Skkn giáo dục lịch sử dân tộc cho học sinh thpt tại hưng yên hiện nay qua khảo sát một số trường - thực trạng và giải pháp.

  • Số trang: 50 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 14 |
  • Lượt tải: 0
nguyen-thanhbinh

Đã đăng 8358 tài liệu

Mô tả:

Đào Thị Hương - THPT Yên Mỹ: Giáo dục lịch sử dân tộc cho học sinh THPT tại Hưng Yên hiện nay qua khảo sát một số trường - thực trạng và giải pháp. BẢNG CHỮ VIẾT TẮT ĐHQG. HN Đại học Quốc gia ĐHSP. HN Đại học Sư phạm Hà Nội GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo GS.TS Giáo sư. Tiến sĩ HS Học sinh KHXH&NV Khoa học Xã hội và Nhân văn KHTN Khoa học Tự nhiên LSDT Lịch sử dân tộc NXB Nhà xuất bản PGS.TS Phó giáo sư. Tiến sĩ TC. NCLS Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử THPT Trung học phổ thông MỤC LỤC MỞ ĐẦU..............................................................................................................4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU...............................................................................8 I. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC LSDT CHO HỌC SINH THPT TẠI HƯNG YÊN HIỆN NAY QUA KHẢO SÁT MỘT SỐ TRƯỜNG 1. Thực trạng...................................................................................................8 1.1. Thực trạng giáo dục nhà trường............................................................8 1.2. Thực trạng giáo dục gia đình...............................................................13 1.3. Thực trạng giáo dục xã hội .................................................................15 2. Nguyên nhân ............................................................................................19 2.1. Về mặt khách quan............................................................................19 2.1.1. Sự khó khăn của ngành học Lịch sử trong định hướng, tạo cơ hội việc làm và thu nhập........................................................19 2.1.2. Môn Lịch sử không được coi trọng trong xã hội.....................20 2.1.3. Sự thiếu quan tâm từ phía gia đình trong việc giáo dục kiến thức lịch sử - văn hóa cho học sinh...................................................22 2.2. Về mặt chủ quan.................................................................................23 2.2.1. Sự hạn chế của sách giáo khoa Lịch sử.....................................23 2.2.2. Sự hạn chế về mặt phương pháp dạy học, về phía người dạy và trong tổ chức kiểm tra, đánh giá...............................................24 2.2.3. Sự hạn chế về cơ sở vật chất trường học...................................27 2.2.4. Sự hạn chế trong quản lý giáo dục đối với môn Lịch sử..........27 II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC LSDT CHO HỌC SINH THPT TẠI HƯNG YÊN HIỆN NAY 1. Nhóm giải pháp tổng thể và mang tính lâu dài ....................................29 1.1. Yêu cầu từ vai trò lãnh đạo và định hướng của Đảng và Nhà nước...29 1.2. Đổi mới sách giáo khoa, phương pháp - chương trình dạy học và tổ chức kiểm tra, đánh giá.............................................................................30 1.3. Đưa vấn đề đào tạo đội ngũ giáo viên dạy Sử đi vào chiều sâu chất lượng..........................................................................................................32 1.4. Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào giáo dục lịch sử 33 1.5. Phát huy vai trò của giáo dục gia đình và dòng họ 37 1.6. Đẩy mạnh vai trò giáo dục của xã hội, tăng cường các loại hình truyền bá lịch sử 38 1.7. Tổ chức các cuộc vận động chính trị sâu rộng đưa tri thức LSDT vào trong nhân dân 41 2.. Nhóm giải pháp cụ thể và mang tính trước mắt cho các nhà trường 43 2.1. Xác định đúng tầm quan trọng của việc giáo dục LSDT cho học sinhTHPT trong nhà trường hiện nay 43 2.2. Những cố gắng, chủ động của riêng từng nhà trường 45 2.3. Thay đổi tư duy, cách làm góp phần phát huy tính tích cực của học sinh THPT 46 KẾT LUẬN 49 PHỤ LỤC 54 MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài Hiện nay, khi đất nước đang vững bước trên con đường công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, đổi mới và hội nhập; bên cạnh mặt tích cực như kinh tế phát triển, đời sống vật chất của nhân nhân không ngừng được nâng cao thì cũng nãy sinh không ít những