Skkn giải pháp nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử thpt

  • Số trang: 34 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 22 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: “GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN LỊCH SỬ THPT” A. PHẦN MỞ ĐẦU I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng của vấn đề Theo "chiến lƣợc phát triển con ngƣời" của Đảng và Nhà nƣớc ta đã chỉ rõ với mục tiêu: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài” đã đƣợc cụ thể hoá trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nƣớc. Đặc biệt trong xu thế hội nhập quốc tế mục tiêu “Bồi dưỡng nhân tài” càng đƣợc Đảng và Nhà nƣớc quan tâm lớn “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Đất nƣớc muốn phồn thịnh đòi hỏi phải có những nhân tố thích kế để có hƣớng đi, có những ngƣời tài để giúp nƣớc. Hiện nay, chúng ta đang trong xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế, gia nhập WTO thì nhân tài là một trong những yếu tố để chúng ta có thể tiếp cận với sự tiến bộ của khoa học công nghệ của các nƣớc trong khu vực và trên thế giới. Thực hiện mục tiêu đó, ngành giáo dục của chúng ta đang cố gắng hƣớng đến sự phát triển tối đa những năng lực tiềm tàng trong mỗi học sinh. Ở các trƣờng Trung học phổ thông (THPT) hiện nay, đồng thời với nhiệm vụ phổ cập giáo dục, nâng cao chất lƣợng đại trà, việc chăm lo bồi dƣỡng học sinh giỏi đang đƣợc nhiều cấp bộ chính quyền và nhân dân địa phƣơng quan tâm nhƣng nguyên nhân sâu xa nhất đó chính là thực hiện mục tiêu giáo dục mà Đảng và Nhà nƣớc đã đề ra. Thực tế hiện nay ở các trƣờng THPT công tác bồi dƣỡng học sinh giỏi, trong đó có việc bồi dƣỡng học sinh giỏi môn Lịch sử đã đƣợc chú trọng song vẫn còn những bất cập nhất định nhƣ: cách tuyển chọn, phƣơng pháp giảng dạy còn yếu kém, chƣa tìm ra đƣợc hƣớng đi cụ thể cho công tác này, phần lớn chỉ làm theo kinh nghiệm. Từ những bất cập trên dẫn đến hiệu quả bồi dƣỡng không đạt đƣợc nhƣ ý muốn. Mặt khác, do quan niệm sai lệch về vị trí, chức năng của môn lịch sử trong đời sống xã hội. Một số học sinh và phụ huynh có thái độ xem thƣờng bộ môn lịch sử, coi đó là môn học phụ, môn học thuộc lòng, không cần làm bài tập, không cần đầu tƣ phí công vô ích. Dẫn đến hậu quả học sinh không nắm đựơc những sự kiện lịch sử cơ bản, nhớ sai, nhầm lẫn kiến thức lịch sử là hiện tƣợng khá phổ biến trong thực tế ở nhiều trƣờng. Là một giáo viên dạy bộ môn Lịch sử trƣờng THPT Lý Tự Trọng đặt trên địa bàn xã Hoài Châu Bắc, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định – học sinh của trƣờng phần lớn là con em gia đình nông dân, đời sống kinh tế còn khó khăn, học sinh ít đƣợc tiếp cận với các vấn đề lịch sử, văn hóa chuyên sâu từ các kênh thông tin. Băng khoăn trƣớc thực trạng đó, tôi luôn tìm tòi, nghiên cứu để nâng cao kiến thức và phƣơng cách giảng dạy của bộ môn để gây hứng thú học tập môn lịch sử cho học sinh, nhất là công tác bồi dƣỡng học sinh giỏi sao cho đạt hiệu quả. Nhiều năm liền trƣờng tôi có học sinh giỏi lịch sử cấp tỉnh và cấp Quốc gia. Xuất phát từ những lý do cơ bản trên, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử ở trường THPT đạt hiệu quả”. 2. Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới Bồi dƣỡng học sinh giỏi là công tác cực kì quan trọng giúp cho ngành giáo dục phát hiện nhân tài, lựa chọn những mầm giống tƣơng lai cho đất nƣớc trong sự nghiệp trồng ngƣời. Đồng thời giúp cho học sinh thực hiện đƣợc ƣớc mơ là con ngoan, trò giỏi và có định hƣớng đúng về nghề nghiệp của mình trong tƣơng lai. Đề tài này là nhằm đƣa ra một số kinh nghiệm, bí quyết ôn luyện học sinh giỏi môn lịch sử (chọn đối tƣợng học sinh, phƣơng pháp ôn luyện, kết quả đạt đƣợc). Góp phần tạo nguồn quan trọng cho đội tuyển học sinh giỏi môn Lịch sử của tỉnh dự thi cấp Quốc gia đạt kết quả. Công tác bồi dƣỡng học sinh giỏi đƣợc xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, góp phần khẳng định chất lƣợng giáo dục và vị thế, uy tín của giáo viên và nhà trƣờng. Đồng thời còn có ý nghĩa thiết thực trong việc bồi dƣỡng tài năng tƣơng lai cho quê hƣơng, đất nƣớc. 3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài Đề tài đƣợc xây dựng từ việc tích lũy những kinh nghiệm ở các lớp bồi dƣỡng học sinh giỏi môn Lịch sử trƣờng THPT Lý Tự Trọng – huyện Hoài Nhơn - tỉnh Bình Định. II. Phương pháp tiến hành 2.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 2.1.1. Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài Dân tộc Việt Nam có lịch sử từ lâu đời, với quá trình hàng nghìn năm dựng nƣớc và giữ nƣớc. Nhân dân ta không chỉ có truyền thống dân tộc anh hùng mà còn có kinh nghiệm phong phú, quý báu về việc giáo dục lịch sử cho thế hệ trẻ, về việc rút bài học quá khứ cho cuộc đấu tranh và lao động trong hiện tại. Kiến thức lịch sử góp phần xây dựng đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách, trở thành vũ khí sắc bén trong công cuộc dựng nƣớc và giữ nƣớc. Ngày nay, (theo cố Tổng Bí thƣ Đỗ Mƣời) “cùng với quá trình quốc tế hóa ngày càng mở rộng thì trở về nguồn cũng là một trong những xu thế chung của các dân tộc trên thế giới. Với chúng ta, đó chính là sự tìm tòi, phát hiện ngày càng sâu sắc hơn những đặc điểm của xã hội Việt Nam, những phẩm chất cao quý, những giá trị truyền thống và những bài học lịch sử giúp chúng ta lựa chọn và tiến hành bƣớc đi thích hợp, hƣớng mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. Chất lƣợng bộ môn Lịch sử đƣợc đánh giá không phải bằng việc ghi nhớ nhiều sự kiện mà cần hiểu đúng lịch sử. Nhƣ cố Thủ tƣớng Phạm Văn Đồng đã từng viết: “Lịch sử đâu phải là một chuổi sự kiện để người viết sử ghi lại, rồi người giảng sử đọc lại, người học sử học thuộc lòng”. Điều quan trọng là qua học tập, “chúng ta thấy được cái gì qua các thời đại lịch sử, và từ đó chúng ta rút ra được kết luận gì, bài học gì, Mác, một nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác – Lênin đã vũ trang cho chúng ta một phương pháp luận đúng đắn để nghiên cứu lịch sử, để rút ra những kết luận có ý nghĩa quan trọng thiết thực”. Đây chính là cơ sở để những ngƣời quan tâm đến sử học và những thầy cô giáo giảng dạy môn lịch sử cần nhận thức đúng, sâu sắc, ý nghĩa, vị trí của bộ môn Lịch sử ở trƣờng THPT và tìm ra những phƣơng pháp để nâng cao chất lƣợng bộ môn, thu hút đƣợc nhiều học sinh tham thích học lịch sử và học giỏi lịch sử. Mục tiêu bộ môn lịch sử ở trƣờng THPT: *Về kiến thức: - Cung cấp kiến thức lịch sử ở chƣơng trình nâng cao lớp 12 THPT, học sinh đƣợc học sâu những sự kiện cơ bản trong quá trình phát triển của lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc… - Tiếp tục bồi dƣỡng học sinh giỏi bộ môn lịch sử về kiến thức và kĩ năng, tạo hứng thú say mê học tập, tìm hiểu lịch sử cho học sinh. - Tạo nguồn cho học sinh đi chuyên sâu một số chuyên ngành lịch sử ở bậc đại học, cao đẳng. * Về kĩ năng: - Hình thành kĩ năng tƣ duy lịch sử và tƣ duy logic, nâng cao năng lực xem xét, đánh giá sự kiện, hiện tƣợng trong mối quan hệ không gian, thời gian và nhân vật lịch sử. - Rèn luyện kĩ năng học tập bộ môn một cách độc lập, thông minh nhƣ làm việc sách giáo khoa, sƣu tầm và sử dụng các loại tƣ liệu lịch sử, làm bài thực hành. - Phát triển khả năng phân tích, đánh giá, so sánh, tổng hợp, .v.v. - Vận dụng kiến thức vào thực tiễn. - Biết đặt vấn đề và giải quyết vấn đề trong quá trình học tập. 2.1.2. Cơ sở thực tiễn *Thuận lợi: - Trong hệ thống các môn học ở trƣờng THPT trong đó có môn lịch sử cũng có vai trò quan trọng, trong việc giáo dục giáo dƣỡng học sinh, lòng yêu quê hƣơng đất nƣớc, lòng tự hào dân tộc… là hành trang quan trọng, trƣớc khi học sinh rời mái Trƣờng trung học phổ thông, bƣớc vào môi trƣờng mới. - Đƣợc sự quan tâm của Sở GD- ĐT tỉnh Bình Định, Chi bộ, Ban giám hiệu và các đoàn thể trong trƣờng THPT Lý Tự Trọng. - Thầy, cô giáo cùng bộ môn đều nhiệt tình tích cực, trong cải tiến phƣơng pháp, luôn học tập trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, thông qua hội thảo, thao giảng, sử dụng công nghệ thông tin…góp phần nâng cao chất lƣợng dạy và học môn lịch sử. - Một bộ phận học sinh yêu thích và quyết tâm học tập môn lịch sử nhƣ thi vào đội giỏi cấp trƣờng, cấp tỉnh, cấp quốc gia và thi Đại học khối C. * Khó khăn: - Quan niệm xã hội về vị trí môn lịch sử đƣờng đi hẹp, lợi ích kinh tế thấp. - Quan niệm chƣa đầy đủ của một số nhà quản lý giáo dục, phụ huynh học sinh và cả giáo viên. - Học sinh chƣa đầu tƣ quĩ thời gian thƣờng xuyên cho việc học môn lịch sử. - Khối lƣợng kiến thức môn lịch sử ở một số bài còn dàn trải khá nặng, một số giáo viên còn bị động trong khai thác kiến thức, chƣa mạnh dạn để học sinh tự tìm hiểu một phần kiến nào đó, trong bài dƣới sự hƣớng dẫn của giáo viên. - Đề và đáp án môn lịch sử thi tốt nghiệp, đại học trong những năm vừa qua còn câu nệ quá nhiều câu chữ, kiến thức SGK, hạn chế việc phát huy tƣ duy lịch sử cho học sinh. - Thông thƣờng học sinh ít chịu đọc SGK và câu hỏi SGK trƣớc, để có chủ định xây dựng và tiếp thu bài mới –dẫn đến tính hợp tác của học sinh không cao. Kỹ năng thảo luận nhóm ở một số học sinh chƣa cao - nhất là tính hợp tác. - Thực trạng dạy học môn Lịch sử ở trƣờng THPT hiện nay nhƣ trên nên giáo viên khó phát hiện và lựa chọn đƣợc đối tƣợng học sinh có năng khiếu để bồi dƣỡng. Hơn nữa dạy môn sử hiện nay ở trƣờng phổ thông thiếu nhiều trang thiết bị nhƣ: tranh ảnh, bản đồ… Mặt khác, việc dạy môn Lịch sử đôi khi bị giới hạn về thời gian tiết học/đơn vị bài nên khi chú trọng dạy cho học sinh hứng thú thì lại không hết chƣơng trình so với quy định. Chính vì vậy nhiều khi cũng phải dạy “chay” để đuổi kịp với chƣơng trình”. Giáo viên không có hứng thú để đầu tƣ bồi dƣỡng học sinh giỏi. - Để học sinh yêu thích môn Lịch sử, hứng thú học lịch sử và tham gia học lớp bồi dƣỡng học sinh giỏi đi thi đạt hiệu quả, tôi không ngừng tìm tòi, nghiên cứu tƣ liệu, phát huy tác dụng của đồ dùng học tập,… - Chất lƣợng học tập bộ môn Lịch sử của học sinh ở các lớp tôi phụ trách giảng dạy và kết quả học sinh giỏi môn lịch sử cấp tỉnh và cấp Quốc gia hàng năm ở trƣờng THPT Lý Tự Trọng – Bình Định ngày càng tăng là động lực để tôi cố công đầu tƣ cho việc nghiên cứu giảng dạy bộ môn lịch sử này. * Đánh giá cơ sở thực tiễn: Căn cứ vào chất lƣợng bộ môn và kết quả học sinh giỏi môn lịch sử cấp tỉnh và cấp Quốc gia hàng năm, tôi thấy: - Phần lớn lãnh đạo và giáo viên đều nhận thức đƣợc tầm quan trọng của công tác dạy bồi dƣỡng học sinh giỏi môn Lịch sử. - Song vẫn còn một số giáo viên dạy lịch sử chƣa thực sự tâm huyết, chƣa thực sự đầu tƣ cho công tác bồi dƣỡng học sinh giỏi, nên khi chuyên môn phân công bồi dƣỡng không đạt hiệu quả. - Học sinh rất hứng thú học môn lịch sử khi giáo viên có sự đầu tƣ vào bài giảng và biết phát huy tính tích cực của học sinh. Vì vậy, việc nghiên cứu và những đề xuất của đề tài là hiệu quả, thiết thực, phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ của ngành, của đồng nghiệp tâm huyết với bộ môn lịch sử. 2.2. Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp 2.2.1. Biện pháp nghiên cứu Tôi tiến hành nghiên cứu các sách giáo trình lịch sử và những tƣ liệu có liên quan phục vụ cho việc giảng dạy môn lịch sử để biên soạn giáo trình bồi dƣỡng cho học sinh giỏi. Qua các kênh thông tin, qua chƣơng trình dạy học, qua chƣơng trình tập huấn thay sách, chƣơng trình bồi dƣỡng thƣơng xuyên, qua cách ra đề học sinh giỏi những năm gần đây…, tôi nhận thấy sự chuyển biến rõ nét trong cấu tạo đề kiểm tra, đề thi đại học, cao đẳng – đặc biệt là đề thi học sinh giỏi. 2.2.2. Thời gian tiến hành Qua hơn 8 năm học (2003 – 2012) đảm nhận việc dạy bồi dƣỡng cho đội tuyển học sinh giỏi môn lịch sử của trƣờng THPT Lý Tự Trọng – Bình Định tôi đúc kết đƣợc những kinh nghiệm, bí quyết ôn luyện học sinh giỏi môn lịch sử đạt hiệu quả (chọn đối tƣợng học sinh, phƣơng pháp ôn luyện, …). B. NỘI DUNG I. MỤC TIÊU - Làm rõ lý luận và thực trạng trong công tác dạy - học và bồi dƣỡng học sinh giỏi môn Lịch sử ở trƣờng THPT. - Đề xuất một số biện pháp bồi dƣỡng học sinh giỏi môn Lịch sử đạt hiệu quả ở trƣờng THPT Lý Tự Trọng – Bình Định. II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP MỚI CỦA ĐỀ TÀI 2.1. Yêu cầu chung 2.1.1. Yêu cầu một học sinh giỏi - Nhiều ngƣời thƣờng nghĩ Lịch sử là môn học thuộc lòng nhƣng thật ra muốn học giỏi thì phải đọc và hiểu sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử theo kiểu “mƣa dầm thấm lâu”. Nhƣng quan trọng nhất, ngƣời học giỏi lịch sử phải biết hệ thống hóa các nội dung lịch sử bằng những sơ đồ nhánh, biểu đồ thống kê tƣ duy theo từng sự kiện, mốc thời gian. Từ đó, ta mới có thể dễ dàng ghi nhớ nội dung và dữ liệu của môn học. Bởi, môn lịch sử là một môn khoa học biện chứng. - Là học sinh giỏi Lịch sử không phải chỉ cần tính siêng học bài mà là phải có khả năng lập luận, thông minh, trí nhớ tốt. Đặc biệt là phải có niềm đam mê, yêu thích Sử học. - Học sinh giỏi Lịch sử không những phải hoàn thành các bài tập của giáo viên giao mà còn phải chuẩn bị bài trƣớc ở nhà (theo những câu gợi mở của giáo viên). Sau khi thảo luận nhóm và đƣợc giáo viên giảng giải thêm, học sinh mới hiểu sâu đƣợc kiến thức. - Ngoài việc học tập ở lớp, học sinh phải tham khảo thêm nhiều sách vở do giáo viên gợi ý hoặc tự tìm tòi. Học sinh phải có sổ tay để ghi chép những nội dung quan trọng. Đây là tƣ liệu cần thiết, giúp học sinh dễ dàng tra cứu, không mất nhiều thời gian truy tìm, khi cần thiết. - Học sinh không những nắm đƣợc những kiến thức của giáo viên mà còn phải