Skkn giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông qua công tác chủ nhiệm

  • Số trang: 20 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 80 |
  • Lượt tải: 0
nguyen-thanhbinh

Đã đăng 8358 tài liệu

Mô tả:

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 1 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM Người thực hiện : Hoàng Thị Lệ Chức vụ : Giáo viên giảng dạy SKKN thuộc lĩnh vực: Giáo dục công dân THANH HÓA NĂM 2013 1 MỤC LỤC Đặt vấn đề.........................................................................................Trang3 Giải quyết vấn đề...............................................................................Trang4 Cơ sở lý luận......................................................................................Trang4 Thực trạng trước khi thực hiện đề tài.................................................Trang 5 Các biện pháp tiến hành giáo dục......................................................Trang 6 Những yêu cầu sư phạm đối với GVCN............................................Trang 6 Những kỹ năng cần giáo dục cho HS.................................................Trang 6 Những biện pháp để giáo dục kỹ năng cho HS..................................Trang 7 Kiểm nghiệm.....................................................................................Trang 16 Kết luận và đề xuất.......................................................................... Trang 18 2 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.Báo giáo dục và thời đại: 2.Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm( NXB Hà Nội). 3.Kỹ năng sống (UNICEF) 4.Hoạt động giáo dục giá trị sốngvà kỹ năng sống cho học sinh trung học( Nguyễn Thi Mỹ Lộc-Đinh Thị Kim Thoa) 5. Hạt giống tâm hồn và ý nghĩa cuộc sống ( NXB tổng hợp TP.Hồ Chí Minh) QUY ĐỊNH VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI 1. Giáo viên: GV 2. Giáo viên chủ nhiệm: GVCN 3. Học sinh: HS 4. Kỹ năng sống: KNS 5. Hoạt động ngoài giờ lên lớp: HĐNGLL 6. Thể dục thể thao: TDTT 7. Trung học phổ thông: THPT 8. Ban giám hiệu: BGH 3 ĐỀ TÀI: Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông qua công tác chủ nhiệm. A. ĐĂT VẤN ĐỀ Rèn luyện kỹ năng sống có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi người để có thể đương đầu với thử thách trong cuộc sống và hoàn thiện mình hơn.Trong những năm gần đây, chương trình giáo dục của Bộ Giáo Dục đã hướng đến việc rèn luyện KNS cho học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế Nhà trường và coi đây là một trong những trọng điểm của chương trình. Hiện nay, một bộ phận không nhỏ HS nói chung và HS THPT Triệu Sơn I nói riêng sa vào tệ nạn xã hội, hư hỏng, làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập, nề nếp của nhà trường. Sự gia tăng những biểu hiện của thiếu kỹ năng sống như; không thể hiện được khả năng của bản thân, khó hoà nhập, lúng túng khi xử lý tình huống, hay gây mâu thuẫn, bất hoà với bạn bè, thầy cô... Nguyên nhân không nhỏ của tình trạng trên là do các em chưa được trang bị KNS một cách đầy đủ, để có thể đương đầu với sự biến động và cám dỗ trong xã hội hiện nay. Do vậy việc giáo dục KNS cho HS là rất cần thiết. Thực tế cho thấy việc giáo dục KNS trong nhà trường chưa được quan tâm đúng mức, mới chỉ dừng lại ở bộ môn GDCD và một số buổi sinh hoạt tập thể. Do vậy, chưa đáp ứng được mục tiêu của Bộ Giáo Dục đề ra. Để giáo dục KNS cho HS cần có sự phối hợp của gia đình- nhà trường và xã hội. Một trong những yếu tố góp phần quan trọng để hoàn thành mục tiêu này là đội ngũ GV. Đặc biệt là GVCN. Có thể nói GVCN là người đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối giữa nhà trường với HS, là người gần gũi, tiếp xúc thường xuyên với HS. Là kênh truyền đạt những mong muốn, suy nghĩ của các em tới BGH nhà trường và ngược lại.Trong tuần GVCN có ít nhất một buổi sinh hoạt lớp vào cuối tuần để gặp gỡ, trao đổi với HS. Hiện nay Trường THPT Triệu Sơn I có chủ trương GVCN tham gia sinh hoạt 15 Phút đầu giờ cùng với HS. Như vậy, thời gian để GVCN tiếp xúc với học sinh nhiều hơn. Nhưng hầu hết các buổi sinh hoạt đều diễn ra khô khan và cứng nhắc, chủ yếu là xử lý các trường hợp vi phạm. Thời gian sinh hoạt 15 phút đầu giờ thì diễn ra nhàm chán, lặp đi lặp lại như; tập hát, chữa bài tập… Từ những vấn đề nêu trên, với tư cách là một người GV, nhất là GVCN, tôi nhận thấy việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh có ý nghĩa quan trọng. Do vậy tôi chọn đề tài “ Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT qua công tác chủ nhiệm” 4 B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. CƠ SỞ LÝ LUẬN: Trên thế giới đã tồn tại nhiều khái niệm, nhiều định nghĩa khác nhau về KNS, mỗi định nghĩa, mỗi khái niệm được thể hiện dưới những hình thức khác nhau. Thông thường, KNS được hiểu là những kỹ năng thực hành mà con người cần để có sự an toàn , cuộc sống khoẻ mạnh với chất lượng cao. Theo UNICEFF, KNS là tập hợp rất nhiều kỹ năng tâm lý, xã hội và giao tiếp của mỗi cá nhân, giúp con người đưa ra những quyết định có cơ sở, giao tiếp một cách có hiệu quả, phát triển kỹ năng tự xử lý và quản lý bản thân nhằm giúp họ có cuộc sống lành mạnh và có hiệu quả. Từ KNS có thể thể hiện bằng hành động của cá nhân và những hành động của người khác cũng như những hành động nhằm thay đổi môi trường xung quanh, giúp nó trở nên lành mạnh. Như vậy, KNS giúp con người