tiêu cực: nổi cộm trong đó là thực trạng các ngành KHXH&NV nói chung và Lịch sử nói riêng không được xã hội xem trọng. Bài nghiên cứu của tôi về ý nghĩa lý thuyết góp phần vào việc tìm hiểu thực trạng cũng như nguyên nhân và giải pháp của vấn đề giáo dục LSDT cho học sinh THPT tại Hưng Yên hiện nay qua khảo sát một số trường; còn về ý nghĩa thực tiễn nó góp một phần nhỏ vào việc giải quyết những vấn đề còn hạn chế, tồn tại của việc giáo dục LSDT cho học sinh THPT tại Hưng Yên cũng như “vực dậy” vị trí hàng đầu của Sử học trong đời sống xã hội hiện tại và tương lai. Hưng Yên là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa – giáo dục của đồng bằng Sông Hồng, đây cũng là nơi giàu truyền thống đấu tranh cách mạng xứng đáng là quê hương “văn hiến” của đất nước. Bởi vậy nên việc nghiên cứu vấn đề trở nên thật sự cấp thiết đối với yêu cầu của thực tiễn xã hội trong tình hình hiện nay, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển bền vững của dân tộc. Thiết nghĩ với những lý do như vậy nên tôi đã quyết định chọn đề tài này. 2. Lịch sử nghiên cứu Trong những năm vừa qua đã có không ít những công trình, đề tài, hội thảo khoa học, bài báo khoa học (đăng trên các tạp chí như: NCLS, Xưa & Nay v.v…, các báo: Tuổi trẻ, Dân trí, Giáo dục Việt Nam v.v…) đề cập đến vấn đề thực trạng, nguyên nhân và giải pháp của giáo dục lịch sử ở nhà trường phổ thông hiện nay. Xin dẫn ra một số ví dụ tiêu biểu như: - Hội thảo khoa học về "Thực trạng việc dạy và học Lịch sử trong trường Phổ thông - nguyên nhân và giải pháp" do Hội Khoa học lịch sử, Bộ GD&ĐT, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Trường Đại học KHXH&NV (ĐHQG TP. Hồ Chí Minh), Đại học Hồng Bàng phối hợp tổ chức ngày 27/3/2008 - Phương pháp dạy học Lịch sử. Tập I +Tập II do GS.TS Phan Ngọc Liên, ĐHSP. HN chủ biên, xuất bản năm 2008. - Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học Lịch sử ở trường phổ thông do GS.TS Phan Ngọc Liên Chủ biên, 2008. - “Hiệu quả dạy học Lịch sử ở trường phổ thông thực trạng và giải pháp” của PGS.TS Nguyễn Thị Côi, trường ĐHSP. HN, TC. NCLS, số 7.2007 Tuy nhiên phần lớn mới chỉ dừng lại ở mô hình “giáo dục nhà trường” như về nội dung và phương pháp dạy học Lịch sử theo các mô tiếp sư phạm mà chưa hoặc ít đề cập đến “giáo dục gia đình” và “giáo dục xã hội”. Mặc dù đánh giá cao về những thành tựu nghiên cứu vấn đề mà các tác giả đã đạt được, với tư cách là những người đi trước “khai phá mở đường”. Tuy nhiên cũng phải khẳng định rằng: vấn đề nghiên cứu mà tôi hướng tới là nghiên cứu trường hợp; bởi thế nên ngoài việc kế thừa và phát huy những thành tựu nghiên cứu đã đạt được trong thời gian qua của các thế hệ học giả đồng nghiệp thì tôi tất yếu phải dụng công để hướng tới những tri thức mới, sâu sắc và cụ thể. 3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là thực trạng giáo dục LSDT cho học sinh THPT tại Hưng Yên qua khảo sát tại một số trường trên địa bàn tỉnh; kể cả quan điểm nhìn nhận, đánh giá về vai trò của môn lịch sử trong đời sống, trong lập thân, lập nghiệp của giáo viên – học sinh tại một số trường và trong gia đình, xã hội hiện nay.. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi về quy mô: giới hạn ở việc nghiên cứu, khảo sát tại một số trường THPT trên địa bàn tỉnh. Phạm vi về nội dung: giới hạn ở việc tìm hiểu, đánh giá thực trạng giáo dục LSDT cho học sinh THPT tại Hưng Yên qua việc khảo sát ở một số trường; dẫn giải và phân tích nguyên nhân của thực trạng đó cũng như suy nghĩ về một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục LSDT cho học sinh THPT tại Hưng Yên hiện nay. Phạm vi về thời gian nghiên cứu: giới hạn phạm vi thời gian nghiên cứu của đề tài từ 1 năm trở lại đây. Một vài chỉ số cần điều tra: kết quả sự đánh giá của học sinh THPT về vai trò môn Lịch sử trong chương trình giáo dục phổ thông, mục đích, động lực học tập môn Sử, thời gian dành cho việc học môn này trong tuần của học sinh v.v… 3.3.Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu: Được thể hiện dưới dạng cây mục tiêu sau: Giáo dục LSDT cho học sinh THPT tại Hưng Yên qua khảo sát một số trường – thực trạng và giải pháp Thực trạng giáo dục Giải pháp Thực trạng Nguyên nhân Giải pháp tổng thể và mang tính lâu dài Giải pháp cụ thể, trước mắt cho các nhà trường Giáo khái Giáo Giáotư liệu Nguyên 4.Các niệm, nguồn và phươngNguyên pháp nghiên cứu dục nhà dục gia dục xã nhân nhân chủ 4.1. Các khái niệm hội trường đình khách quan Các khái niệm bao gồm: quan - Giáo dục ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Trong đó giáo dục nhà trường phải đi đầu và đóng vai trò chủ đạo. - Lịch sử dân tộc Việt Nam bao gồm lịch sử của 54 dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam hợp thành (trong đó dân tộc Kinh đóng vai trò chủ thể) trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. LSVN là một bộ phận có quan hệ hữu cơ, khăng khít và không tách rời của Lịch sử thế giới. Bởi vậy LSDT luôn phải được trong bối cảnh tác động qua lại với Lịch sử thế giới. Tuy nhiên trong vấn đề giáo dục lịch sử ở nước ta thì bao giờ LSDT cũng được đặt ở vị trí trung tâm, có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. 4.2. Nguồn tư liệu chủ yếu - Các công trình nghiên cứu (in thành sách), các bài báo khoa học trên các trang báo và tạp chí. - Nguồn tư liệu thu được từ điều tra xã hội học (quan sát, phỏng vấn). - Tài liệu internet, tuy nhiên đối với nguồn tài liệu này, tôi cũng đặc biệt lựa chọn, cân nhắc, cẩn trọng trong việc sử dụng (chủ yếu là thông tin trên các trang báo điện tử như Dân trí, Tuổi trẻ online). 4.3.Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp lôgic - Phương pháp mô tả, phân tích - Phương pháp định tính, định lượng - Phương pháp liên ngành. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU I. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC LSDT CHO HỌC SINH THPT TẠI HƯNG YÊN QUA KHẢO SÁT MỘT SỐ TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HIỆN NAY 1. Thực trạng 1.1. Thực trạng giáo dục nhà trường Bảng 1: Kết quả thống kê 7/14 tiêu chí khảo sát về thực trạng giáo dục cho học sinh THPT tại một số trường trên địa bàn Hưng Yên hiện nay: (Đơn vị: %) Tên STT trường Trường Trườn THPT g Trường Nguyễ THPT THPT n Minh Mỹ Hào Thiện Châu Thuật 1 2 3 Tìn h trạn g học lệch giữa các học phầ n 4 Tương đối thường xuyên Tổng số 502 HS 128 HS) 122 HS 115 HS 10,49 9,47 10,31 43,42 14,14 15,01 14,83 12,60 57,58 14,21 8,17 8,73 11,02 42,13 11,08 17,33 15,57 9,89 57,87 8,31 5,95 8,34 9,47 7,73 4,94 9,64 6,77 5,31 6,21 4,16 7,37 33,63 24,61 25,96 4,68 3.36 2.59 4,17 14,80 14,76 16,23 15,97 12,09 69,05 137 HS Nội dung khảo sát Đánh giá Quan trọng về vai trò của môn Sử Không quan trọng cúa HS Vì yêu thích, Mục để hiểu biết đích học hơn LSDT tập của Đơn thuần HS trong chỉ để qua môn Sử các kỳ thi Thời Dưới 1 h gian Từ 1-2 h dành cho Từ 2-3 h việc học môn Sử Trên 3 h trong tuần Lệch tương đối lớn Trường THPT Yên Mỹ 13,15 × Ít và không thường xuyên × × × Nhiều, quá tải 15,63 17,21 16,80 13,93 63,57 Ít đến vừa phải 11,65 8,29 7,52 8,97 36,43 TV, Radio 7,73 7,29 6,55 6,22 27,79 Sách, báo, tạp chí tham khảo 6,48 4,86 4,52 6,46 22,32 Internet 8,43 9,65 9,26 6,71 34,05 Kết hợp 4,64 3,70 3,98 3,52 15,84 (Dấu × đánh dấu ô thông tin đã được lựa chọn) Về mặt thuận lợi và tích cực: trong vấn đề dạy và học môn Lịch sử hiện nay, các trường THPT trên địa bàn Hưng Yên có nhiều thuận lợi: sách tham khảo, báo và tạp chí rất phong phú, đa dạng; các kênh phương tiện thông tin hỗ trợ khác như tivi, radio và đặc biệt là internet được phổ biến; cơ sở vật chất hạ tầng và trang thiết bị phục vụ dạy – học cũng tương đối đầy đủ; nơi đây cũng là địa bàn có nhiều di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng cả nước. Nhờ đó mặt bằng chất lượng giáo dục nói chung và giáo dục Lịch sử nói riêng của Hưng Yên đạt ở mức tương đối cao. Một số học sinh của tỉnh đã đạt thành tích cao trong kỳ thi chọn học sinh giỏi Quốc gia hằng năm đối với môn Lịch sử. Tuy nhiên, hiện nay, việc dạy học môn Lịch sử cho học sinh THPT qua khảo sát tại một số trường trên địa bàn tỉnh như: THPT Mỹ Hào, THPT Nguyễn Thiện Thuật, THPT Minh Châu, THPT Yên Mỹ đang nổi cộm lên một số vấn đề sau: 1 –Một bộ phận không nhỏ học sinh không coi trọng môn học Lịch sử, chỉ xem nó là môn học phụ trong chương trình giáo dục phổ thông. Tâm lý, thái độ xem môn Lịch sử là môn phụ trong hệ thống chương trình giáo dục của học sinh THPT. Có tới 55,58 % học sinh trong tổng số 502 học sinh được hỏi cho rằng môn lịch sử là “môn phụ” hay không quan trọng. Lý do của sự sai lầm mà học sinh (kể cả phụ huynh và một bộ phận giáo viên) căn cứ vào đó