biết độc lập suy nghĩ, tìm tòi, biết khái quát nội dung chƣơng trình, hay thắc mắc những gì mình còn nhận thức mơ hồ. - Nhƣng nắm vững lý thuyết chƣa đủ mà học sinh còn phải rèn luyện kỹ năng phân tích đề; kỹ năng viết bài và trình bày bài làm. Nhìn một bài làm hay, thì chữ đẹp bao giờ cũng dễ gây thiện cảm cho ngƣời đọc. Đây là một công việc khó khăn, học sinh cần phải đƣợc luyện tập lâu dài, thông qua các bài viết hằng tháng (có sự sửa chữa của giáo viên). Ngoài ra, học sinh giỏi môn Lịch sử phải biết sử dụng triệt để các thao tác phân tích, tổng hợp để đánh giá, nhận định về một sự kiện hay vấn đề lịch sử, biết chọn ra những chi tiết, sự kiện lịch sử nào để chứng minh, giải thích theo yêu cầu của đề bài. Hơn nữa, học sinh ấy phải biết trình bày một bài làm sử có hệ thống, logic,… 2.1.2. Cách chọn học sinh giỏi. - Trƣờng THPT Lý Tự Trọng lâu nay chọn học sinh giỏi theo quy trình: Tổ chức thi tuyển chọn đội tuyển vào cuối mỗi năm học để bồi dƣỡng trong thời gian hè. Vào đầu mỗi năm học mới tiếp tục tổ chức thi chọn lần hai và tăng cƣờng bồi dƣỡng để tham gia dự thi các kì cấp tỉnh. Việc chuyển chọn nhƣ vậy tôi thấy hiệu quả nhƣng chỉ tốt với các môn tự nhiên, vì trƣờng tôi học sinh hệ A đều học ban khoa học tự nhiên, nên đối với bộ môn lịch sử tôi thấy việc tuyển lựa rất khó, do học sinh cứ xem thƣờng môn lịch sử cho đó là môn học phụ. Nên giáo viên dạy môn lịch sử phải lựa chọn đối tƣợng sau cùng. Những em có năng khiếu đặc biệt thƣờng thích ôn luyện các môn học tự nhiên. Vì có kiến thức cơ bản, vững vàng các em cần nắm rõ các công thức, quy tắc, định nghĩa, định lí rồi linh hoạt nhạy bén, áp dụng để làm bài. Còn các môn học ít tiết nhƣ lịch sử, địa lí cần học bài dài và nhiều nên phần đông các em rất chán. - Kết hợp với kết quả của các đợt thi học sinh giỏi, khi dạy trên lớp tôi thƣờng ra đề kiểm tra theo hƣớng mở hoặc đƣa ra những câu hỏi, bài tập nhận thức để khuyến khích học sinh có sự đầu tƣ, sáng tạo khi trả lời trƣớc tập thể lớp hay viết trong làm bài và thƣởng điểm cho những học sinh biết cách làm bài đúng theo yêu cầu và có sáng tạo. - Tôi tiến hành chọn những học sinh có khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề nhanh, đúng bản chất sự kiện, vấn đề lịch sử. Trong bài viết, tôi đặc biệt chú ý những bài học sinh trả lời đúng yêu cầu thể hiện nắm vững kiến thức, trình bày, lập luận logic, kết hợp chữ viết rõ ràng, nếu viết đẹp càng tốt. - Trong những năm gần đây, việc lựa chọn học sinh giỏi môn Lịch sử vào đội tuyển của trƣờng, tôi không chờ đợi đến kết quả của các kì thi cấp trƣờng vào cuối mỗi năm học, mà ngay khi dạy ở đầu năm lớp 10, hoặc qua các bài kiểm tra trong học kì I ở lớp 10, 11 phát hiện học sinh có năng khiếu, có sự yêu thích học Lịch sử tôi trực tiếp gặp các em để tìm hiểu tâm lý, khơi dậy ở học sinh niềm đam mê, giới thiệu các em tham gia vào đội tuyển để bồi dƣỡng. Phân tích cho các em niềm tự hào, hãnh diện khi đỗ đạt. Đã là học sinh giỏi cấp tỉnh, đặc biệt cấp Quốc gia có giải thì đƣơng nhiên bất cứ môn học nào cũng đƣợc hƣởng chế độ ƣu tiên ngang nhau và vinh quang nhƣ nhau. - Bên cạnh đó, tôi còn gặp các giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm thăm hỏi tình hình học tập của các em để chọn ra những học sinh có năng lực, có tố chất thông minh và làm siêng. Học sinh đó phải học khá các môn khác, nhất là môn Toán, Ngữ văn, vì môn lịch sử cũng cần ở học sinh khả năng phân tích, tƣ duy logic và kết hợp những kiến thức văn, thơ minh họa cho bài viết thêm sinh động, giảm sự khô khan nhàm chán gây đƣợc thiện cảm cho ngƣời đọc. - Trong tiến trình lựa chọn học sinh giỏi, có nhiều lúc tôi cảm thấy tiếc và buồn vì có những học sinh có năng lực, có sự đam mê nhƣng sợ gia đình không cho thi đại học khối C. Nhƣng hiện nay các em đạt giải Quốc gia đƣợc tuyển thẳng Đại học, Cao đẳng, điều này phần nào khuyến khích các em tự nguyện tiếp tục tham gia học bồi dƣỡng để dự thi (em Nguyễn Công Ly từ lớp 10 thi cấp tỉnh lớp 11 đạt giải, lớp 11 thi cấp tỉnh lớp 12 đạt giải và lớp 12 đạt giải Quốc gia - năm 2012). - Với cách lựa chọn nhƣ trên, trong 4 năm gần đây trƣờng tôi có số lƣợng HSG môn Lịch sử đạt giải cấp tỉnh khá cao: Năm học 2008 – 2009 – 2 giải tỉnh – 2 giải Quốc gia, 2009 – 2010 – 3 giải (trong đó có 2 em HS lớp 10 đạt giải lớp 11), 2010 – 2011 – 3 giải (có 1 em HS lớp 10 đạt giải lớp 11 và 1 em lớp 11 đạt giải lớp 12), 2011 – 2012 – 4 giải tỉnh – 1 giải Quốc gia (trong đó có 1 em HS lớp 10 đạt giải lớp 11). (xem thêm ở phần phụ lục 1) Vậy vấn đề đặt ra là cần phải phát hiện những học sinh có khả năng giỏi Lịch sử từ lúc nào? Nên tổ chức bồi dƣỡng từ lớp nào? Trên thực tế, có nhiều trƣờng khi chuẩn bị thi học sinh giỏi cấp tỉnh mới tập trung học sinh để ôn luyện, nhƣng theo tôi việc phát hiện và chọn học sinh giỏi phải làm sớm – đầu mỗi năm học mới; tổ chức bồi dƣỡng phải thƣờng xuyên, không nhất thiết phải thi để vào các lớp bồi dƣỡng mà ở các tiết học, các môn học các em cần phải quan tâm, đƣợc uốn nắn và phát hiện. 2.1.3. Yêu cầu một bài lịch sử đạt hiệu quả. - Phải biết suy luận. Bài làm môn lịch sử cần đi thẳng vào vấn đề, không viết dong dài, dẫn đến lạc đề. Hãy đọc kỹ đề bài, hiểu rõ câu hỏi và thiết kế những kiến thức đã học theo ý đồ của câu hỏi, đừng bắt câu hỏi phải đi theo kiến thức có sẵn của mình. Học sinh phải biết chọn ra những chi tiết, sự kiện lịch sử nào để chứng minh, giải thích theo yêu cầu của đề bài. - Không đƣợc phép làm bài theo kiểu nhớ mang máng. Môn Sử là một môn tuyệt đối kỵ với các khái niệm mù mờ. Ví dụ không đƣợc nhớ nhầm “Mặt trận dân tộc thống nhất” thành “Mặt trận thống nhất dân tộc”. Không đƣợc viết lẫn lộn giữa những chữ “đấu tranh”, "“chiến đấu”, “khởi nghĩa”… - Một bài sử hay là bài viết của học sinh đó biết thổi hồn vào những con số, phải tái hiện đƣợc sự kiện, hiện trƣợng, vấn đề lịch sử. 2.2. Xây dựng chương trình giảng dạy Ôn luyện học sinh giỏi không giống nhƣ tiết dạy ở lớp học bình thƣờng. Vì ở lớp ta dạy cho học sinh phù hợp với ba đối tƣợng (khá giỏi, trung bình và yếu kém). Song dạy cho học sinh giỏi là ta dạy để đƣa các em đi thi. Đối tƣợng dự thi đều ngang tầm nhau về mặt học lực, nhận thức. Vì vậy, việc xây dựng nội dung chƣơng trình là hết sức cần thiết. Đây là công việc quan trọng đầu tiên sau khi thành lập đội tuyển. Tôi xây dựng chƣơng trình – kế hoạch bồi dƣỡng theo tiến trình phát triển của lịch sử gồm 2 phần nhƣ sau: 1) PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI a) Lịch sử thế giới cổ đại. b) Lịch sử thế giới trung đại. c) Lịch sử thế giới cận đại. d) Lịch sử thế giới hiện đại. 2) PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM a) Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỉ X. b) Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX. c) Lịch sử Việt Nam từ1858-1918. d) Lịch sử Việt Nam từ 1919-2000. * Giai đoạn Việt Nam từ (1919-1930). * Giai đoạn Việt Nam từ (1930-1945). * Giai đoạn Việt Nam từ (1945-1954). * Giai đoạn Việt Nam từ (1954-1975). * Giai đoạn Việt Nam từ (1975-2000). * Soạn hệ thống câu hỏi và bài tập lịch sử (chú trọng bài tập nâng cao) để luyện tập cho mỗi phần dạy. (xem thêm ở phần phụ lục 2) Ngoài ra, tôi tập trung biên soạn các chuyên đề nâng cao trong chƣơng trình để bổ sung kiến thức cho học sinh khi bồi dƣỡng nhƣ: Chuyên đề Cách mạng tƣ sản, chuyên đề về phong trào công nhân; chuyên đề về Nguyễn Ái Quốc, chuyên đề Đảng cộng sản Việt Nam,... 2.3. Tiến hành bồi dưỡng 2.3.1. Cung cấp kiến thức Phân phối chƣơng trình và yêu cầu kiến thức trong chƣơng trình lịch sử ở trƣờng THPT chỉ dừng lại ở mức độ nhất định, nên bài giảng trong SGK đều nhằm mục đích cung cấp kiến thức cơ bản về tiến trình lịch sử thế giới và Việt Nam theo diện rộng, chƣa đi vào chiều sâu. Đối với HSG yêu cầu phải hiểu biết sâu sắc và toàn diện. Các em phải nắm chắc bản chất các sự kiện, hiện tƣợng lịch sử, các vấn đề lịch sử,… để có đủ tự tin, có sự sáng tạo khi giải quyết bất kì đề thi nào. Một việc quan trọng để cung cấp kiến thức cho học sinh là chọn và giới thiệu những tài liệu đảm bảo chất lƣợng cho các em. Thị trƣờng sách hiện nay khá phong phú, hay dở đan xen, nhƣng quỹ thời gian của học sinh thì có hạn, nên tôi chọn và mua hoặc phô tô cho học sinh các sách nhƣ: Sách giáo khoa của Ban khoa học xã hội (chƣơng trình cũ), Sách lịch sử Nâng cao (chƣơng trình mới), sách giáo trình,… Trong chƣơng trình bồi dƣỡng, tôi kết hợp dạy kỹ hệ thống kiến thức cơ bản theo chuẩn kiến thức, kỹ năng bằng việc lựa chọn những sự kiện, những vấn đề lịch sử trọng tâm cho các em rồi tiến hành mở rộng kiến thức bằng các chuyên đề nâng cao. Các chuyên đề của tôi viết không giống nhƣ một tiểu luận hay luận văn lịch sử mà đi sâu làm rõ đƣợc hoàn cảnh lịch sử, nội dung bản chất của các vấn đề lịch sử, các giai đoạn lịch sử; mối quan hệ giữa quá khứ - hiện tại - tƣơng lai. Đảm bảo cho học sinh đạt đƣợc mức độ về kiến thức lo-gíc là: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá và sáng tạo, chứ không phải nhồi nhét kiến thức cho học sinh. Một