Skkn giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trong giảng dạy môn hoá học

  • Số trang: 24 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 11 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: "GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TRONG GIẢNG DẠY MÔN HOÁ HỌC" A. ĐẶT VẤN ĐỀ Ô nhiễm môi trường làm biến đổi khí hậu toàn cầu, gây thiên tai, hạn hán, bão lụt, lốc xoáy, làm tổn hại đến đời sống cũng như sức khoẻ của con người và làm diệt vong một số loài sinh vật…. Có 3 dạng ô nhiễm môi trường chính là ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí. Một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường là do con người. Do vậy muốn bảo vệ môi trường trước hết cần phải thay đổi sự tác động của con người đối với môi trường, mà việc đầu tiên cần làm là thay đổi những nhận thức, suy nghĩ để con người có những hành động cụ thể có ích đối với môi trường. Là nền tảng của giáo dục quốc dân với số lượng học sinh, sinh viên chiếm 20% dân số sẽ góp phần tích cực làm giảm ô nhiễm môi trường nếu độ ngũ này có ý thức, hành vi và thói quen thường ngày về vấn đề bảo vệ môi trường. Hoá học là môn khoa học nghiên cứu thành phần, tính chất, ứng dụng, sự biến đổi giữa các chất, sản xuất các chất. Do đó hoá học có vai trò rất lớn trong việc giáo dục bảo vệ môi trường đặc biệt đối với học sinh trung học phổ thông . Đưa các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến môi trường vào bài học không những giúp các em học sinh say mê hứng thú học tập, tạo niềm tin khoa học và yêu thích môn hoá mà còn giúp các em hiểu biết thêm về môi trường từ đó ý thức bảo vệ môi trường được nâng cao và biến thành những hành vi, những thói quen hàng ngày, những hành động cụ thể thường xuyên liên tục ở bất cứ nơi nào như gia đình, nhà trường và xã hội để môi trường sống luôn xanh sạch - đẹp. Để đạt được mục đích này thì giáo viên dạy hoá học ở trường trung học phổ thông là nhân tố tham gia có vai trò quyết định đến việc hình thành ý thức và hành động bảo vệ môi trường cho các em học sinh. Do vậy ngoài những hiểu biết về trình độ chuyên môn người giáo viên cần phải có phương pháp vận dụng linh hoạt giữa những hiện tượng thực tiễn với bài học đặc biệt là những vấn đề có liên quan đến môi trường. Do vậy tôi mạnh dạn nêu sáng kiến “Giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trong giảng dạy môn hoá học”.Với sáng kiến này là tài liệu giúp cho giáo viên có thêm phương pháp khác để giáo dục môi trường cho học sinh, giúp cho học sinh, cho những đối tượng khác có khả năng tự nghiên cứu để nâng cao ý thức, hành động bảo vệ môi trường của bản thân. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. CƠ SỞ LÝ LUẬN “ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại phát triển của con người và sinh vật” ( Điều 3 luật bảo vệ môi trường năm 2005) Môi trường là không gian sinh sống cho con người cũng như thế giới sinh vật, là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống sản xuất của con người. Trong vài thập niên trở lại đây sự phát triển nhanh chóng như vũ bão về khoa học kỹ thuật, về kinh tế xã hội đã mang lại cho đời sống vật chất và tinh thần của con người được nâng lên, các dịch vụ được phục vụ tốt hơn… thế nhưng kèm theo những mặt tích cực đó là không ít những hệ quả nghiêm trọng mà đầu tiên phải kể đến vấn đề ô nhiễm môi trường. Bảo vệ môi trường là việc làm của toàn thể nhân loại trong tất cả mọi lĩnh vực khác nhau. Trong đó ngành giáo dục cũng một góp phần không nhỏ. Việc truyền đạt kiến thức khoa học của mỗi môn học cho học sinh là điều quan trọng, song việc vận dụng những kiến thức đó vào thực tế cuộc sống để giải quyết những vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường cũng rất cần thiết. II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ Ngày nay ô nhiễm môi trường (đất, nước, không khí) đang là vấn đề báo động của toàn thể nhân loại, dẫn đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu làm ảnh hưởng đến sự sống sự sinh tồn của con người và nhiều loại động thực vật trên trái đất. Trong tình hình hiện nay đổi mới phương pháp dạy học hoá học đã và đang thực sự mang lại kết quả cao trong mỗi giờ học. Việc đổi mới phương pháp đồng thời giáo dục môi trường cho học sinh cũng là điều rất cần thiết. Thực tế giảng dạy cho thấy: Môn hoá học trong trường phổ thông là một môn có ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường. Nếu mỗi giáo viên có cách thức, phương pháp phù hợp, biết liên hệ thực tiễn đưa các vấn đề về môi trường vào bài học sẽ góp một phần trong việc nâng cao ý thức và hành động bảo vệ môi trường của học sinh. Thông qua quá trình giảng dạy tôi đã vận dụng linh hoạt các phương pháp giảng dạy đồng thời vận dụng một số vấn đề thực tiễn có liên quan đến môi trường vào trong bài học. Việc đưa các vấn đề thực tiễn trên vào bài học một phần giúp học sinh học tập say mê, hứng thú và yêu thích môn hoá hơn đồng thời qua đó giúp học sinh có cách nhìn nhận đúng về môi trường và có tác động vào môi trường đúng đắn hơn để môi trường luôn xanh, sạch, đẹp. III. CÁC GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN “ Giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trong giảng dạy môn hoá học” thông qua nhiều cách thức khác nhau. Giáo viên có thể: 1. Nêu hiện tượng thực tiễn về môi trường thay cho lời mở bài để kích thích trí tò mò khoa học, giúp học sinh tìm tòi kiến thức trong bài để giải thích các hiện tượng trên và từ kiến thức của bài học học sinh vận dụng trở lại vào thực tế cuộc sống để hạn chế những tác động của bản thân làm ảnh hưởng đến môi trường 2.Nêu hiện tượng thực tiễn về môi trường thay cho lời kết bài để củng cố khắc sâu kiến thức đồng thời hình thành ý thức tích cực, tính tự giác trong việc bảo vệ môi trường. 2. Nêu hiện tượng thực tiễn về môi trường qua các phương trình hoá học cụ thể, làm tăng thêm tính khoa học và thực tiễn cho học sinh, gây hứng thú học tập tốt hơn và dễ dàng khắc sâu ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh 3. Nêu hiện tượng thực tiễn về môi trường xung quanh hằng ngày qua các buổi thí nghiệm. Từ đó giúp các em trực tiếp biết cách xử lí chất thải như thế nào để không ảnh hưởng đến môi trường. 4. Lấy ví dụ cụ thể về các hiện tượng thực tiễn trong các buổi hoạt động ngoại khoá để giúp học sinh cũng cố lại bài đồng thời thực hành bảo vệ môi trường ngay trong buổi ngoại khoá. 2. CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Để thực hiện được mục đích này giáo viên có thể dùng nhiều phương tiện và cách thức khác nhau như: bằng lời để giải thích,bằng tranh ảnh, hình ảnh minh hoạ, đoạn video, bằng thực tế về môi trường sống xung quanh … thông qua giảng dạy trực tiếp hoặc dùng phương tiện máy chiếu, máy chiếu