là thời lượng giảng dạy của môn học trên lớp và nó không phải là môn thi Tốt nghiệp bắt buộc hay không (hiện nay, môn lịch sử ở các trường trên thời lượng 1,5-2 tiết/tuần và môn Sử không phải là môn thi Tốt nghiệp THPT bắt buộc). Đi liền với đó, mục đích học môn Lịch sử của không ít học sinh (57,87% số sinh viên trong mẫu khảo sát) chủ yếu chỉ để nhằm đối phó với kiểm tra, thi cử nhiều hơn là sự yêu thích, tìm tòi về LSDT. Thời gian dành cho môn học của học sinh THPT trong tuần nằm trong phổ từ 1-3 tiếng, chiếm 85,2%. Riêng loại dưới 1 tiếng chiếm tỷ lệ cao nhất (33,63%). Qua đó có thể thấy sự tự giác của học sinh đối với môn học này còn chưa cao. Biểu đồ 1: Đánh giá về vai trò của môn Sử trong học sinh THPT tại một số trường trên địa bàn Hưng Yên hiện nay 2 - “Sách áp đặt, thầy dạy nhàm, trò chán!” Đó là những nội dung đã được đề cập tại hội thảo khoa học về "Thực trạng việc dạy và học Lịch sử trong trường phổ thông - nguyên nhân và giải pháp" do Hội Khoa học Lịch sử, Bộ GD&ĐT, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Trường Đại học KHXH&NV (ĐHQG TP.Hồ Chí Minh), Đại học Hồng Bàng phối hợp tổ chức ngày 27/3/2008. Theo GS.TS Vũ Dương Ninh, PGS.TS Vũ Quang Hiển (ĐHQG Hà Nội), thời lượng 1,5-2 tiết Lịch sử/tuần ở bậc phổ thông không phải là ít. Nhưng như PGS.TS Vũ Dương Ninh phát biểu: việc coi nhẹ môn Sử thể hiện ở chỉ đạo của các trường, Sở trong việc cắt xén giờ học môn Lịch sử và một số môn học khác, học dồn giờ để tập trung thời gian chuyên sâu các môn "quan trọng hơn". Nó cũng thể hiện ở chỗ có năm thi tốt nghiệp THPT môn Sử, có năm không. Môn Sử còn được xếp vào môn thi thay thế cho học sinh không được học Ngoại ngữ 15. 3 - Tình trạng học lệch của học sinh THPT. Sự học lệch đó không chỉ dừng lại giữa các ban (như giữa ban KHXH&NV và ban KHTN), giữa các bộ môn (như Văn, Sử, Địa) mà trên thực tế còn có sự học lệch giữa các học phần trong cùng bộ môn (như giữa Lịch sử Cổ trung đại và Lịch sử Cận hiện đại). Tỷ lệ 56,01 % học sinh thuộc mẫu khảo sát rơi vào trường hợp mức độ học lệch tương đối lớn. Hiện nay có một thực trạng là nội dung thi Tốt nghiệp, Đại học – Cao đẳng môn Lịch Sử được giới hạn đến đâu thì công tác dạy và học của các trường Trung học phổ thông thường triển khai trọng tâm theo hướng đó. Còn phần Lịch sử Cổ trung đại, vì không nằm trong phạm vi nội dung thi; thêm vào đó nhiều thầy cô dạy Sử ở các trường THPT cho rằng học phần này tương đối khó với học sinh khi trình độ nhận thức của các em còn đang còn hạn chế, trong khi đối với phần này đã phải học từ năm đầu cấp III (lớp 10). Do vậy, giáo viên chỉ dạy sơ lược, đại khái và học sinh cũng ít chú tâm. Sự lơi lỏng kiến thức về học phần này tương đối phổ biến đối với học sinh lớp 12. Phần Lịch sử Cổ trung vô cùng quan trọng và ý nghĩa kéo dài ngót mấy ngàn năm của dân tộc chưa nhận được sự quan tâm đúng mức trong chương trình giáo dục môn Sử ở các trường THPT. Nếu để cho tình trạng học lệch diễn ra quá mức và sự phân biệt môn chính môn phụ trong nhà trường phổ thông thì về mặt lâu dài sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, làm suy giảm chất lượng giáo dục, chất lượng con người. Biểu đồ 2: Tình trạng học lệch ở môn Sử của học sinh THPT tại một số trường trên địa bàn Hưng yên hiện nay 4 - Nhiều nhóm học tập và câu lạc bộ Sử học trong trường được lập nên nhưng hoạt động không mấy hiệu quả, còn các hoạt động ngoại khóa tuy có nhưng thường ít và không được tổ chức, duy trì thường xuyên và liên tục. Cô Phan Thị Hương– giáo viên dạy Sử của trường THPT Mỹ Hào còn cho biết “Hiện nay tại một số trường, phương tiện – trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học, nhất là những thiết bị hiện đại như máy chiếu vẫn còn thiếu thốn. Sách giáo khoa thì nội dung chưa được thực sự khách quan và khoa học: nhiều thông tin sử liệu không được trích dẫn nguồn; nặng về lịch sử chính trị - quân sự mà nhẹ về lịch sử kinh tế - xã hội và khoa học – kỹ thuật, cũng như còn ít đề cập đến tình hình kinh tế - chính trị xã hội phía bên kia chiến tuyến trong giai đoạn lịch sử hiện đại 1954-1975 v.v… Những hạn chế đó khiến cho học sinh cảm thấy môn Sử tương đối khô khan và nhàm chán.” Biểu đồ 3: Đánh giá về dung lượng chương trình học môn Sử của học sinh THPT tại một số trường trên địa bàn Hưng Yên hiện nay 1.2. Thực trạng giáo dục