số Chuyên đề tôi viết để phục vụ cho việc bồi dƣỡng HSG: - Phần lịch sử thế giới: + Văn hóa cổ đại. + Phát kiến địa lí. + Cách mạng tƣ sản (thời cận đại). + Phong trào công nhân (cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX). + Chủ nghĩa đế quốc. + Chủ nghĩa xã hội khoa học. + Cách mạng tháng Mƣời Nga và công cuộc xây dựng CNXH ở Liên Xô,… - Phần lịch sử Việt Nam: + Những chiến thắng nổi tiếng trong lịch sử dân tộc. + Phong trào Cần Vƣơng. + Phong trào yêu nƣớc trƣớc khi có Đảng. + Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam. + Nguyễn Ái Quốc và vai trò của Ngƣời đối với cách mạng Việt Nam. + Cách mạng tháng Tám năm 1945. + Vai trò của Hậu phƣơng trong cách mạng Việt Nam (1945 - 1975),… + Đấu tranh ngoại giao trong cách mạng Việt Nam (từ năm 1945 đến nay) Những kiến thức từ các chuyên đề là công cụ giúp học sinh giải quyết tốt các loại đề thi. Tôi tiến hành dạy từng chuyên đề phù hợp với khả năng và chƣơng trình của từng khối lớp cho học sinh bồi dƣỡng. Sau khi dạy xong một chuyên đề, một bài lịch sử, tôi yêu cầu học sinh phải dành một khoảng thời gian để suy nghĩ, nhìn nhận vẫn đề đó, đặc biệt là ý nghĩa của sự kiện đó với giai đoạn trƣớc và sau nó. Ví dụ: nhƣ khi học về Cần Vƣơng thì hãy đối chiếu nó với phong trào chống Pháp trong những năm 1858 - 1884 hay phong trào dân chủ tƣ sản đầu thế kỷ XX hay nhƣ khi học về cuộc vận động dân chủ 1936-1939 thì phải tìm hiểu xem nó giống và khác gì so với phong trào 1930-1931 hay về sau là với cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939-1945 ... Làm nhƣ vậy sẽ giúp học sinh nhớ đƣợc kiến thức và nếu gặp các dạng bài hệ thống, so sánh ... học sinh làm bài đạt hiệu quả cao hơn. Theo tôi, để một học sinh đƣợc tham gia dự thi HSG môn Lịch sử các cấp học sinh đó phải nắm vững kiến thức cơ bản của bộ môn Lịch sử – Kiến thức cơ bản ở đây không chỉ là những sự kiện đơn lẻ mà phải bao gồm hệ thống những hiểu biết cần thiết về những sự kiện, niên đại, nhân vật, địa danh, các nguyên lý, quy luật, những kết luận khái quát, phƣơng pháp, kỹ năng. Vì vậy, khi nắm vững kiến thức học sinh mới có khả năng ứng phó đƣợc với các loại câu hỏi, bài tập. 2.3.2. Rèn luyện kỹ năng 2.3.2.1. Kỹ năng tìm hiểu tài liệu Nội dung chƣơng trình lịch sử quá rộng, tôi không đủ thời gian để dạy từng bài trong SGK, nên việc hƣớng dẫn học sinh tìm hiểu trƣớc bài trong SGK là rất quan trọng. Sách giáo khoa lịch sử THPT đƣợc biên soạn – trình bày theo bài, theo tiến trình thời gian. Tôi đã hƣớng dẫn học sinh nắm đƣợc mục đích – yêu cầu, những sự kiện quan trọng và trọng tâm kiến thức của từng bài học lịch sử từ lớp 10 đến lớp 12. Trên cơ sở đó các em về nhà tìm hiểu kỹ sách giáo khoa và trả lời những câu hỏi trong SGK yêu cầu. Với cách làm trên khi ôn luyện cho học sinh tôi chỉ tập trung phân tích chuyên sâu những nội dung lịch sử. Để tìm hiểu tài liệu đạt hiệu quả học sinh cần phải: 1.Nắm đề: Đề ở đây là tên đề bài, tên tiểu mục. Nhiều học sinh học thuộc nội dung nhƣng lại không nhớ tên tiểu mục, khi làm bài có thể “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, nghĩa là lạc đề. Vậy trƣớc khi học tiểu mục nào, nên nắm chắc tên tiểu mục ấy. Chuyển tiểu mục ấy thành câu hỏi. Ví dụ nhƣ “Ba tổ chức Đảng cộng sản nối tiếp nhau ra đời năm 1929”. Tự đặt ra câu hỏi nhƣ: “Ba tổ chức cộng sản ấy tên là gì? Tại sao ra đời? Bao giờ? Ở đâu? Có ý nghĩa gì?” Nhƣ vậy kích thích hứng thú học tập, hiểu sâu, nhớ lâu. Đó là chủ động trong học tập. 2.Nắm khung: Khung là dàn ý của cả bài hoặc của từng phần. Trƣớc khi học cả bài hay từng phần nên nắm chắc cái dàn ý của nó. Dàn ý thƣờng theo giai đoạn hoặc theo sự kiện, bao gồm: nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa. Nắm khung giúp nhớ có hệ thống và nhớ lâu, dễ trả lời những câu hỏi tổng hợp. 3.Nắm chốt: Lịch sử bao giờ cũng gắn liền sự kiện – địa danh – nhân vật lịch sử. Nên “chốt” là thời điểm gắn với một sự kiện quan trọng hoặc tƣơng đối quan trọng. Ở lịch sử lớp 12 yêu cầu học sinh phải nhớ cả ngày, tháng, năm. Nếu chỉ là tƣơng đối quan trọng, có thể chỉ cần nhớ tháng và năm, thậm chí chỉ nhớ năm, cũng tạm đƣợc. Nên tìm các mối quan hệ giữa các chốt về thời gian và sự kiện thì dễ nhớ và nhớ lâu. 4.Thuật ngữ: Cần phải nhớ đúng những thuật ngữ lịch sử, không đƣợc nhầm lẫn giữa một số thuật ngữ “đấu tranh”, “chiến đấu”, “khởi nghĩa”,…vì mỗi chữ có một nghĩa khác nhau. 2.3.2.2. Kỹ năng phân tích đề Về các Đề thi HSG thƣờng có mấy loại sau đây: - Loại đề hệ thống kiến thức lịch sử, nhằm