thay đổi nhận thức, thái độ và hành động theo hướng tích cực và mang tính xây dựng. Ông cha ta đã từng nói “ Nhân chi sơ, tính bản thiện” nhân cách của trẻ chịu sự tác động của các môi trường giáo dục; gia đình, nhà trường và xã hội. Trong đó nhà trường đóng vai trò là người phát hiện, thiết kế và hướng dẫn để HS có thể tự nhận thức, lĩnh hội và trau dồi nhân cách, kỹ năng sống cho mình Ở lứa tuổi mới bước vào đời , bắt đầu sống độc lập, làm việc và sẽ có những va chạm xã hội các em cũng rất cần được trau dồi kỹ năng sống. Theo một nghiên cứu mới được nghành giáo dục công bố, có trên 95% HS chưa nhận thức đúng về kỹ năng sống. Từ hiện trạng này cho thấy, việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là rất cần thiết nhằm góp phần đào tạo “con người mới” với đầy đủ các mặt “đức, trí, thể , mỹ” “ nhân, lễ, nghĩa, trí, tín” hay “ nhân, nghĩa, trí, tín, dũng, liêm...”. Hồ Chủ Tịch đã từng nói: “ Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên” Giáo dục KNS chính là định hướng cho các em những con đường sống tích cực trong xã hội hiện đại trong ba mối quan hệ cơ bản: con người với chính mình; con người với tự nhiên; con người với các mối quan hệ xã hội. Nắm được KNS, các em sẽ biết chuyển dịch kiến thức – “cái mình biết” và thái độ, giá trị “cái mình nghĩ, cảm thấy, tin tưởng”…thành những hành động cụ thể trong thực tế - “làm gì và làm cách nào” là tích cực và mang tính chất xây dựng. Tất cả đều nhằm giúp các em thích ứng được với sự phát triển nhanh như vũ bão của khoa học công nghệ và vững vàng, tự tin bước tới tương lai. Cụ thể là: - Trong quan hệ với chính mình: Giáo dục KNS giúp HS biết gieo những kiến thức vào thực tế để gặt hái những hành động cụ thể và biến hành động thành thói quen, rồi lại gieo những thói quen tích cực để tạo ra số phận cho mình. - Trong quan hệ với gia đình: Giáo dục KNS giúp HS biết kính trọng ông bà, hiếu thảo với cha mẹ, quan tâm chăm sóc người thân khi ốm đau, động viên, an ủi nhau khi gia quyến có chuyện chẳng lành… 5 - Trong quan hệ với xã hội: Giáo dục KNS giúp HS biết cách ứng xử thân thiện với môi trường tự nhiên, với cộng đồng như: có ý thức giữ gìn trật tự an toàn giao thông; giữ vệ sinh đường làng, ngõ phố; bảo vệ môi trường thiên nhiên…Từ đó, góp phần làm cho môi trường sống trong sạch, lành mạnh, bớt đi những tệ nạn xã hội, những bệnh tật do sự thiếu hiểu biết của chính con người gây nên; góp phần thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực để hài hoà mối quan hệ giữa nhu cầu – quyền lợi – nghĩa vụ trong cộng đồng. Do những ý nghĩa đặc biệt nêu trên, việc giáo dục hình thành nhân cách cho HS nói chung và đối với giáo dục KNS nói riêng ngày càng trở nên quan trọng và cấp thiết. Tuy nhiên, việc giáo dục kỹ năng sống chưa được quan tâm đúng mức trong nhà trường, chưa đáp ứng được nhu cầu rèn luyện kỹ năng cho các em. Vì vậy, vai trò của GVCN rất quan trọng trong việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. II. THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI. 1. Thuận lợi: a: Về phía giáo viên: -Rèn luyên kỹ năng sống cho HS là một trong những chương trình trọng điểm của Bộ Giáo Dục. Do vậy được áp dụng cho tất cả các môn học, cấp học. -Nhà trường đang thực hiện phong trào thi đua xây dựng “ Trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Trọng điểm của phong trào là rèn luyện KNS cho HS. -GV đã được tập huấn giảng dạy KNS cho học HS ở những khoá tập huấn do Sở GD-ĐT tổ chức. -Sự quan tâm của nhà trường về nề nếp, kỷ luật, cơ sở vật chất tạo điều kiện thuận lợi cho GVCN làm tốt vai trò của mình. b: Về phía học sinh: -Học sinh đã được giáo dục kỹ năng sống từ các cấp học dưới. -Sự phát triển của Internet, công nghệ thông tin đã giúp học sinh hiểu và hình thành cho mình một số kỹ năng sống thiết yếu. 2.Khó khăn: A:Về phía giáo viên -Việc giảng dạy KNS trong nhà trường chưa được đồng bộ. - Tài liệu về giáo dục KNS trong thư viện nhà trường còn ít. -Sự phối kết hợp giữa GVCN và GV bộ môn chưa thực sự hiệu quả trong giáo dục. b: Về phía học sinh: -Phần đa học sinh còn chưa chú trọng đền việc học và rèn luyện KNS cho mình. - Phụ huynh HS chỉ quan tâm đến việc học theo khối của con em mình, một số mải mê với công việc phó mặc việc dạy dỗ cho nhà trường. 6 III. CÁC BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH GIÁO DỤC 1. NHỮNG YÊU CẦU SƯ PHẠM ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM.. GVCN phải xác định mình là người đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục KNS cho HS, phải có lòng nhiệt tình và sự đam mê. Bởi vì, GVCN là linh hồn của lớp, là người tiếp xúc thường xuyên với HS, là người nắm rõ tâm lý, tính cách của từng HS. Do vậy, GVCN có thể hiểu được năng lực, thái độ ưu điểm và nhược điểm của từng HS. Đây là yêu cầu rất quan trọng. Bởi công tác chủ nhiệm lớp đòi hỏi điều đầu tiên của GV là lòng nhiệt tình và sự đam mê. Làm chủ nhiệm là một “ nghệ thuật”, nếu không có sự nhiệt tình sẽ không đem lại kết quả như mong muốn. Khi xác định được vai trò của mình GVCN sẽ gần gũi được HS, chiếm được cảm tình từ phía HS, từ đó sẽ có những biện pháp thiết thực để hoàn thành nhiệm vụ của mình. GVCN phải biết lập được kế hoạch chủ nhiệm cho riêng mình để có thể giáo dục được KNS cho HS. Căn cứ vào kế hoạch chung của Sở GD, của nhà trường, đặc điểm của lớp, của địa phương GVCN phải lập được cho mình một kế hoạch cụ thể, chi tiết, khoa