gia đình Bảng 2: Kết quả thống kê 1/ 14 tiêu chí khảo sát về thực trạng giáo dục gia LSDT trong gia đình qua sự nhìn nhận của học sinh tại một số trường THPT trên địa bàn tỉnh hiện nay: (Đơn vị: %) Tên ST T trường Trường Trường THPT THPT Mỹ Nguyễn Hào Thiện Thuật 137 HS 128 HS 1 (8) Nội dung khảo sát Sự quan tâm Tương của gia đình đối tới việc giáo thường dục tri thức xuyên 9,11 7,25 Trườn Trường g THPT THPT Yên Mĩ Minh Châu 122 HS 9,69 115 HS 9,5 35,82 Tổng số 502 HS lịch sử-văn hóa dân tộc của HS Một số hình thức quan tâm cụ thể Rất hiếm khi 18,17 17,98 14,62 13,41 64,18 Cùng đi tham quan du lịch; hay kể các câu chuyện lịch sử để noi gương; mua, sưu tầm sách hay về lịch sử văn hóa cho HS, tạo điều kiện học thêm v.v… Mặc dù không phải không có những điểm sáng đáng được nêu gương, khích lệ như việc một số gia đình nếu khi có thời gian, điều kiện thường cùng với con em – học sinh đi du lịch, thăm quan các viện bảo tàng, di tích lịch sử - văn hóa, những danh lam thắng cảnh nổi tiếng của đất nước; thường hay kể cho con, cho cháu nghe những câu chuyện lịch sử lý thú mà mình từng được chứng kiến hay được nghe kể lại, những câu chuyện về các vị anh hùng có công đánh giặc bảo vệ đất nước quê hương, cậu bé nhà nghèo hiếu học mà đỗ Trạng v.v… Những câu chuyện góp phần nuôi dưỡng tâm hồn và những ước mơ của con em họ, để ngày sau, những ước mơ đó của tuổi trẻ có thể sẽ trở thành hiện thực. Đây là hình thức giáo dục kiến thức lịch sử - văn hóa cho con em trong gia đình mang tính tự nhiên, nhuần nhuyễn nhất mà một số ít gia đình ở tỉnh cho đến ngày nay vẫn còn bảo lưu được. Tuy nhiên phần lớn các gia đình của tỉnh, trong “guồng quay” của cơ chế kinh tế thị trường hiện nay, giữa bộn bề lo toan của cuộc sống, hầu hết họ phó mặc việc giáo dục con em mình cho nhà trường. Qua nhìn nhận của học sinh, sự thường xuyên quan tâm tới việc giáo dục các giá trị lịch sử - văn hóa truyền thống của dân tộc cũng như sự quan tâm tới việc học nói chung tới học sinh – con em trong các gia đình mà tôi khảo sát được chỉ đạt ở mức thấp 13,61%; còn phần lớn là rất ít quan tâm (chiếm tới 64,18%). Biểu đồ 4: Sự quan tâm của gia đình trong giáo dục LSDT cho học sinh THPT tại một số trường trên địa bàn tỉnh hiện nay 1.3. Thực trạng giáo dục xã hội . Nhà sử học tư sản Việt Nam Trần Trọng Kim nhân khi viết cuốn “ Việt Nam sử lược” (cuốn sách quốc ngữ đầu tiên về lịch sử nước nhà, xuất bản trước Cách mạng Tháng Tám 1945) đã phải từng phàn nàn rằng dưới chế độ phong kiến, người nước ta “bất kỳ lớn nhỏ hễ ai cắp quyển sách đi học chỉ học sử Tàu, chứ không học sử nước nhà. Rồi thơ phú văn chương gì cũng lấy điển tích ở sử Tàu, chứ chuyện nước mình nhất thiết không nói đến” 6, 6. Câu chuyện về việc giáo dục lịch sử ở nước ta từ hơn một thế kỷ trở về trước là như vậy. Hiện nay, chúng ta đang xây dựng nền văn hóa – giáo dục nước nhà theo hướng “dân tộc, khoa học, và đại chúng”. Đó là tư tưởng chân lý và cách mạng vô cùng sáng suốt của Đảng, là kim chỉ nam soi đường dẫn lối cho dân tộc Việt Nam trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, “xã hội dân chủ, công bằng, văn mình” Tuy nhiên với hoàn cảnh thực trạng việc giáo dục LSDT cho các em học sinh THPT như hiện nay, thì chắc chắn nó chưa thể khiến cho những người tâm huyết với lịch sử nước nhà, với sự thịnh suy của dân tộc có thể an tâm được. 1 - Về phim ảnh đề tài lịch sử, nếu chúng ta khá thành công với những bộ phim tư liệu, lịch sử thời hiện đại, tiêu biểu như: Sao tháng Tám, Lễ Tuyên ngôn Độc lập, Hà Nội mùa đông 46, Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Hồ Chí Minh chân dung một con người v.v… thì do rất nhiều khó khăn việc làm phim về mảng đề tài Lịch sử Cổ trung đại dân tộc hầu như còn rất hạn chế cả về số lượng và chất lượng, liệt kê ra chỉ có số ít bộ phim tiêu biểu như: Khát vọng Thăng Long, Tây sơn hào kiệt, Mười đội quân kiệt xuất của Việt Nam... Một thực tế hiện nay các phim kiếm hiệp, cổ trang Trung Quốc, và kể cả Hàn Quốc tràn ngập trên các kênh truyền hình trong nước thay vì những bộ phim sử “thuần Việt” để giới thiệu, giáo dục về những đặc điểm lịch sử - văn hóa truyền thống của dân tộc cho giới trẻ, học sinh phổ thông. Để không ít người trong giới trí thức phàn nàn rằng: “dường như chúng ta đang tuyên truyền cho họ”. Về mảng đề tài này, số phim truyện rất