đa năng…Tuỳ theo từng điều kiện, hoàn cảnh của mỗi nhà trường, khả năng truyền đạt của mỗi giáo viên, khả năng tiếp thu của từng đối tượng học sinh mà mỗi giáo viên có thể vận dụng một cách linh hoạt vấn đề này nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về giáo dục môi trường. Có vô vàn những hiện tượng thực tiễn liên quan đến môi trường, nhưng với sáng kiên này tôi chỉ áp dụng một số vấn đề điển hình. Dưới đây là bảng tích hợp một số hiện tượng trong các bài học có liên quan đến môi trường: Nội dung giáo dục được tích hợp  Hiện Giải thích hiện tượng tượng các động cơ đốt trong Mưa axit là hiện tượng trời mưa có kèm theo axit, chủ yếu là H2SO4 và bên cạnh đó là axit HNO3. Mưa axit là bài, Học sinh đề mục liên hệ tích hợp thực tế Do khí thải công Lớp 10 mưa axit? tác hại nghiệp và khí thải của của nó. Tên ( ô tô, xe máy) có chứa các khí SO2, NO, NO2, Bài 33: - Hạn chế Axit tham sunfuric. giao thông … các khí này tác dụng Mục I.4: với ôxi và hơi nước Sản xuất trong không khí nhờ axit xúc tác là ôxit kim loại ( sunfuric gia bằng các phương tiện cá nhân nên đi xe buýt nguồn ô nhiễm có trong khói bụi nhà chính của một số máy) hoặc ôzon tạo ra nơi trên thế giới, nó axit sunfuric H2SO4 (là công cộng. Hoặc làm mùa màng thất axit chủ yếu) và axit Lớp 11 thu, cây cối không nitơric HNO3. Bài 9: axit phát triển, phá huỷ nitric hàng loạt các công 2SO2 + O2 + H2O muối tượng đài từ đá cẩm O4 phiến ( có thành phần chính - Nên đem bình qui 2H2S nitrat trình xây dựng, các thạch, đá vôi, đá và ắc hỏng đến nơi tái Mục V.2: chế, không 2NO + O2 2NO2 Điều chế được vứt trong công bừa bãi. là 4NO2 + O2 + 2H2O nghiệp CaCO3), đặc biệt là các công trình làm 4HN bằng kim loại. O3 - Sử dử ng phân ửửm hửp lí, không bón quá nhiửu cho cây trửngLửp 11 Sự phú dưỡng là gì? Lớp 12 Do sự thâm nhập Bài một lượng lớn N, P từ Hoá 45: - Không học xả nước thải sinh hoạt của và vấn đề thải nước trực các khu dân cư, sự đóng môi tiếp xuống kín và thiếu đầu ra của trường ao, môi trường hồ. Sự phú môi sông dưỡng nước hồ đô thị trường ,suối… hồ, và các sông kênh dẫn - Không thải nước tiểu, phân hữu cơ, rác nước thải gần các thành phố lớn đã trở thành Mục I.2 thải hữu cơ … xướng hiện tượng phổ biến ở hầu hết các nước trên ao, hồ. thế giới. Bài 12: Ô nhiễm môi trường Phân bón hoá học - Bảo vệ nguồn nước ở mọi nơi. nước Mục I.3 Phân đạm urê - Luôn tiết kiệm nước trong cuộc Lớp 10 sống hằng Bài 38: Cân bằng hoá học Mục III.3: ảnh hưởng của nhiệt độ Phú dưỡng là hiện tượng thường gặp trong các hồ đô thị, các sông và kênh ngày dẫn nước thải. Biểu hiện phú dưỡng của các hồ đô thị là nồng độ chất dinh dưỡng N, P cao, tỷ lệ P/N cao do sự tích luỹ tương đối P so với N, sự yếm khí và môi trường khử của lớp nước đáy thuỷ vực, sự phát triển mạnh mẽ của tảo và nở hoa tảo, sự kém đa dạng của các sinh vật nước, đặc biệt là cá, nước có màu xanh đen hoặc đen, có mùi khai thối do thoát khí H2S v.v...  