học cho từng tuần, từng tháng và trong cả năm học. Phải biến việc giáo dục KNS cho HS thành một thói quen, thành kỹ năng của mình trong suốt quá trình làm công tác chủ nhiệm. GVCN phải là tấm gương cho HS soi vào về đạo đức, lối sống, hành vi. Có thể nói; để giáo dục được HS thì người GV nói chung và GVCN nói riêng phải là người biết dùng nhân cách của mình để dạy HS “Dùng nhân cách để giáo dục nhân cách”. GVCN phải là người có tấm lòng khoan dung, độ lượng, là quan toà mẫu mực trong khi giải quyết tình huống. Đặc biệt, GVCN phải hết lòng thương yêu HS, xem HS như con, em của mình, phải mở lòng mình với HS, có như vậy GVCN mới được học sinh tin tưởng, gần gũi, gửi gắm tâm sự. Đây cũng là kênh thông tin quan trọng để GVCN có phương pháp tốt để giáo dục đạo đức và KNS cho HS. GVCN phải là người có năng lực quản lý và năng lực tổ chức. Không phải lúc nào GVCN cũng ở trên lớp cùng với HS. Do vậy, GVCN phải xây dựng đội ngũ cán sự lớp có năng lực và trách nhiệm, điều hành một tập thể tự quản. GVCN còn phải biết ứng xử, giải quyết đúng các mối quan hệ giữa HS đối với nhau, giữa HS với GV, giữa GV bộ môn đối với GVCN, giữa GVCN với Đoàn thanh niên,... với cha mẹ HS. Thầy cô chủ nhiệm phải là cầu nối quan trọng kết nối ba môi trường giáo dục; gia đình, nhà trường và xã hội. 2. NHỮNG KỸ NĂNG CẦN GIÁO DỤC CHO HỌC SINH Có rất nhiều kỹ năng cần giáo dục cho học sinh, trong phạm vi đề tài này tôi xin đưa ra phương pháp giáo dục một số KNS như sau:  Kỹ năng tự nhận thức giá trị bản thân  Kỹ năng tư duy phê phán  Kỹ năng giải quyết vấn đề và ra quyết định 7     Kỹ năng giải quyết xung đột Kỹ năng hợp tác Kỹ năng kiên định Kỹ năng học tập và định hướng nghề nghiệp 3. CÁC BIỆN PHÁP CỤ THỂ ĐỂ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH. -3.1. Tổ chức tốt các buổi sinh hoạt 15 phút và buổi sinh hoạt cuối tuần: Trong các biện pháp để giáo dục KNS cho HS trong công tác chủ nhiệm tôi coi trọng biện pháp này nhất. Bởi thời gian để GVCN tiếp xúc nhiều nhất với HS là thông qua các buổi sinh hoạt 15 phút và sinh hoạt cuối tuần. 3.1.1: Lồng ghép chương trình giáo dục kỹ năng sống trong những buổi sinh hoạt 15 phút đầu giờ ; Đây là giải pháp quan trọng. Trong suốt năm học, GVCN là người thường xuyên bám lớp trong những giờ sinh hoạt 15 phút đầu giờ. Vì vậy việc lồng ghép giáo dục KNS cho học sinh là việc làm bổ ích, tránh được những buổi sinh hoạt nhàm chán, lặp đi , lặp lại, mà lại gây được hứng thú cho HS trong những buổi sinh hoạt 15 phút, đồng thời, giáo dục được KNS cho HS. Trong buổi sinh hoạt 15 phút đầu giờ thời gian ít. Vì thế, GVCN có thể áp dụng các phương pháp giáo dục KNS như; thảo luận nhóm, động não, nghiên cứu tình huống, hoặc tổ chức những trò chơi (có thời gian ngắn.) 3.1.1.1: Phương pháp hoạt động nhóm: Tổ chức tốt phương pháp này, GVCN sẽ tạo cơ hội cho HS tự tin, thoải mái chia sẻ sự hiểu biết của mình với người khác. Đồng thời, tiếp nhận sự phê phán, góp ý của bạn, giúp cho sự hiểu biết của HS trở nên sâu sắc hơn, toàn diện hơn giúp cho buổi sinh hoạt trở nên sôi nổi, hứng thú. Tuy nhiên phương pháp này sẽ gây ra sự ồn ào, mất trật tự cho các lớp bên cạnh, đặc biệt dễ gây sự nhàm chán cho một số HS. Do đó yêu cầu, GVCN phải làm tốt những việc sau: - Phải tạo ra một không khí thảo luận cởi mở, tôn trọng lẫn nhau giữa HS với nhau. - Vấn đề được đưa ra để HS thảo luận phải phù hợp với lứa tuổi, phải khơi gợi được khả năng tư duy phê phán, khả năng sáng tạo của HS. Ví dụ1: *Khi giáo dục kỹ năng “tự nhận thức giá trị bản thân”. GVCN cho HS tiến hành các hoạt động nhóm trong các buổi sinh hoạt 15 phút đầu giờ Hoạt động : Chia sẻ về tự nhận thức bản thân GV phát các tờ rơi in sẵn mệnh đề - Sở thích của em là gì?(đọc báo, xem TV, xem bóng đá....) - Cuốn truyện/ sách, chương trình TV mà em thích nhất. - Điểm mạnh và năng khiếu của em là gì? 8 - Ai là người bạn thân nhất của mình? Người đó như thế nào?Có đặc điểm gì nổi bật? - Mình muốn làm nghề gì trong tương lai? GV chia lớp thành những nhóm nhỏ gồm có 3 người mỗi em tự suy nghĩ và điền vào tờ rơi trong vòng 5 phút, sau đó chia sẻ với những bạn trong nhóm mình. Tiếp theo GVCN cho đại diện các nhóm trình bày những quan điểm chung của các thành viên trong nhóm mình, chia sẻ với các nhóm khác? Ví dụ 2: *Khi giáo dục kỹ năng kiên định, trong các buổi sinh hoạt 15 phút đầu giờ GVCN cho HS tiến hành hoạt động: Tranh luận đôi bên. GVCN chia lớp thành hai nhóm: Yêu cầu các em đưa ra các tình huống lôi kéo của bạn bè hay gặp nhất( hút thuốc, trốn học, chơi điện tử...). Phân một nhóm chuẩn bi lý lẽ ủng hộ ý kiến (nên hút thuốc), một nhóm chóng lại ý kiến (không nên hút thuốc).