hữu hạn và cũng có rất ít bộ phim tạo được sự quan tâm lâu bền của giới trong nghề cũng như công chúng, mặc dù tiền của đầu tư cho nó không phải là ít. Có những bộ phim làm xong rồi phải cất vào kho thay vì được công chiếu, gây lãng phí lớn về tiền bạc của nhà nước và nhân dân. Vẫn biết rằng nhận thức của chúng ta về nhiều phương diện, lĩnh vực trong lịch sử xa xưa của dân tộc còn chưa sáng tỏ, chúng ta không biết tìm đâu bối cảnh cổ xưa (đường xá, thành quách, cung vua phủ chúa, trang phục, v.v…) để dựng phim. Nhưng cũng phải suy xét cho thật nghiêm túc khi nhiều nhà đạo diễn phim Việt Nam đã không tìm ra phương pháp nào khác hay hơn ngoài việc khai thác đến “lạm dụng” các yếu tố lịch sử - văn hóa của nước ngoài. Có biến cố, sự kiện lịch sử được dựng lại bằng nghệ thuật điện ảnh kiểu như thế này hoàn toàn khác xa so với sự thực lịch sử. Có nhiều ý kiến cho rằng, do ham mê phim ảnh kiếm hiệp, cổ trang Trung Quốc mà học sinh phổ thông nước ta bây giờ còn thông thạo Sử Tàu hơn cả Sử nước mình. Thật ra ý kiến đó có phần chưa xác đáng. Do những phim về đề tài lịch sử của Trung Quốc như: “Tam Quốc diễn nghĩa”, “Hán Sở tranh hùng”, phim về các vị vua nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa như Tần Thủy Hoàng, Đường Huyền Tông, Võ Tắc Thiên, Khang Hy, Càn Long v.v… phần lớn được chuyển thể từ các tiểu thuyết lịch sử. Mà theo như đánh giá của các học giả, cốt truyện tình tiết chủ yếu được hư cấu nên, cốt lõi lịch sử chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong đó. Thế nên chúng ta không thể cho đó là lịch sử một cách nghiêm túc, khách quan được. Việc các tác giả thêm thắt những chi tiết về cốt chuyện, nhân vật đã làm những tác phẩm của mình mang đậm tính văn học, nghệ thuật hơn là một tác phẩm sử học thuần túy với tính chân thực và khách quan. Bởi vậy, có hay chăng chỉ có thể nói giới trẻ nước ta hiện nay tương đối hứng thú đối với bối cảnh lịch sử - văn hóa xã hội truyền thống của Trung Hoa, Hàn Quốc v.v…. Nhưng cũng chỉ cần bấy nhiêu đó thôi cũng đã chứng tỏ được sự thành công của nền điện ảnh nói riêng và nền văn hóa - giáo dục, nghệ thuật của họ nói chung. Bảng 3: Kết quả thống kê 3/14 tiêu chí khảo sát về thực trạng giáo dục xã hội qua khảo sát học sinh tại một số trường THPT trên địa bàn tỉnh hiện nay như sau: (Đơn vị: %) Tên STT trường Nội dung khảo sát Phim Việt Nam Phim Hàn Loại phim dã Quốc 1 sử, cổ trang Phim (9) yêu thích Trung nhất Quốc Phim nước khác Tương đối thường xuyên Thời lượng Hiếm khi của việc đi 2 đi tham quan (10) Nếu các di tích, rất ít bảo tàng khi thì lý do vì sao? Sách lịch sử - văn học Loại sách Sách tiểu 3 yêu thích thuyết ái (11) nhất tình “hot” Sách khác Sự quan tâm, theo dõi đối với chương Thường xuyên Thỉnh thoảng Trường Trườn Trường Trường THPT g THPT THPT Nguyễ THPT Yên chuyên n Minh Mỹ Mỹ Hào Thiện Châu Thuật 122 137 HS 128 HS 115 HS HS Tổng số 502 HS 1,31 2,03 2,16 1,83 7,33 7,39 6,47 7,58 7,24 28,68 16,53 15,22 13,05 12,91 57,71 2,05 1,78 1,52 0,93 6,28 10,86 8,39 10,32 10,76 40,33 16,42 17,11 14,00 12,14 59,67 Do không có thời gian, nhà xa, không hứng thú, v.v… 4,25 2,97 3,52 3,19 13,93 9,36 10,24 7,33 8,76 35,79 13,67 12,28 13,47 10,96 50,38 4,28 3,16 2,69 3,46 13,60 7,39 5,04 4,72 5,68 22,83 4 (12) trình “Theo dòng lịch Rất ít, không hứng thú 15,61 17,29 16,91 13,76 63,57 Biểu đồ 5: Loại phim dã sử, cổ trang được học sinh THPT tại một số trường trên địa bàn tỉnh hiện nay thích nhất 2 - Về mảng sách báo, truyện tranh; hiện nay trên thị trường, có không ít những đầu sách và truyện về chủ đề lịch sử dân tộc hay dành cho đối tượng thanh, thiếu niên và nhi đồng. Tuy nhiên, trên thực tế nó cũng chưa đủ tạo được sức quan tâm của độc giả là các bạn học sinh THPT (tỷ lệ học sinh yêu thích kết quả khảo sát chỉ chiếm 13,93%). Thay vào đó là sự “chạy hàng” của các loại tranh truyện nước ngoài hay những cuốn tiểu thuyết tình ái “ướt át”, lãng mạn thời đương đại (phổ tỷ lệ học sinh THPT yêu thích những sách này đạt ở mức cao 86,07%). Nguyên nhân của thực trạng trên một phần do không ít sách trong nước viết về chủ đề lịch sử nhưng nội dung còn nghèo nàn đơn điệu. Nhiều loại tranh truyện về chủ đề lịch sử, tiêu biểu như Thần đồng đất Việt thì chỉ phù hợp với sở thích và tâm lý của thiếu nhi, nhi đồng. Hơn thế nữa, trong thời đại ngày nay, sức hút của các