Ôzon và hiện Nguyên nhân gây suy Lớp 10 - tượng sử dụng các hợp suy giảm giảm tầng ôzon là do tầng ôzon.Dưới tác một số hoá chất dùng Bài 29: Không dụng của men trong gia đình và trong Oxi- ozon ureaza của các vi công nghiệp bay hơi sinh vật, ure bị vào khí quyển, bốc lên phân huỷ thành cao và tích tụ lâu ngày CO2 và NH3. thành một lượng lớn Ôzon là một chất khí có trong thiên nhiên, chúng hấp thụ phần lớn các tia tử ngoại từ mặt trời chiếu xuống trái đất. Khi tầng ôzon bị tổn thương khí ôzon sẽ được giải phóng ra làm suy thoái tầng ôzon. Hoá chất chủ yếu là chất CF CFC (cloroflorocacbon), halogen, cacbontetraclorua, metylbromua….Ngày nay ta được nghe rất nhiều về lỗ thủng tầng ôzon là vì lẽ đó. Mục B.II: chất làm từ CFC. Ozon trong tự nhiên - Hạn chế dùng các bao bì bằng nhựa xốp, nilon nếu dùng nên tái sử dụng nhiều lần. bề mặt trái đất nhiều hơn gây ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ con người, bên cạnh đó không có sự bảo vệ của lớp ôzon, ánh sáng mặt trời chiếu xuống trái đất với bức xạ cực lớn sẽ - Trồng nhiều cây xanh và luôn bảo vệ rừng. gây ảnh hưởng lớn đến sự sống của toàn bộ sinh vật trên trái đất, làm tăng nhiệt độ trái đất, băng tan, lũ lụt, hạn hán, mất mùa và nhiều hiểm hoạ khác cho con người và sinh vật trên trái đất. (NH2)2CO + 2H2O CO 2 + 2NH3 Lượng NH3 sinh ra hoà tan trong nước dưới dạng một cân bằng động NH3 + H2O NH4+ ( H<0) + OH- Như vậy, khi trời nắng ( nhiệt độ tăng), cân bằng sẽ chuyển dịch theo chiều nghịch, tức là NH3 sinh ra do phản ứng phân huỷ, ure không bị hoà tan trong nước mà bị tách ra, bay vào không khí xung quanh sông, hồ làm không khí có mùi khai.  Tại sao vào những ngày nắng đi gần các sông hồ bẩn người ta thường ngửi thấy mùi khai? Khi nước sông, hồ bị ô nhiễm nặng bởi các chất thải hữu cơ giàu chất đạm như: Nước tiểu, phân hữu cơ, rác thải hữu cơ,… lượng urê trong các chất hữu cơ sinh ra nhiều.  Hiện tượng Nguyên nhân cơ bản Lớp 12 sương mù quang cũng là do các lọai khí hoá: thải trong công nghiệp là một dạng ô nhiễm không khí được tổng hợp từ NO, NO2, HNO3, CO, các nitrat hữu cơ (PAN), O3 và các chất ôxi hoá quang hoá. Sương mù và trong gia đình bay vào không khí lâu ngày và tích tụ lại gây nên hiện tượng sương mù quang hoá Bài 45: Hoá học và vấn đề môi trường môi trường Mục I.1 Ô nhiễm quang hóa làm giảm môi tầm nhìn, gây hại trường đối với sức khoẻ không khí con người, làm hao mòn nhiều loại vật liệu nhất là các vật đốt Không các liệu hữu cơ như làm loại chất tăng sự huỷ hoại cao thải gây ô su, tơ sợi, nilon, nhiễm sơn, thuốc nhuộm, không khí gây hại cho cây mà cần thu trồng … gom lại đưa về nơi tái chế. - Luôn giữ cho không khí trong nhà trong lành, thoáng mát. - Không hút thuốc lá.  Vì sao phải Khi đi qua những cánh Lớp 12 trông cây xanh? Vì rừng ta thấy không khí sao phải bảo vệ nơi đây thật dễ chịu là rừng? Rừng là nơi sinh đó là do cây xanh trong quá trình quang hợp đã hấp thụ khí CO2 và nhả Bài - Tích cực 6: Saccarozơ, tinh bột và xenlulozơ. trồng cây xanh ở gia đình, nhà trường và nơi công sống của nhiều loài ra khí oxi động vật, là lá phổi xanh của trái đất có cộng. 6n CO2 + 5nH2O (C6H10O5)n + tác dụng làm sạch không khí, rừng còn nO2 làm nhiệm vụ bảo vệ và cải tạo đất, làm tăng độ phì nhiêu của đất, rừng giúp điều hoà dòng chảy trong sông ngòi và có giá trị lớn về du lịch Mục II.2: Cấu trúc phân tử (quá trình không khí giàu ôxi là quang - Không đốt rừng, phá rừng bừa bãi không khí trong lành có hợp) lợi cho sức khoẻ của con người. Càng nhiều cây xanh thì nồng độ ôxi càng tăng đồng thời lượng CO2 càng giảm điều đó cũng góp phần làm giảm tác nhân gây hiệu ứng nhà kính.  