Để hai nhóm chuẩn bị lý lẽ trong vòng 7 phút. Sau đó cho hai nhóm tranh luận, chất vấn. Sau khi HS tranh luận xong GVCN hướng dẫn HS đi đến thống nhất ý kiến Là “nên” hoặc “không nên”. Nếu không nên hút thuốc thì phải làm gì? GVCN cung cấp cho HS các bước để hình thành kỹ năng kiên định. Tầm quan trọng của kỹ năng kiên định đối với HS. 3.1.1.2: Phương pháp nghiên cứu tình huống: Áp dụng phương pháp này GVCN sẽ huy động khả năng động não, khả năng tư duy, khả năng giải quyết vấn đề và ra quyết định của HS, lôi kéo các em vào những ình huống có thực và bắt buộc các em phải giải quyết. Tuy nhiên để thành công khi áp dụng phương pháp này GVCN phải đưa ra những tình huống sát thực với cuộc sống của các em, đang đựơc các em quan tâm và suy nghĩ, các em phải quyết định. Tất nhiên đó phải là tình huống giáo dục, để đem lại kết quả giáo dục. Ví dụ: *Khi giáo dục kỹ năng giải quyết vấn đề và ra quyết định, kỹ năng học tập và định hướng nghề nghiệp. GVCN ra tình huống cho HS. Giả sử em rất muốn thi vào trường đại học mà em thích, nhưng bố mẹ em không đồng ý. Em sẽ làm gì? Tại sao em quyết định nhu vậy GVCN chia lớp thành bốn nhóm, cho các em trao đổi, tranh luận với nhau trong vòng 5 phút. Sau đó, cử đại diện các tổ đưa ra ý kiến tranh luận của mình trong vòng 10 phút. Vào các buổi sinh hoạt tếp theo, GVCN tổng kết và đưa ra nhận xét, hướng dẫn HS trong cách chọn nghề phải căn cứ vào các yếu tố: Năng lực, sở trường của mình, nhu cầu và sự phát triển của xã hội. Ví dụ em thích được du ngoạn, khám phá những điều mới lạ, em có khả năng về các môn văn, ngoại ngữ... nên thi vào trường du lịch. 1.1.1.3;Phương pháp trò chơi: Phương pháp này mang lại cho HS khả năng giao tiếp , khả năng quyết định lưạ chọn, kỹ năng nhận xét đánh giá .Tạo không khí vui vẻ, sôi động trong buổi sinh hoạt. 9 Tuy nhiên, phương pháp này dễ gây sự lộn xộn trong lớp, gây ồn ào cho các lớp bên cạnh. Do vậy, GVCN phải chuẩn bị được những trò chơi có nội dung phù hợp với thời gian ngắn, hấp dẫn, ít gây sự xáo trộn trong tổ chức lớp. Ví dụ: Khi giáo dục kỹ năng tư duy phê phán, GVCN tổ chức cho HS chơi trò chơi “cùng nhau viết tiếp câu chuyện” trong vòng 15 phút. Cho HS đứng thành vòng tròn trong lớp, GVCN ra nhan đề cho câu chuyện như “ Tôi học như thế nào”. Sau đó GVCN cho một em viết câu mở đầu như “trước tiên tôi học bằng chính nghị lực của mình”. Sau đó chuyền cho các em tiếp theo viết tiếp các câu sau theo logic của câu trước thành một câu truyện. 3.1.2: Tổ chức tốt các buổi sinh hoạt cuối tuần: Phần lớn các tiết sinh hoạt chủ nhiệm hiện nay chủ yếu được thực hiện dưới hình thức là tổng kết, đánh giá và đề ra phương hướng tuần tới. Hình thức sinh hoạt này dễ gây cho học sinh sự nhàm chán, đặc biệt là gây áp lực về các lỗi mà các em mắc phải trong tuần qua. Vì lẽ đó mà một số em cảm thấy không thích tiết sinh hoạt chủ nhiệm, thậm chí là sợ hãi. Người thầy chủ nhiệm trong quá trình đánh giá ưu khuyết điểm của học sinh trong tuần vừa qua thường chủ quan xem việc vi phạm nội quy và những biểu hiện chưa tốt của học sinh là do các em không cố gắng, đôi khi xem đó là biểu hiện đạo đức không tốt. Biện pháp thường được áp dụng là xử lí kỉ luật, làm tờ tự kiểm và đôi lúc là hạ hạnh kiểm. Điều này dễ dẫn đến việc học sinh không tin vào thầy cô, bạn bè và có khi là không tin vào bản thân mình. Các em cần sự hướng dẫn và giáo dục của giáo viên chủ nhiệm. Trong tiết sinh hoạt lớp, GVCN sẽ cung cấp cho học sinh những hiểu biết thông qua các hoạt động sinh hoạt chuyên đề sinh động và vui nhộn. Sự sinh động và hứng thú của việc được tham gia vào các hoạt động có liên quan sẽ giúp học sinh nâng cao ý thức một cách tự nhiên và dễ dàng. Cũng nhờ vào các hoạt động này cùng với sự tin tưởng và sẻ chia của thầy cô mà các em sẽ có được niềm tin, định hướng và nghị lực để phát triển nhân cách. Thứ nhất: GVCN xử lý hành vi vi phạm của HS phải gắn việc giáo dục kỹ năng sống , xử lý khoa học, nhẹ nhàng nhưng phải nghiêm khắc, gắn với kỷ luật. Ví dụ1: Trong buổi lao động của lớp , mặc dù tôi đã phân công cụ thể cho từng tổ nhưng trong quá trình thực hiện, nhưng một số HS vẫn còn đùn đẩy nhau, dẫn đến công việc hoàn thành không đúng kế hoạch. Mặc dù rất bực bội nhưng tôi không nói gì. Vào buổi sinh hoạt cuối tuần tôi đã gọi lớp trưởng trình bày lý do, lớp trưởng cho biết: Một số bạn đến muộn hơn nên các bạn đến sớm chừa lại phần việc cho các bạn ấy làm. Tôi dùng phương pháp giáo dục KNS “ nghiên cứu tình huống”, bình tĩnh kể cho HS nghe mẫu chuyện “ sức mạnh” và nhấn mạnh lời người cha căn dặn con “ trong cuộc sống, không phải lúc nào chúng ta cũng có thể tự mình làm tất cả mọi việc. Sức mạnh của chúng ta còn nằm ở những người thân, bạn bè- những người luôn quân tâm và 10 giúp đỡ ta”. Sau khi kể xong tôi đã hỏi một số HS không đi lao động và đến muộn? Em không đi làm, hoặc đến muộn thì các bạn phải làm thay em phần việc đó, em có suy nghĩ gì? Sau đó tôi hỏi một số HS đến sớm? Nếu lần sau, em có một lý do nào đó mà cũng đến muộn, các bạn cũng chừa lại phần việc cho em, một mình em làm và công việc không hoàn thành, thì em sẽ suy nghĩ như thế nào? Quay sang tôi hỏi cả lớp? Nếu muốn công việc hoàn thành nhanh chóng thì chúng ta phải làm gì?. Thông qua cách này, tôi đã giáo dục cho HS kỹ năng hợp tác trong cộng đồng và ý nghĩa của sự hợp tác đó. Tôi vừa phê bình, kiểm điểm được thái độ, tinh thần của HS vi phạm, vừa giáo dục được kỹ năng cho HS, mà không biến tiết sinh hoạt trở nên căng thẳng. Ví dụ 2: Để xử lý HS vi phạm tôi dùng phương pháp “mô hình mẫu”, tôi dùng ngay chính hành vi ứng xử,giao tiếp của mình để xử lý. Trước tiên tôi cho HS trình bày nguyên nhân tại sao lại dẫn đến những vi phạm đó, nếu HS khó nói thì có thể gặp riêng tôi. Qua đó nhẹ nhàng phân tích cho HS vi phạm cái đúng và cái sai trong hành vi của em, hướng khắc phục, sữa chữa. Nếu lỗi nặng tôi sẽ áp dụng hình phạt theo nội quy của lớp, nếu lỗi nhẹ tôi có thể cho qua. Vì vậy, khi HS bị phạt mà vẫn không thấy oan ức, hoặc phản ứng tiêu cực, mà còn rút ra được kỹ năng khi xử lý tình huống cho mình. Ví dụ 3: Vào buổi sinh hoạt cuối tuần, khi xử lý hai HS trong giờ học đã có hành