nêu một số kiến thức cơ bản nhất để qua đó phác họa bức tranh chung về một thời kỳ, một sự kiện lịch sử. Song đây không phải là liệt kê kiến thức đơn thuần mà yêu cầu học sinh biết lựa chọn một số sự kiện chủ yếu, tiêu biểu, đƣợc hệ thống hóa để làm toát lên một chủ đề nhất định. Ví dụ: Lập bảng kê các các nƣớc tham gia khối ASEAN theo nội dung sau: STT Tên nƣớc Thủ đô Ngày giành độc lập Nét nổi bật trong tình hình hiện nay Khi lập bảng hệ thống hóa kiến thức, học sinh phải đọc kỹ đề, hiểu rõ vấn đề đƣợc đặt ra để lựa chọn những kiến thức phù hợp. Lập bảng hệ thống hóa kiến thức cần phải chia ra các cột, nội dung mỗi cột là một đề mục các cột hợp thành hệ thống, giải quyết chủ đề đƣợc đặt ra. Một số học sinh không đƣợc hƣớng dẫn kỹ thƣờng viết thành bài tự luận. - Loại đề thi tự luận: Có nhiều dạng yêu cầu theo mẫu tự luận Ví dụ 1: Vì sao Hội nghị BCH TW Đảng (11/1939) chủ trƣơng chuyển hƣớng chỉ đạo chiến lƣợc? Trình bày nội dung và ý nghĩa của Hội nghị này. Ví dụ 2: Vì sao ta mở chiến dịch Biên giới thu - đông 1950? Chiến dịch này có bƣớc tiến gì so với chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947? Ví dụ 3: Nêu ý nghĩa quốc tế của cách mạng tháng Mƣời Nga năm 1917. Cách mạng tháng Mƣời Nga thành công đã tác động đến cách mạng Việt Nam nhƣ thế nào? Các loại đề thi nhƣ trên không chỉ yêu cầu học sinh phải nhận biết chính xác sự kiện, nhận thức đúng bản chất lịch sử mà còn đòi hỏi học sinh thể hiện khả năng lập luận, trình bày, diễn đạt tốt. Ngoài ra còn có loại đề thi có câu hỏi đặt ra để lý giải một vấn đề đã đƣợc xác định, hoặc bình luận, chứng minh câu nói nổi tiếng của một nhân vật lịch sử bằng những quan điểm, bằng các sự kiện. Ví dụ 1: Vì sao Lênin nói cách mạng tƣ sản Pháp (1789) là “Cuộc đại cách mạng”? Ví dụ 2: Chứng minh: Cách mạng tƣ sản Pháp (1789) phát triển theo hƣớng đi lên. Loại đề thi trên tƣơng đối khó, tôi hƣớng dẫn, yêu cầu học sinh phải đọc kỹ và hiểu đúng câu nói của nhân vật, một nhận định, đánh giá và sử dụng những sự kiện lịch sử cụ thể, chính xác để chứng minh. Loại đề nhận thức lịch sử: Là đề theo một chủ đề hay vấn đề lịch sử nhất định đƣợc đặt dƣới dạng câu hỏi yêu cầu cần giải đáp. Loại đề này thƣờng có nội dung khó, yêu cầu học sinh phải suy nghĩ nhiều, hiểu biết kiến thức lịch sử chính xác, hệ thống; học sinh phải có năng lực độc lập suy nghĩ để giải quyết vấn đề nêu ra, học sinh phải có trình độ tƣ duy cao, có khả năng lập luận, lý giải vấn đề. Các dạng thƣờng gặp nhƣ: + Đề thi xác định, phân tích tính chất của sự kiện lịch sử: Ví dụ: Trình bày hoàn cảnh lịch sử, nội dung chính sách kinh tế mới (NEP) của nƣớc Nga Xô viết. + Đề thi về xác lập mối quan hệ nhân quả giữa các sự kiện lịch sử: Ví dụ: Hãy sắp xếp theo trình tự thời gian các sự kiện chủ yếu từ khi Nguyễn Ái Quốc về nƣớc (1941) trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến khi Cách mạng tháng Tám thành công và giải thích mối quan hệ giữa các sự kiện lịch sử này? Loại đề thi này yêu cầu học sinh phải suy nghĩ kỹ, nếu không sẽ dễ nhầm lẫn với loại đề hệ thống hóa kiến thức cơ bản đã trình bày trên. Đề thi yêu cầu thí sinh không chỉ ghi nhớ các sự kiện lịch sử theo tiến trình thời gian mà điều quan trọng là thí sinh phải lý giải mối quan hệ giữa các sự kiện đã đƣợc lựa chọn. + Đề thi xác định tính kế thừa giữa các sự kiện lịch sử, giai đoạn, thời kì lịch sử: Đề yêu cầu học sinh phải hiểu rõ quá trình phát triển liên tục, thống nhất, tính phong phú, đa dạng, cụ thể của các sự kiện, giai đoạn, thời kì lịch sử. Khi làm loại đề này, học sinh phải nắm vững một vấn đề có tính quy luật trong sự phát triển của lịch sử. Sự kiện xảy ra trƣớc tác động đến sự ra đời và phát triển của sự kiện tiếp sau, chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Đề thi xác định tính kế thừa giữa các sự kiện trong quá trình lịch sử cũng nhƣ loại đề thi về mối quan hệ nhân quả giữa các sự kiện, song nó tập trung hơn vào một sự kiện chính; nó nâng cao hơn về mặt khái quát – lý luận. Ví dụ: Trên cơ sở trình bày mục đích của Hội Duy Tân và Việt Nam Quang phục hội, anh (chị) hiểu gì về tƣ tƣởng cứu nƣớc của Phan Bội Châu? - Loại bài thi thực hành lịch sử: Yêu cầu học sinh không chỉ có biểu tƣợng lịch sử chính xác, giàu hình ảnh mà còn biết vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống, lao động và công tác xã hội. Vì vậy, nội dung bài thi thực hành lịch sử giúp học sinh rèn luyện kỹ năng bộ môn. Những số liệu, câu hỏi đƣa ra trong bài làm cần ngắn gọn, rõ ràng, đầy đủ, dễ hiểu