Đất bị ô nhiễm Phân bón hoá học Lớp 11 do phân hoá học và được bón vào đất, một chất bảo vệ thực phần được thực vật hấp vật: thụ, một phần được đất giữ lại, nhưng một phần Bài 12: Phân bón hóa học tương đối lớn bị rửa ( GV mở Để tăng năng suất trôi. cây trồng, ở trên thế bài hoặc - Sử dụng phân bón hoá học và giới cũng như ở Thuốc bảo vệ kết bài) nước ta có xu hướng thực vật cũng gây ảnh tăng cường sử dụng hưởng xấu cho môi thuốc bảo vệ Lớp 12 thực vật hợp lí. các chất hoá học, vì trường và gây hại cho Bài 45: vậy nó gây ô nhiễm sức khoẻ của con người Hoá học môi trường nghiêm và làm giảm số lượng và vấn đề của nhiều loài sinh vật môi trọng. có ích như ong mắt đỏ, trường nấm có ích, làm giảm môi tính đa dạng sinh học trường đồng thời lại làm xuất hiện nhiều sâu bệnh Mục I.3 là Ô nhiễm nguyên nhân bùng nổ môi nạn rầy nâu, bệnh đạo trường đất. ôn ở một số vùng. kháng thuốc và  Ô nhiễm đất do Các chất thải rắn Lớp 12 chất nghiệp thải nghiệp và công công ô sinh nhiễm lớn cho đất. Đặc hoạt: biệt nghiêm trọng là các Khoa học kỹ thuật càng phát triển thì các gây nghành công nghiệp được mở ra chất thải công nghiệp làm ô nhiễm đất bởi các hoá chất và các kim loại nặng như Cu, Zn, Pb, - Bài 45: Hoá học và vấn đề môi trường môi trường Không đổ nước thải ra đường, phố, nơi các công cộng. - Mỗi gia càng nhiều và đời As, Hg, Cr, Cd. Các nhà Mục I.3 đình phải sống sinh hoạt của máy còn xả vào khí thu con người được quyển nhiều khí độc nâng cao. Chính vì như H2S, CO, CO2, thế môi trương nói SO2…cuối cùng chúng chung, môi trường cũng sa lắng xuống môi Ô nhiễm môi trường đất. gom nước thải vào hệ thống bể tự hoại, đất nói riêng cũng bị trường đất. hầm chứa ô nhiễm trầm trọng. hoặc Hằng ngày con người cho nước thải và động vật thải ra một vào khối lượng rất lớn các hệ thống chất phế thải vào môi thoát nước trường. Đó là rác, phân, công cộng. xác động vật và các phế thải khác.  Sa mạc hóa hay Trong các nguyên Lớp 12 hoang mạc hóa là nhân gây ra nạn sa mạc gì? Sa mạc hóa hay hoang mạc hóa là hiện tượng suy thoái đất đai ở những vùng khô cằn, gây ra bởi sinh hoạt con người và biến đổi hóa, phần lớn là do tác động của con người. Việc lạm dụng đất đai trong các ngành chăn nuôi gia súc, canh tác ruộng đất, phá rừng, đốt đồng, trữ nước, khai - Tích cực Bài 45: Hoá học và vấn đề môi trồng cây xanh để chống xói mòn. trường - môi sinh sống trường theo hình giếng, tăng lượng thổ Mục I.3 Không thức du canh, du khí hậu. diêm (soil salinity) và Ô nhiễm cư. biến đổi khí hậu toàn môi cầu đã góp sức làm sa trường mạc hóa nhiều vùng đất. trên trái đất. 2. Dưới đây là một số vấn đề tích hợp khác  Vấn đề 1: Hiện tượng loang dầu Hiện tượng loang dầu là hiện tượng mà dầu mỏ và các sản phẩm của chúng tạo lớp màng mỏng phủ đều trên mặt biển ngăn cản sự trao đổi nhiệt, làm giảm tính chất hoá lí của nước dẫn đến thiệt hại vô cùng lớn đối với thực vật và động vật sống trong nước bị nhiễm dầu đó Trên thế giới hàng năm lượng dầu thải vào biển và đại dương là 4.897.000 tấn, trong đó các phương tiện giao thông trên biển thải ra là 2.407.000 tấn và các phương tiện giao thông đường bộ, công nghiệp, công nghệ lọc dầu thải ra là 2.490.000.Mà 1 tấn dầu hoả có thể bao trùm một diện tích bề mặt nước là 12 km 2 với bề dày từ vài micromet đến vài centimet  Vấn đề 2: Tại sao cá và các loại thuỷ sinh vật không sống được ở sông, suối gần khu vực khai thác khoáng sản? Kim loại nặng như Hg, Pb, As, Sb,Cr, Cu, Zn, Mn… thường không tham gia hoặc ít tham gia vào quá trình sinh hoá của cơ thể sinh vật