vi đánh nhau. Tôi dùng phương pháp phát vấn, để hỏi hai HS: Vì sao lại dẫn dến xung đột giữa hai người? Nếu bình tĩnh như bây giờ em có hành động như vậy không? Em sẽ xử lý như thế nào? Sau khi cho HS trình bày ý kiến của mình GV tổng kết lại và phổ biến trước lớp kỹ năng giải quyết xung đột như: kiềm chế cảm xúc, sử dụng kỹ năng thư giãn ( như thở vào, hít ra, nói ra cảm xúc của mình bằng giọng kiên định nhưng nhẹ nhàng). Cuối cùng tôi cho hai HS giảng hoà với nhau và mỗi bạn viết một bản kiểm điểm trình bày trước lớp về hành vi sai trái của mình. Thứ hai: Thông qua các buổi sinh hoạt cuối tuần GVCN có thể lồng ghép các chuyên đề giáo dục KNS cho học sinh Trong giờ sinh hoạt cuối tuần GVCN dành 15 hoặc 20 phút để tổng kết tuần và đề ra phương hướng cho tuần sau, hoặc xử lý học sinh vi phạm. Thời gian còn lại( hoặc có thể là cả buổi tuỳ theo công việc của tuần ít hay nhiều) GVCN có thể lồng ghép các chuyên đề giáo dục KNS cho HS. GVCN có thể dùng các phương pháp sau: 31..2.1: Phương pháp “trò chơi”: Những ưu điểm và nhược điểm của phương pháp này tôi đã trình bày ở trên. Để thành công khi áp dụng phương pháp này trong buổi sinh hoạt cuối tuần GVCN cần phải làm tốt công việc sau: GVCN phải đưa ra trò chơi mang tính cộng đồng, tập thể, kích thích khả năng tư duy, động não của các em. 11 GVCN phải tìm ra một người điều khiển trò chơi có khả năng giao tiếp tốt và đóng vai trò như một MC để dẫn dắt trò chơi. GVCN nên áp dụng phương pháp này nhiều trong các buổi sinh hoạt cuối tuần. Ví dụ1: Khi giảng dạy kỹ năng “ Hợp tác” trong buổi sinh hoạt cuối tuần tôi tổ chức hoạt động trò chơi “bão biển ” trong vòng 20 phút. Tôi chia HS thành những nhóm nhỏ, mỗi nhóm không quá 4 người, mỗi nhóm được trang bị một tờ báo trải dưới đất, bốn học sinh cùng đứng trên tờ báo. Người điều khiển trò chơi hô “ bão tới”. Bốn người trên thuyền phải tìm cách chống lại cơn bão, sau 10 phút bão tan, thuyền bị rách, HS rời khỏi thuyền. Gấp tờ báo lại thành một phần, GVCN cho HS tiếp tục trò chơi. Trong vòng 10 phút tiếp theo bão đến và thuyền lại bị rách, cứ như vậy GVCN cho HS chơi ba lần. Khi thuyền đã bị rách hết rồi, giữa biển bốn người sẽ phải làm gì để vào bờ. GVCN cho cả lớp thảo luận và giải quyết tình huống. GVCN kết luận, nêu ra bài học và KNS cần cho HS là phải hợp tác với nhau. Ví dụ 2: Để giáo dục kỹ năng “Tự nhận thức bản thân” GVCN tiến hành hoạt động trò chơi “Người khác nghĩ về mình”.( thời gian 20phút) Dụng cụ: giấy A0 khổ to, bút dạ màu, giấy khổ to cắt thành chiếc áo khoác Tiến hành: Cho HS khoác lên mình chiếc áo giấy. Chia lớp thành bốn nhóm, cho các thành viên trong nhóm viết lên lưng nhau, những ưu điểm, nhược điểm, tính cách của bạn mình trong vòng 20 phút. .( Tinh thần góp ý, không phê phán, không làm trò cười cho nhau) Sau đó GVCN cho một số HS mạnh dạn đứng dậy trình bày những đặc điểm của mình, vừa được bạn viết lên áo. HS trình bày xong GV đưa ra kết luận: Một điểm quan trọng của tự nhận thức bản thân đó nhận biết sự đánh giá , nhìn nhận của mọi người về mình. Sau trò chơi này GVCN lưu ý HS giữ và đọc những ưu điểm, nhược điểm của mình đã được bạn chỉ ra để có hướng phát huy, đồng thời khắc phục những điểm còn thiếu sót để hoàn thiện mình hơn. Ví dụ 3: Khi giáo dục KNS “ Tư duy phê phán” GVCN cho HS chơi trò chơi “ đoán chữ”. GVCN cho HS đoán chữ “ Đoàn kết” bằng cách đưa ra câu hỏi thứ nhất. Cụm từ này gồm tám chữ, đây là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta!. Nếu HS chưa đoán ra GVCN đưa ra tiếp gợi ý. Truyền thống này được Hồ Chí Minh đúc kết thành một chân lý, bài học lịch sử của dân tộc ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc!. Nếu HS vẫn chưa đoán được. GV đưa ra gợi ý cuối cùng. Cụm từ này bắt đầu bằng chữ Đ! 31..2.2: Phương pháp thuyết trình kết hợp với các phương pháp khác. Áp dụng phương pháp này trong buổi sinh hoạt cuối tuần sẽ giúp cho GVCN và HS có thời gian trò chuỵện, trao đổi với nhau nhiều hơn, giúp HS hiểu được các KNS có ý nghĩa với con người như thế nào. 12 Tuy nhiên áp dụng phương pháp này dễ gây cho HS sự nhàm chán nếu GVCN không khéo léo kết hợp tốt với các phương pháp khác. Do vậy, GVCN phải lựa chọn các phương pháp tạo ra sự thu hút và nhu cầu muốn tìm hiểu ở HS. Ví dụ: Để giáo dục kỹ năng “ giải quyết vấn đề và ra quyết định”. GVCN đọc cho học sinh nghe mẫu truyện “ Hãy thử một cách khác” ( Hạt giống tâm hồn và ý nghĩa cuộc sống). Câu chuyện kể về một chú ruồi cố tìm cách thoát thân bằng cách chui qua tấm kính của cửa sổ, mặc dù chú đã dồn hết sức lực nhưng vẫn không qua được và cuối cùng chú đã chết. Trong khi đó chỉ cách mười buớc chân là một cánh cửa đang rộng mở GV nhấn mạnh chi tiết “Nếu chú ruồi không khoá chặt mình vào một lối nghĩ duy nhất và thử tìm cách khác, chú đã tìm ra lối thoát một cách dễ dàng”. Sau khi đọc xong, GVCN dùng phương pháp thuyết trình kết hợp với phương pháp động não để tiến hành vói những câu hỏi sau: Em có thích mẫu truỵên này không? Vì sao em thích? Nếu em ở trong trường hợp như chú ruồi em sẽ làm gì để thoát thân? Tại sao em lại làm như vậy? Câu chuyện nhắc nhở chúng ta điều gì? Cho HS lần lượt trả lời xong, GVCN thuyết trình cho các em hiểu về ý nghĩa của mẫu truyện. Từ đó thuyết trình cho HS hiểu về ý nghĩa của KNS giải quyết vấn đề và ra quyết định. Năm bước căn bản để giải quyết vấn đề và ra quyết định như; Xác định vấn đề; động não về các khả năng; đánh