thiết bị nghe nhìn (như TV, radio, máy nghe nhạc, internet v.v…) rất lớn. Bởi vậy nên học sinh THPT thường có thói quen “lướt web”, vào mạng xem tin tức hơn là sở thích đọc sách. “Văn hóa đọc sách” của giới trẻ hiện nay rơi xuống mức thấp. Đó chính là nguyên nhân chủ yếu của thực trạng “thừa thông tin, thiếu kiến thức” (thông tin ở đây được hiểu là những tin tức thời sự, còn kiến thức là những tri thức về lịch sử - văn hóa – xã hội nói chung) ở học sinh phổ thông hiện nay. THPT THPT THPT THPT MỸ HÀO NGUYỄN THIỆN MINH CHÂU YÊN MỸ THUẬT TỔNG SỐ 4 - Bên cạnh đó là những trò chơi truyền hình có truyền tải những kiến thức lịch sử - văn hóa như: “Ai là triệu Phú, “Đấu trường 100”, “Rung chuông vàng”. Đặc biệt là chương trình “Theo dòng lịch sử” phát trên kênh VTV2 của Đài truyền hình Việt Nam; tuy nhiên hiệu quả, tác động xã hội của nó đến học sinh THPT chưa cao (có tới 63,57% học sinh rất ít theo dõi hoặc không có hứng thú quan tâm đến chương trình này – xem bảng thống kê ở trên). Một kênh thông tin khá mới mẻ là internet được phần lớn học sinh THPT khai thác và thường xuyên sử dụng. Nó có ưu điểm là tốc độ tra cứu nhanh, nguồn thông tin phong phú, đa dạng. Tuy nhiên mặt hạn chế của nó là những thông tin thường không được kiểm định, không rõ nguồn gốc xuất xứ; có nhiều thông tin lịch sử bị các thế lực phản động “bóp méo”, xuyên tạc rồi tung lên mạng để nhằm thực hiện những mưu đồ chính trị đen tối, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ . Chúng có thể gây ra tâm lý hoang mang, dao động cho một bộ phận bộ phận giới trẻ, trong đó có các em học sinh THPT. 2. Nguyên nhân 2.1. Về mặt khách quan 2.1.1. Sự khó khăn của ngành học Lịch sử trong định hướng, tạo cơ hội việc làm và thu nhập Có một thực tế là, hiện nay ngành Sử chưa được xã hội đề cao, sinh viên ngành Sử (cũng các ngành Xã hội nói chung) ra trường họ luôn đối mặt với nguy cơ không tìm được việc làm. Nhiều người muốn có việc thì phải làm trái ngành, trái nghề với chi phí "lót tay" xin việc hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu đồng. Nếu xin được việc đúng chuyên ngành thì mức thu nhập cũng tương đối thấp. Đảng và Nhà nước cũng chưa đề ra được cơ chế, chính sách phù hợp để có thể cải thiện được tình hình. Hiện nay số lượng hồ sơ đăng ký dự thi khối C của tỉnh đã ít nhất so với các khối khác, Tại sao lại có tình trạng ngày càng ít thí sinh dự thi vào khối C? Nguyên nhân do hiện nay số học sinh đăng ký nguyện vọng vào học ban Khoa học Xã hội và Nhân văn rất ít ỏi. Khi phân ban, nhiều trường THPT tuyển không đủ một lớp, thậm chí nhiều trường THPT không có ban C. Nhiều trường có đủ 3 ban nhưng thay vì có ban xã hội như truyền thống, các trường mở ban Cơ bản A, Cơ bản D, ban Khoa học Tự nhiên và học theo chương trình chuẩn. Tại trường THPT Yên Mỹ, với điểm chuẩn là 26,5, tuyển 430 chỉ tiêu, chia làm 10 lớp nhưng không có lớp cơ bản C, hoặc ban KHXH&NV (trong khi trường vẫn có lớp cơ bản A, D, ban khoa học tự nhiên). Các học sinh hiện nay chỉ tập trung vào các môn tự nhiên vì nhiều trường, nhiều ngành dự thi, cơ hội việc làm cao hơn. Học sinh Nguyễn Thị Cách trường THPT Yên Mỹ tâm sự: "Lớp em chỉ có vài bạn đăng ký dự thi khối C. Hơn nữa, chúng em thấy học khối C hiện nay ra trường khó tìm việc làm mà lương không cao". Học sinh nhiều trường THPT cũng có cùng quan điểm như vậy. 2.1.2. Môn Lịch sử không được coi trọng trong xã hội Môn có ý nghĩa “cội rễ”, đóng vai trò là nền tảng tri thức, tinh thần của dân tộc này đang bị không ít người trong xã hội hiện tại thờ ơ, coi thường. Vấn đề này hiện chưa được nhìn nhận một cách khách quan và thấu đáo. Còn có những quan điểm cách nhìn như “Học sinh giờ bị hô hào phải học ngoại ngữ, học tiếng Anh, học tin học… thì có những môn như Lịch sử và cả Văn học bị xem nhẹ hơn chút thì cũng dễ hiểu” (Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Vũ Luận) . Việc môn lịch sử bị xem nhẹ lại có thể trở thành một việc bình thường. Người ta có thể giải thích “trơn tuột”, đó là vấn đề của thời đại: “Môn Lịch sử kém thu hút, điểm lịch sử thấp không phải chỉ ở Việt Nam, ở châu Á. Đó là chuyện của thời đại, của thế hệ này, do cách mạng khoa học công nghệ, do sự biến đổi, đòi hỏi của thị trường lao động…” 18 Có thể khẳng định thái độ lạnh nhạt, xem thường môn Lịch sử trong xã hội hiện nay chính là sự