và thường tích luỹ trong cơ thể chúng. Vì vậy chúng là những nguyên tố độc đối với sinh vật. Hiện tượng nước bị ô nhiễm kim loại nặng thường ở lưu vực gần các khu công nghiệp, các thành phố lớn và các khu khai thác khoáng sản. Nước bị ô nhiễm kim loại nặng làm cho cá và các loại sinh vật khác không sống được. Nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm kim loại nặng là do quá trình đổ vào môi trường nước là nước thải công nghiệp và nước thải độc hại không qua sử lí hoặc sử lí không đạt yêu cầu.  Vấn đề 3: Sự phú dưỡng là gì? Phú dưỡng là hiện tượng thường gặp trong các hồ đô thị, các sông và kênh dẫn nước thải. Biểu hiện phú dưỡng của các hồ đô thị là nồng độ chất dinh dưỡng N, P cao, tỷ lệ P/N cao do sự tích luỹ tương đối P so với N, sự yếm khí và môi trường khử của lớp nước đáy thuỷ vực, sự phát triển mạnh mẽ của tảo và nở hoa tảo, sự kém đa dạng của các sinh vật nước, đặc biệt là cá, nước có màu xanh đen hoặc đen, có mùi khai thối do thoát khí H 2S v.v... Nguyên nhân gây phú dưỡng là sự thâm nhập một lượng lớn N, P từ nước thải sinh hoạt của các khu dân cư, sự đóng kín và thiếu đầu ra của môi trường hồ. Sự phú dưỡng nước hồ đô thị và các sông kênh dẫn nước thải gần các thành phố lớn đã trở thành hiện tượng phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới.  Vấn đề 4: Vì sao ngày nay không dùng xăng pha chì? Xăng dùng cho các loại động cơ đốt trong như ôtô, xe máy là hỗn hợp của các hiđrocacbon no ở thể lỏng ( từ C 5H12 đến C12H26). Để tăng khả năng chịu nén của nhiên liệu người ta thường pha thêm tetraetyl chì Pb(C 2H5)4 và nó sẽ tiết kiệm khoảng 30% lượng xăng sử dụng. Tuy nhiên việc pha thêm chì vào xăng sẽ gây ô nhiễm đến môi trường không khí và sức khoẻ của con người. Đó là do khi cháy trong động cơ thì chì (II) oxit - PbO sinh ra sẽ bám vào các ống xả, thành xilanh, nên thực tế còn trộn vào xăng chất 1,2 – đibrômmetan CH 2Br-CH2Br để chì (II) oxit - PbO chuyển thành muối PbBr2 dễ bay hơi thoát ra khỏi xilanh, ống xả và thải vào không khí gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người  Vấn đề 5: Vì sao không khí trong nhà cũng bị ô nhiễm. Hiện nay nhiều gia đình ở nước ta vẫn dùng than làm chất đốt. Bếp than thải ra một lượng khí cacbonic khá lớn, nhưng dù dùng bếp ga hoặc bếp dầu trong nhà cũng không tránh được việc thải ra khí cacbonic. Ngoài ra, trong quá trình xào nấu thức ăn sẽ bốc ra các hạt chất dầu mỡ làm ô nhiễm không khí trong bếp. Mặt khác, điều kiện sống hiện nay ở các thành phố còn chật chội, cơ thể con người luôn toả ra khí cacbonic và mồ hôi, chưa kể những người hút thuốc lá thải ra một lượng lớn khói thuốc làm ô nhiễm không khí trong nhà ở. Những nơi ồn ào hoặc giá rét, người ta lại thường đóng kín cửa sổ (để chống ồn và chống rét) khiến các loại khí độc hại không thoát ra ngoài được. Những đồ dùng mới sử dụng trong các gia đình như thảm nilon, giấy dán tường, đồ nhựa, v.v...cũng đem theo vào phòng ở các chất ô nhiễm như toluen, metylbenzen, formalđehyt,... Những hoá chất này đều rất có hại đối với sức khỏe con người. Nếu trong nhà có nuôi chó, mèo và trồng nhiều hoa, cây cảnh sẽ làm tăng thêm lượng khí cacbonic và mùi hôi trong phòng ở. Bụi và các tạp chất khí kể trên luôn bay lơ lửng trong không khí kèm theo các loại vi trùng, dĩ nhiên sẽ ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe con người.
- Xem thêm -