. - Khởi động giọng - GV đệm đàn - HS hát khởi - Giới thiệu bài hát mới: Các em - GV thiết trình , cho động. hãy quan sát một số bức ảnh và HS xem một số tranh - HS chú ý quan nghe một đoạn trích bài Xe chỉ luồn ảnh và nghe bài hát Xe sát, lắng nghe và kim rồi trả lời câu hỏi: chỉ luồn kim. trả lời. + Những bức tranh mô tả về sinh hoạt văn hoá dân gian vùng miền nào? 13 Sáng kiến “ Giúp học sinh THCS tiếp cận gần hơn với dân ca” +Bài hát vừa nghe tên là gì? - GV đặt câu hỏi? - HS trả lời. - GV thuyết trình; Đây là những - GV thuyết trình giới - HS lắng nghe. hình ảnh mô tả về sinh hoạt văn hoá thiệu. dân gian vùng châu thổ sông Hồng. Vùng đất này gồm các tỉnh thành phố như: Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên... đây là vị trí cùng châu thổ sông Hồng trên bản đồ Việt Nam. - GV thuyết trình. - HS chú ý lắng Bài hát các em vừa được nghe là nghe. giai điệu bài “Xe chỉ luồn kim” một bài dân ca Quan họ Bắc Ninh khá quen thuộc và phổ biến và cũng là bài hát mà chúng ta sẽ học trong tiết này. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Hoạt động 1: (8’) Nghe hát mẫu và tìm hiểu bài hát - Cho các em quan sát bản nhạc “Xe chỉ luồn kim” và nghe bài hát này 1-2 lần. Sau đó yêu cầu HS cảm nhận về bài hát. - Hướng dẫn chia câu. Bài hát được chia làm các câu như sau: Xe chỉ ố mấy kim....ngồi rồi. Xe chỉ ố.........bên luồn kim. May quần........í a i a. Gửi ra......u xang u. Xang u.......cho chồng. - GV giải thích một số từ ngữ trong lời ca như: vuông nhiễu tím (nhiễu tím: một loại vải tốt để may quần áo, màu tím)...vv GV hát mẫu cho HS nghe khoảng 2 lần. - Trước khi dạy hát GV có thể cung cấp cho HS một số thông tin ngắn gọn nhằm giới thiệu về dân ca Quan họ Bắc Ninh. Hoạt động 2: (17’) Học hát - Đàn và hát mẫu - Hướng dẫn HS hát câu 2 thực - GV tự đệm đàn và - HS chú ye lắng hát mẫu. nghe và thực hiện. - GV cho HS quan sát - HS quan sát. bản nhạc. - GV hướng dẫn chia - HS chia câu theo câu. hướng dẫn của GV. - GV giải thích một số - HS chú ý lắng từ ngữ trong bài. nghe và ghi nhớ. - GV hát mẫu. - GV thuyết trình. - HS chú ý lắng nghe. - HS chú ý lắng nghe. - GV hát mẫu và - HS nghe và thực hướng dẫn HS thực hiện 14 Sáng kiến “ Giúp học sinh THCS tiếp cận gần hơn với dân ca” hiện như câu 1. - Hát nối từ câu 1 sang câu 2. - Hướng dẫn HS tập hát các câu tiếp theo thực hiện tương tự như câu 1, câu 2. - Cho HS hát cả bài 1, 2 lần. - Chỉ ra chỗ các em hát chưa đúng, hướng dẫn HS sửa lại, đặc biệt quan tâm những tiếng có luyến âm. Hoạt động 3: (10’) Luyện tập, củng cố bài hát - Hướng dẫn lấy hơi ở đầu và giữa câu hát (đánh dẫu chỗ lấy hơi trên bản nhạc). Yêu cầu HS thể hiện sắc thái nhẹ nhàng, tha thiết của bài hát. Sau đó GV chỉ định 1-2 nhóm thực hiện lại, mời HS khá nhận xét, đánh giá. - Hướng dẫn HS hát kết hợp với gõ đệm theo phách mạnh, phách nhẹ trong khi hát. - Hướng dẫn HS trình bày bài hát theo cách hát đối đáp, kết hợp gõ đệm theo phách: + Nhóm 1: Xe chỉ....luồn kim ngồi rồi + Nhóm 2: Xe chỉ....luồn kim + Nhóm 1: May quần tình chung...í a i a. + Nhóm 2: Gửi ra....xang u. Sau đó 2 nhóm cùng hát câu cuối cùng: Xang u cái liu xê phàn thời cái nỗi gửi ra chồng cho chồng. hiện. - HS hát nối từ - GV hướng dẫn nối câu 1 sang câu 2. câu 1 và câu 2. - HS sửa sai. - GV sửa sai cho HS - GV luyện tập và củng - HS luyện tập và cố cho HS. trình bài bài hát ở mức độ hoàn chỉnh. - HS hát kết hợp - GV hướng dẫn HS với gõ đệm. hát kết hợp với gõ đệm. - HS hát đối đáp. - GV hướng dẫn hát đối đáp. - HS thực hiện. - GV hướng dẫn. KẾT THÚC TIẾT HỌC (5’) - Các em vừa học xong bài “Xe chỉ luồn kim”, em nào có thể kể tên một vài bài khác của vùng dân ca Quan họ. Hoa thơm bướm lượn, Bèo dạt mây trôi, Lí cây đa, Cây trúc xinh...