quay lưng lại với các giá trị làm người về truyền thống văn hóa, tâm hồn, nhân cách, là sự coi rẻ hoặc gạch bỏ các giá trị lịch - văn hóa, tinh thần của dân tộc và nhân loại. Tầm quan trọng của môn Lịch sử, nhất là phần LSDT hiện nay chưa được xã hội nhìn nhận một cách khách quan, công bằng và thấu đáo. Giải thích về nguyên nhân sâu xa của vấn đề này, do trong bối cảnh hiện nay của đất nước, công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa – hiện đại hóa với cơ chế kinh tế thị trường đang từng bước được đẩy mạnh thì một trong những mặt trái của nó là những giá trị xã hội - nhân văn trong đó có khoa học Lịch sử - thứ thiết yếu cho sự phát triển bền vững của dân tộc lại chưa được xã hội thừa nhận và đề cao. Hệ quả của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng công nghệ thông tin, của nền kinh tế hàng hóa thị trường có sức tác động ghê gớm, dễ khiến cho con người ta trở nên thực dụng, bị cuốn theo lợi ích vật chất mà quên đi các giá trị tinh thần. Tuy vậy, không thể vì thế mà vấn đề giáo dục LSDT cho thế hệ trẻ học sinh ngày càng bị buông xuôi, thả nổi được. Hơn thế nữa, trong bối cảnh như hiện nay chúng ta càng phải nhận thức được vai trò lớn lao, “chân giá trị” của lịch sử - văn hóa truyền thống của dân tộc cũng như các KHXH&NV khác. Bởi vậy “nếu không sớm cải cách môn Lịch sử cấp phổ thông, khắc phục tình trạng sa sút đến mức báo động như hiện nay thì sẽ tạo ra những hẫng hụt trong kiến thức về lịch sử Việt Nam và thế giới, để lại những hệ quả rất đáng lo ngại trong kế thừa các giá trị di sản lịch sử và văn hóa dân tộc, trong giữ gìn bản sắc dân tộc, trong định hướng phát triển nhân cách, bản lĩnh con người Việt Nam, nhất là khi giao lưu và đối thoại với các nền văn minh, văn hóa thế giới ” (giáo sư Phan Huy Lê) 19 2.1.3. Sự thiếu quan tâm từ phía gia đình trong việc giáo dục kiến thức lịch sử - văn hóa cho học sinh (Xem “Bảng 2: Kết quả thống kê khảo sát về thực trạng giáo dục gia LSDT trong gia đình (1/14 nội chí khảo sát) qua sự nhìn nhận của học sinh THPT tại một số trường trên địa bàn tỉnh hiện nay”, phần “Thực trạng giáo dục gia đình”. Một bộ phận giới trẻ học sinh tỏ ra kém hiểu biết về lịch sử - văn hóa của dân tộc. Các em chưa được hiểu biết và lĩnh hội đầy đủ những phẩm chất truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam: từ trong mất mát, đau thương mà vươn lên, vượt qua bao thăng trầm bể dâu của lịch sử, hết giặc ngoại xâm, lại đến nạn cát cứ phân tranh, cùng bao nhiêu tai ương: lũ lụt, hạn hán, sâu keo, mất mùa, dịch bệnh v.v… Cuộc đấu tranh không ngừng với các thế lực xâm lăng ngoại bang, với tự nhiên khắc nghiệt đã góp phần định hình nên những phẩm chất tốt đẹp của nhân dân ta: bất khuất, kiên cường nhưng cũng thật thuần hậu, yêu chuộng hòa bình; ghét sự chiến tranh; cần cù, chất phác nhưng cũng rất đỗi thông minh sáng tạo v.v… Dân tộc Việt Nam vốn đã có nền văn hiến từ lâu đời với truyền thống hiếu học, trọng đạo, hết lòng phụng dưỡng ông bà cha mẹ, tinh thần đoàn kết cộng đồng, thương yêu gắn bó giữa những người trong cùng một nước v.v... Hiện nay tuy điều kiện vật chất đầy đủ, cuộc sống sung túc nhưng một bộ phận không nhỏ giới học sinh THPT của tỉnh hiện nay lại ít được quan tâm, vun đắp về mặt tinh thần; các em đã không được lĩnh hội một cách đầy đủ những giá trị truyền thống tốt đẹp, vững bền của gia đình, quê hương, đất nước. Từ không có được thế giới quan, nhân sinh quan hài hòa, khoa học về tự nhiên, con người, về các mối quan hệ xã hội; không được giáo dục một cách nhuần nhụy về tình yêu quê hương, Tổ quốc, về đức tính hiếu học, chăm làm v.v… Cùng với cuộc sống theo lối “hưởng thụ”, tất cả những điều đó rất dễ khiến cho giới trẻ học sinh có những hành động nông nổi, sai lệch. Hiện nay, có một thực trạng là tội ác trong xã hội ngày càng gia tăng, tội phạm có xu hướng ngày càng trẻ hóa, một phần lớn trong số đó đang còn ở tuổi vị thành niên, còn ngồi trên ghế nhà trường. Những điều đau lòng đó, nguyên nhân không hề nhỏ xuất phát từ việc người lớn đã và đang xem nhẹ vấn đề giáo dục những giá trị lịch sử - văn hóa truyền thống của dân tộc cho giới trẻ; mãi lo chạy theo lợi ích vật chất mà phó mặc trách nhiệm giáo dục con em mình cho nhà trường; thiếu quan tâm đến những tâm tư tình cảm, nguyện vọng và sự phát triển toàn diện của các em.
- Xem thêm -