giá các khả năng; lên kế hoạch hành động; đánh giá và điều chỉnh. Trong khi thuyết trình GVCN phân tích ví dụ để chứng minh. 3.1.2.3Phương pháp đóng vai: Nếu áp dụng tốt phương pháp này GVCN sẽ tạo được sự hứng thú và khả năng sáng tạo của HS, khích lệ được sự thay đổi thái độ, hành vi của HS theo hướng tích cực. Tuy nhiên, nếu tổ chức không tốt có thể trở thành cơ hội để HS chơi đùa, trêu chọc nhau. Do vậy, GVCN phải tổ chức sao cho phần “diễn” chỉ là phụ mà quan trọng hơn là phần thảo luận sau đó. Tình huống đưa ra phải thể hiện được tư duy phê phán và khả năng sáng tạo. Vừa là nội dung của KNS vừa là phương tiện để hình thành KNS khác. Ví dụ: Khi giáo dục kỹ năng giải quyết xung đột (35 phút). GVCN ra tình huống cho học sinh đóng vai. Lấy nhóm HS khoảng 5-6 bạn, để đóng vai một tình huống; Các bạn đang chơi trong sân trường một bạn từ đâu tới xô vào người bạn trong nhóm, cả hai người cùng ngã. Mặc dù người kia sai, nhưng bạn trong nhóm vẫn đỡ người đó dậy, nói lời xin lỗi. Tuy nhiên, đáp lại thái độ lịch sự của bạn trong nhóm, người kia chửi tục và đe doạ bạn trong nhóm. Khi nhóm HS diễn xong, GVCN đưa ra câu hỏi; Nếu là các em trong tình huống trên em sẽ xử lý như thế nào? GVCN phân lớp thành bốn nhóm cùng 13 thảo luận tình huống (10 phút). Sau đó cho đại diện các nhóm đứng lên trình bày ý kiến của mình bằng cách đóng vai. Cuối buổi GVCN tổng kết và đưa ra cho HS biết các bước giải quyết mâu thuẫn. Bước 1: Kiềm chế cảm xúc- sử dụng kỹ năng thư giãn. Tự đưa mình thoát khỏi tâm trạng/tình huống đó. Bước 2: Xác định nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn. cần suy nghĩ tích cực, vì nó tác động mạnh đến cảm xúc và hành vi tích cực. 3.2: Phối kết hợp với GV bộ môn, Ban giám hiệu, Đoàn thanh niên và các tổ chức khác trong Nhà trường. 3.2.1:GVCN kết hợp với GV bộ môn : Hiệu quả giáo dục của một lớp phụ thuộc một phần quan trọng vào hoạt động và phẩm chất của giáo viên chủ nhiệm và các giáo viên bộ môn. Vì vậy giáo viên chủ nhiệm và các giáo viên bộ môn phải có sự phối hợp, trao đổi thống nhất tác động sư phạm đến học sinh thông qua một số hoạt động:- Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên theo dõi kết quả học tập của học sinh thông qua giáo viên bộ môn (trao đổi trực tiếp với giáo viên bộ môn, thông qua nhận xét đánh giá của giáo viên bộ môn ở sổ theo dõi tiết học, sổ gọi tên ghi điểm của lớp mình quản lý).- Giáo viên chủ nhiệm thông qua việc dự giờ trên lớp các giáo viên bộ môn lớp mình quản lý để quan sát thái độ, hứng thú học tập từng bộ môn của học sinh lớp mình chủ nhiệm.- Giáo viên chủ nhiệm có thể trao đổi với giáo viên bộ môn về hoàn cảnh gia đình, sức khỏe, tâm lý,năng lực, sở trường… của từng học sinh. Từ đó có những đề xuất với giáo viên bộ môn về phương pháp hướng dẫn học sinh học tập và cũng thông qua đó tiếp thu những ý kiến phản ánh của giáo viên bộ môn về lớp mình phụ trách. Bên cạnh đó, giáo viên chủ nhiệm cũng nên nêu những nguyện vọng của lớp đối với giáo viên bộ môn.Thông qua nhận xét của giáo viên bộ môn, kết hợp với sự theo dõi và quan sát của giáo viên chủ nhiệm, mỗi người giáo viên chủ nhiệm sẽ tìm được một giải pháp phù hợp với thực trạng của lớp, với việc giảng dạy kỹ năng sống phù hợp với đặc điểm học sinh của mình. Ví dụ: Học sinh A có khả năng về môn toán, GVCN có thể gặp giáo viên môn toán để phối kết hợp, có biện pháp bồi dưỡng và định hướng tương lai cho HS. 3.2.2: GVCN phối kết hợp với Đoàn thanh niên, Ban giám hiệu và các tổ chức khác trong Nhà trường. Trước hết GVCN phải phối kết hợp thường xuyên với Ban giám hiệu và tổ chức Đoàn thanh niên. Dưới sự chỉ đạo của Ban giám hiệu, một trong những vai trò của Đoàn là đảm nhận hoạt động bề nổi như: tổ chức các hoạt động 26/3; kỷ niệm ngày 20/11... thông qua các hoạt động của đoàn GVCN có thể dễ dàng giáo dục KNS cho HS. Bởi vì, nhân cách của HS được hình thành qua hai 14 con đường cơ bản: con đường dạy học trên lớp và con đường hoạt động ngoài giờ lên lớp. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp(HĐGDNGLL) là một bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục ở nhà trường THPT. HĐGDNGLL là sự tiếp nối của hoạt động dạy học trên lớp, là con đường gắn lý thuyết với thực tiễn , tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động , góp phần hình thành tình cảm, niềm tin cho sự hình thành nhân cách cho các em, là điều kiện thuận lợi để học sinh phát huy vai trò chủ thể của mình trong hoạt động, nâng cao tính tích cực hoạt động rèn luyện để phát triển nhân cách. Ví dụ: Thông qua hội thi văn nghệ, làm báo tường, thi kéo co đê chào mừng ngày thành lập nhà giáo Việt Nam, ngày thành lập Đoàn (26/3)GVCN có thể lồng ghép giáo dục KNS: hợp tác, hoà nhập, kỹ năng lãnh đạo cho HS lớp mình thông qua cách phân công nhiệm vụ cho từng cá nhân trong lớp, phát huy tinh thần chủ động , tích cực của các em để làm sao đó để lớp mình có thể đem lại thành tích cao nhất trong cuộc thi. Ngoài ra, GVCN phải thường xuyên kết hợp với các tổ chức khác trong nhà trường như tổ giám thị ... để xử lý vi phạm của học sinh một cách thuyết phục và có hiệu quả. 3.3: GVCN phối kết hợp chặt chẽ với phụ huynh học sinh: Nhân cách của học sinh được hình thành dưới tác động của ba môi trường: gia đình, nhà trường và xã hội. Trong đó gia đình là môi trường mang tính trực tiếp quyết định đến sự hình thành nhân cách của các em. Do vậy, GVCN cần phải có mối liên hệ chặt chẽ với phụ huynh học sinh, thông qua phụ huynh, GVCN có thể nắm bắt được: đặc điểm, cá tính, sở thích của từng học sinh, bởi hai phần ba thời gian HS tiếp xúc với gia đình. Do vâỵ, không ai hiểu rõ con mình hơn là phụ huynh. Mặt khác thông qua phụ huynh, GVCN có thể biết được hiệu quả giáo dục KNS cho học sinh của mình đến đâu. Mặc dù , hiệu quả giáo dục KNS không đo được bằng những con số chính xác nhưng được biểu hiện bằng những thái độ và hành vi cụ thể như: khi về nhà các em có tự tin hơn không, có còn lúng túng khi giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống không? Trong quan hệ với bạn bè, làng xóm có hoà nhập hơn không? Các em có ý thức sống tự lập hơn không?...