(GV giới thiệu nếu HS không biết). - GV cho HS nghe trích đoạn 1-2 - HS luyện tập. - GV hướng dẫn HS hát một số bài dân ca Quan họ khác. - GV cho HS nghe. 15 - HS chú ý lắng nghe. Sáng kiến “ Giúp học sinh THCS tiếp cận gần hơn với dân ca” bài dân ca trên (Chỉ thực hiện nếu đủ thời gian). - Giáo dục thái độ: dân ca Việt Nam rất phong phú và có giá trị lớn về văn hoá, nghệ thuật. Học bài “Xe chỉ luồn kim”, chúng ta thêm hiểu biết về dân ca Quan họ Bắc Ninh, một vùng dân ca khác. - GV đệm đàn cho HS hát cả bài “Xe chỉ luồn kim” thêm một lần nữa. - GV dặn dò HS về nhà ôn tập bài hát “Xe chỉ luồn kim” để hát thuộc lời ca. - GV củng cố bài cho - HS thực hiện HS. theo yêu cầu của GV, - HS hát lại bài hát Xe chỉ luồn kim. - GV nhắc nhở dặn dò - HS chú ý ghi - GV củng cố bài cho nhớ và ghi chép HS KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC. Mức độ hát các làn điệu dân ca. Kết quả Khối học Tổng số HS HS hát tốt các làn điệu dân ca HS hát khá tốt các làn điệu dân ca HS hát ở mức đạt các làn điệu dân ca HS hát chưa tốt các làn điệu dân ca SL SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % K6 122 84 68,4 32 26,2 4 3,2 2 1,3 K7 128 92 71,1 29 22,3 6 4,6 1 1,1 K8 132 95 72 31 22.1 4 3,2 2 1.1 K9 118 84 71,5 27 22 5 4,47 2 1,2 Tổng 500 354 72 119 23,1 19 3,73 9 1,17 Bảng khảo sát trên đây cho chúng ta thấy được tỷ lệ các em có những hiểu biết và hát tốt các làn điệu, bài hát dân ca 3 miền đã chiếm phần lớn chiếm tỷ lệ 72%, số các em hát khá tốt chiếm 23,1%, trong khí đó số các em hát ở mức độ đạt là 3,73%, số các em hát chưa tốt hay chưa đạt chiếm 1,17%. Điều đó cho thấy rằng việc đưa dân ca vào trường THCS đạt hiệu quả cao các em đã say mê sưu tầm, ghi chép cẩn thận những làn điệu dân ca và điều đáng kể đến ngôi trường của tôi trở nên thân thiện hơn thúc đẩy việc học tập của các em ngày một tiến bộ rõ rệt, khích lệ các phong trào của nhà trường, bảo tồn và gìn giữ được những nét đẹp văn hoá của dân tộc Việt Nam nói chung và địa phương nói riêng. 2. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT. 2.1. Kiến nghị. Trên đây là sáng kiến của tôi về đề tài: “ Giúp học sinh THCS tiếp cận gần hơn với dân ca ” tôi đã đưa những phương pháp cơ bản về cách dạy và học hát dân ca đặc biệt là phương pháp dạy thực hành áp dụng cho HS trường THCS 16 Sáng kiến “ Giúp học sinh THCS tiếp cận gần hơn với dân ca” và đa phần các em trong trường rất thích hoạt động sáng tạo này. Các em hứng thú học hát dân ca hơn, thực hành tự tin hơn và có tiến bộ rõ rệt. Tôi rất mong được sự góp ý trao đổi kinh nghiệm của các bạn đồng nghiệp cũng như của những người yêu thích môn âm nhạc nói chung và hát dân ca nói riêng, để tìm ra được những phương pháp tối ưu nhất nhằm giúp HS có hứng thú và ham mê học hát dân ca, từ đó giáo dục óc thẩm mĩ cho các em, giúp các em hiểu được cái hay, cái đẹp trong cuộc sống và gìn giữ được những nét đẹp văn hoá dân gian. 2.2. Đề xuất. Để thực hiện đào tạo các em HS trở thành những người phát triển toàn diện về: Đức - Trí - Thể - Mĩ… ngoài việc người thầy phải có năng lực thực sự ra thì việc khách quan, ngoại cảnh, khuôn viên, môi trường là những điều tác động lớn đến các em. Do đó để tạo điều kiện cho việc dạy - học của thầy trò thuận lợi, bản thân tôi là người đứng lớp dạy bộ môn âm nhạc cần kiến nghị một số vấn đề sau: *) Về phía nhà trường: - Thường xuyên quan tâm, giúp đỡ giáo viên và học sinh. - Trang bị thêm một số sách và tư liệu về dân ca để phục vụ cho việc giảng dạy bộ môn. *) Về phía Phòng GD&ĐT: - Tạo điều kiện giúp đỡ để nhiều nhà trường trên địa bàn huyện có phòng học chức năng. - Trang bị những thiết bị dạy học hiện đại như đàn Organ các phương tiện như: đài catsette, đầu video, màn hình, loa …) đủ điều kiện để nâng cao chất lượng dạy học, tạo điều kiện tối đa cho HS phát triển tính sáng tạo trong môn học và đạt kết quả cao trong học tập. Tôi xin chân thành cảm ơn! Quỳnh Phụ, tháng 4 năm 2014 Người viết Bùi Thị Tân 17 Sáng kiến “ Giúp học sinh THCS tiếp cận gần hơn với dân ca” HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NGÀNH GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... 18
- Xem thêm -