Để tạo thành kỹ năng, phản xạ tốt thì cần phải được rèn luyện thường xuyên, liên tục đến mức thuần thục.. Do đó vai trò của gia đình là không thể thiếu và giữ vị trí hết sức quan trọng. 3.4: GVCN cung cấp cho phụ huynh HS những kiến thức cần giáo dục kỹ năng sống cho HS thông qua các buổi họp phụ huynh: Ở các nước phát triển, trẻ em sống độc lập, vì vậy tránh được những rủi ro đáng tiếc. Nhưng ở Việt Nam vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức. Phần lớn trong các gia đình vẫn còn tâm lý xem các em như là những đứa trẻ, cần được bao bọc. Dẫn đến các em thiếu kỹ năng tự vệ, kỹ năng xử lý tình huống, kỹ năng lựa chọn nghề nghiệp...Một số phụ huynh thiếu kiến thức về giáo dục kỹ năng sống cho con em mình( nhất là các vùng nông thôn). Một số phụ huynh do mải mê với công việc làm ăn nên lãng quên việc giáo dục con. Do 15 vậy trong mỗi lần họp phụ huynh, tôi thường cung cấp và tư vấn cho phụ huynh HS những nội dung giáo dục KNS như; Kiến thức về giáo dục HS phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, đặc biệt việc phát hiện sớm biểu hiện rối loạn tâm thần của học sinh, bệnh tật học đường, định hướng nghề nghiệp, năng khiếu của từng HS... 3.5. Xây dựng quy tắc ứng xử giữa HS với GVCN, với GV bộ môn: Trong xã hội hiện nay, mối quan hệ thầy trò có phần thay đổi hơn so với thời xưa. Thể hiện rõ nhất ở những khía cạnh như; dân chủ hơn, thân thiện và hoà đồng hơn. Tuy nhiên, để việc giáo dục đạo đức và KNS cho HS có hiệu quả hơn GVCN phải xây dựng cho lớp mình một quy chế giao tiếp và ứng xử giữa “thầy với thầy, trò với trò”gần gũi, thân thiện, rèn luyện cho HS kỹ năng ứng xử văn hoá, phòng chống tệ nạn xã hội, bạo lực. Tránh tình trạng thầy không ra thầy, trò không ra trò. GVCN phải dùng đúng ngôn từ, chuẩn mực lời nói trước học sinh, vừa giữ đúng vị trí của giáo viên đối với học sinh, vừa gây được tình cảm thân thiết giữa cô và trò. Ví dụ trong cách “xưng hô” giáo viên nói chung và GVCN nói riêng không nên dùng những từ gây khoảng cách đối với học sinh như; “tôi” và “anh, chị”, hoặc dùng những lời lẽ không chuẩn mực đối với học sinh như “ mày, tao”.... GVCN cũng phải yêu cầu HS trong cách xưng hô với GVCN và GV bộ môn phải đúng chuẩn mực, giữ đúng khoảng cách của người học đối với thầy, đúng nguyên tắc lễ phép, tôn sư, trọng đạo,không được dân chủ quá trớn. Tuy vậy, GVCN cũng phải tạo ra bầu không khí cởi mở, thân thiện đối với HS, bằng cách gần gũi, thân thiện, tâm sự với HS như một người bạn thân thiết.Trong những năm làm chủ nhiệm tôi thường tổ chức những buôỉ dã ngoại hoặc những buổi họp mặt tại nhà GVCN. Thông qua hình thức này tôi có thể giáo dục cho HS kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hoà nhập. Qua đó tôi cũng nắm bắt được thông tin “ phản hồi” từ phía học sinh. 3.6: GVCN lồng ghép giáo dục KNS cho học sinh thông qua môn học của mình: Là một giáo viên chủ nhiệm, đồng thời tôi cũng là một giáo viên bộ môn. Với đặc thù là giáo viên dạy môn Giáo dục công dân, trong mỗi tiết dạy của mình tôi thường lồng ghép giáo dục KNS cho học sinh. Ví dụ: Khi dạy bài “Chính sách văn hoá” (GDCD lớp 11) tôi lồng ghép dạy kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng giao tiếp cho học sinh bằng cách; đưa ra một số lối sống, cách xưng hô thiếu văn hoá hiện nay của một bộ phận không nhỏ học sinh, cho học sinh điền vào phiếu học tập với những thái độ đồng ý hoặc không đồng ý và trình bày tại sao lại có thái độ như vậy. Sau đó tôi tổng kết và khắc sâu những điều các em cần phải phê phán và phê phán như thế nào. Những điều các em cần phải tránh trong cách ứng xử với nhau và nên ứng xử như thế nào? Kết luận: Có rất nhiều phương pháp để giáo dục KNS cho học sinh. Nhưng không có một phương pháp nào là “vạn năng”. Do vậy, “nghệ thuật” của một 16 người GVCN là phải biết kết hợp linh hoạt các biện pháp, kết hợp đúng đối tượng HS, đúng đặc điểm từng lớp, đúng hoàn cảnh có như vậy thì hiệu quả giáo dục KNS cho HS sẽ thu được hiệu quả cao hơn. 4. KIÊM NGHIỆM: 4.1:Ưu điểm: -Giáo dục kỹ năng cho học sinh thông qua công tác chủ nhiệm sẽ giúp cho tình cảm giữa GVCN và học sinh gắn bó hơn. Thầy hiểu trò và trò cũng cảm thấy tin tưởng, gần gũi hơn đối với thầy cô ,giúp cho GVCN dễ dàng hơn trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. - Tăng cường khả năng phối, kết hợp giữa GVCN với gia đình và các tổ chức khác trong Nhà trường trong việc giáo dục đạo đức, rèn luyện KNS cho học sinh -Giúp giáo viên có một thói quen giáo thường xuyên dục kỹ năng sống cho HS, không chỉ trong lớp chủ nhiệm mà trong mỗi tiết dạy của bộ môn mình. - Giúp cho HS có thể chủ động và tích cực hơn trong quá trình rèn luyện cho mình một số kỹ năng thiết yếu cho bản thân một cách thường xuyên. -Khắc phục sự nhàm chán và khô khan trong mỗi tiết sinh hoạt 15 phút đầu giờ và buổi sinh hoạt cuối tuần. - Học sinh thân thiện, cởi mở với nhau hơn, đoàn kết và tương trợ giúp đỡ nhau trong quá trình học tập. -Góp phần tích cực vào phong trào “ xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực. 4.2:Nhược điểm: - Khi GVCN lồng ghép chương trình giáo dục KNS cho HS vào những tiết sinh hoạt 15 phút đầu giờ, sinh hoạt cuối tuần sẽ gây ra sự ồn ào, mất trật tự cho các lớp bên cạnh. 4.3: kết quả; Phương pháp này tôi đã áp dụng đối với các khoá học: Lớp C5, khoá học 2010-2013. Lớp 10C5 năm học 2010-2011: Sĩ số HS 43 trong đó 25 HS nam, 18 HS nữ: Số HS cá biệt 13. Với đặc điểm là một lớp đông HS nam, số HS cá biệt nhiều, nên dẫn đến nề nếp cũng như học tập kém, được xếp vào diện lớp điển hình có nhiều học sinh bị kỷ luật,“quậy phá” trong các giờ của GV bộ môn. Đầu năm liên tục đứng ở tốp cuối về nề nếp của trường. Tinh thần đoàn kết hầu như không có, thậm chí chia bè, chia phái trong lớp. Về lao động có đến 80% HS chây lười, ỷ lại Về các hoạt động bề nổi: 70% HS thờ ơ, không tham gia, phó thác trách nhiệm cho cán sự lớp và GVCN, Kết quả học lực và hạnh kiểm nửa học kỳ I: Sĩ số Hạnh kiểm Học lực 43 Tốt Khá TB Yếu Giỏi Khá TB Yếu Kém HS 23,2% 27% 23,2% 26,6% 0 18,4% 63,2% 16,1% 2,3% Kết quả học lực và hạnh kiểm học kỳ I 17 SSố Hạnh kiểm Học lực 43 Tốt Khá TB Yếu Giỏi Khá TB Yếu Kém HS 34,8% 32,8% 16,2% 16,2% 0 23,2% 62,8% 14% 0 - Về lao động đã có 60% HS tích cực, hăng hái - Các hoạt động bề nổi đã có 90% HS tham gia tích cực. - Về nề nếp xếp thứ 11/28 lớp toàn trường. Kết quả học lực và hạnh kiểm cuối năm học 2010-2011 SSố Hạnh kiểm Học lực 43 Tốt Khá TB Yếu Giỏi Khá TB Yếu Kém HS 46,5% 37,2% 9,3% 7% 0 28% 65% 7% 0 - Về lao động đã có 90% HS lao động tích cực: - Các hoạt động bề nổi đã có 100% HS tham gia nhiệt tình - Lớp đã có sự đoàn kết, các em hoà đồng vui vẻ, giúp đỡ nhau trong học tập. - Về nề nếp, lớp có sự tiến bộ nhiều so với đầu năm, số lượng HS cá biệt giảm xuống còn 4 HS, xếp thứ 8/28 lớp toàn trường. Lớp 11C5 năm học 2012-2013: Sĩ số HS 37 trong đó 20 HS nam, 17HS nữ. Kết quả học lực và hạnh kiểm nửa học kỳ I năm học 2012-2013: SSố Hạnh kiểm Học lực 37 Tốt Khá TB Yếu Giỏi Khá TB Yếu Kém HS 62,2% 29,7% 8,1% 0 0 37,8% 62,2% 0 0 -Về nề nếp: xếp thứ 5/27 lớp vào tháng 9. Xếp thứ 2/27 lớp vào tháng 10. - Về lao động: 100% HS có thái độ lao động nhiệt tình. - Về hoạt động bề nổi. 100% HS hăng hái tham gia và đóng góp ý kiến để hoàn thành các tiết mục văn nghệ, TDTT chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20/11. Kết quả học lực và hạnh kiểm học kỳ I năm học 2012-2013. SSố Hạnh kiểm Học lực 37 Tốt Khá TB Yếu Giỏi Khá TB Yếu Kém HS 70,2% 29,7% 0 0 0 40,5% 59,5% 0 0 - Về nề nếp:Cuối học kỳ I xếp thứ 4/27 lớp toàn trường - Lớp có sự tiến bộ vượt bậc, được xếp vào lớp tinh thần đoàn kết và có nề nếp tốt trong Nhà trường. - Về lao động: 100% HS có thái độ lao động nhiệt tình. HS đã tự giác lao động, thậm chí cả khi không có GVCN. - Về hoạt động bề nổi có 100% HS tham gia nhiệt tình, tích cực. Qua sự đối chứng trên cho thấy: Lớp C5 mà tôi được giao làm công tác chủ nhiệm trong hơn một năm học đã có sự tiến bộ đáng kể. Điều đó chứng tỏ, việc giáo dục KNS cho HS thông qua công tác chủ nhiệm là việc làm hết sức bổ ích và cần thiết. Mang lại hiệu quả cao trong công tác giáo con người toàn diện. 18 C: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT I: Kết luận: Công tác giáo dục đạo đức, giáo dục KNS cho HS THPT hiện nay là một công tác có ý nghĩa hết sức quan trọng cần thiết trong trường phổ thông. Việc thực hiện là một quá trình công phu, lâu dài, liên tục và có sự kết hợp sức mạnh của các môi trường giáo dục: Gia đình- Nhà trường- Xã hội. Trong Nhà trường, giáo dục KNS cho HS là trách nhiệm của toàn thể hội đồng sư phạm. Bên cạnh vai trò của BGH, thì vai trò của GVCN rất quan trọng. Có thể nói, trong việc rèn luyện đạo đức và KNS cho HS, GVCN là một bộ phận không thể thiếu. Thông qua công tác chủ nhiệm, việc giáo dục KNS cho HS sẽ trở nên dễ dàng hơn, HS dễ tiếp cận với kiến thức hơn. Quan trọng hơn là khắc phục được sự nhàm chán, khô khan trong mỗi tiết sinh hoạt cuối tuần, sự lặp lại của các hình thức sinh hoạt 15 phút đầu giờ. HS thấy được vai trò quan trọng của mình, chủ động, tích cực để rèn luyện cho mình các kỹ năng bổ ích trong cuộc sống hiện đại. Để hoàn thành nhiệm vụ của mình GVCN phải thực sự có tâm huyết, thương yêu HS. Phải biết kết hợp linh hoạt các biện pháp mới có thể đem lại kết quả cao trong quá trình giáo dục đạo đức và giáo dục KNS cho HS. II. Đề xuất: Với tầm quan trọng của việc giáo dục KNS cho HS THPT hiện nay tôi xin có một số đề xuất sau: -BGH nhà trường có chủ trương lồng ghép các chuyên đề giáo dục KNS cho HS trong các buổi sinh hoạt cuối tuần, các buổi sinh hoạt 15 phút đầu giờ( ít nhất là 2 buổi/ tuần). -Tổ chức một số buổi HĐNGLL cho HS tham gia. - Bên cạnh các hoạt động bề nổi như văn nghệ, báo tường, TDTT, Đoàn trường nên tổ chức nhiều các cuộc thi giúp HS HS có dịp thể hiện tài năng về kiến thức, tư duy của mình đồng thời rèn luyện được kỹ năng thiết yếu trong thời đại ngày nay. XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ. 19 Thanh hoá ngày 05/05/2013 Tôi cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác. Hoàng Thi Lệ 20
- Xem thêm -