và giải quyết đƣợc vấn đề đặt ra. Đề thi thƣờng gặp vẽ bản đồ, lƣợc đồ gồm sử dụng bản đồ câm đến vẽ và trình bày theo bản đồ. Ví dụ 1: Dùng bản đồ câm các nƣớc Đông Nam Á vào nửa sau thế kỉ XX, ghi tên nƣớc, ngày giành độc lập và tên thủ đô. Ví dụ 2: Vẽ bản đồ và tƣờng thuật (viết) diễn biến cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. Để giải quyết đƣợc những dạng đề nhƣ trên khâu quan trọng là việc phân tích đề, bởi vì phân tích đề tốt sẽ giúp học sinh xác định, lựa chọn đúng kiến thức, lập dàn ý dễ dàng. Phân tích đề đúng sẽ tránh trƣờng hợp lạc đề, lệch đề. Cấu tạo đề thi học sinh giỏi hiện nay rất nhiều câu, nhiều dạng đề, đòi hỏi học sinh phải tƣ duy và xử lý nhanh các kỹ năng phân tích đề, phân bố thời gian, xác định thời gian, không gian, nội dung lịch sử và yêu cầu của câu hỏi … sao cho phù hợp là kỹ năng cần rèn luyện thƣờng xuyên. 2.3.2.3. Kỹ năng làm bài - Phân tích câu hỏi trong đề thi Phải đọc hết và hiểu chính xác từng từ, từng chữ trong câu hỏi. Trong đề thi, một câu hỏi chặt chẽ sẽ không có từ nào là “thừa”. Đọc kĩ câu hỏi để xác định thời gian, không gian, nội dung lịch sử và yêu cầu của câu hỏi (trình bày, so sánh, giải thích, phân tích, đánh giá...) - Phân bố thời gian cho hợp lí. Hãy căn cứ vào điểm số của từng câu mà tính thời gian, mỗi điểm khoảng 15 phút là phù hợp. - Lập dàn ý chi tiết Hãy coi mỗi câu hỏi nhƣ một bài viết ngắn, lập dàn ý, xác định những ý chính và trình tự của các ý. Sau đó hãy “mở bài”, đừng mất nhiều thời gian suy nghĩ về “mở bài”. Khi đã xác định đúng nội dung sẽ biết mở bài thế nào, và nên mở bài trực tiếp, ngắn gọn – không quá 10 dòng. Sau khi viết hết nội dung, khắc sẽ biết kết luận. Đừng nghĩ trƣớc kết luận, và cũng chỉ nên kết luận thật ngắn gọn. Về hình thức, không phải ai cũng viết đƣợc chữ đẹp, câu hay, nhƣng hãy cố gắng viết cho rõ ràng, đúng câu, đúng chính tả, đừng dùng từ sáo rỗng, dài dòng, đừng viết tắt. Hãy luôn nhớ: Đúng, đủ, rõ ràng, lời văn giản dị, trình bày khoa học. Tuyệt đối không đƣợc viết tùy tiện, rƣờm rà. Khuyến khích học sinh có thể dẫn chứng thơ, văn, những nhận định, đánh giá,… để minh họa trong quá trình làm bài thi. *Lưu ý: Để làm một bài thi lịch sử đạt hiệu quả cao học sinh phải: 1. Hiểu đề: Đọc thật kĩ từng chữ trong câu hỏi để hiểu rõ ngƣời ta hỏi vấn đề gì? Phạm vi thời gian của câu hỏi là từ năm nào đến năm nào? Nhƣ vậy tránh đƣợc lạc đề hoặc thiếu ý. 2.Dựng khung: Dù thuộc đến mấy cũng không viết ngay vào giấy thi. Hãy viết dàn ý vào giấy nháp sao cho thật đầy đủ và có hệ thống, đáp ứng yêu cầu của câu hỏi. 3.Cắm chốt: Ở mỗi phần của dàn ý ấy, ghi những chốt, nghĩa là sự kiện quan trọng cùng với thời điểm của nó. Nhƣ vậy bài làm sẽ không bỏ sót những sự kiện quan trọng. 4.Viết sạch: Viết vào giấy thi một cách sáng sủa, dễ đọc. Hết mỗi ý chính, mỗi sự kiện nên xuống dòng. Thấy cần thiết để làm nổi bật từng giai đoạn, từng sự kiện, từng ý nghĩa có thể ghi 1, 2, 3 hoặc a, b, c hoặc gạch đầu dòng, vì Lịch sử là một môn khoa học xã hội, có thể trình bày một cách có hệ thống. Nhƣ vậy cũng dễ cho ngƣời chấm. Bài thi lịch sử trong những năm gần đây nhiều câu nên học sinh không đƣợc chủ quan, viết quá dài - rƣờm rà. Chữ nào sai thì gạch đè lên, không nên xoá lem nhem, không đƣa vào ngoặc đơn. Nếu trót thiếu cả một đoạn dài, có thể ghi bổ sung xuống cuối bài. Phải chia thời gian để trả lời đủ các câu hỏi, tránh đầu voi đuôi chuột. 5.Đọc lại: Phải tính toán thời gian, để khi viết bài xong, vẫn còn độ 10, 15 phút. Nhất thiết phải đọc lại bài để sửa chữa những chỗ sai sót nhầm lẫn rồi mới nộp bài. Đọc lại là khâu rất quan trọng để bài thi đƣợc điểm cao hơn. 2.3.2.4. Chấm và sửa bài Một học sinh giỏi không chỉ nắm vững kiến thức lịch sử, vững kỹ năng mà còn có sự sáng tạo. Vì vậy, trong quá trình bồi dƣỡng cho học sinh tôi thƣờng xuyên quan tâm đến việc chấm và sửa bài cho học sinh. Bài viết cần phải đƣợc sửa chữa, chỉ bảo cụ thể, để phát huy những cái hay, sửa sai kịp thời những cái dở, để có sự nhìn nhận đánh giá một cách công bằng, khách quan mỗi khi tuyển lựa đội tuyển chính thức đi dự thi. Sau khi dạy một chuyên đề, hay một giai đoạn lịch sử tôi thƣờng tổ chức kiểm tra để chấm và sửa bài cho học sinh. Kiểm tra có thể cho bài tập các em về nhà làm, quy định thời gian nộp bài, nhƣng theo tôi tốt nhất là cho học sinh làm bài kiểm tra ngay trên lớp bồi dƣỡng. Ngoài ra tôi còn khuyến khích học sinh có thể tự tìm đề để viết rồi đƣa cho thầy cô sửa giúp, sau đó viết lại nhuần nhuyễn. Cách này giúp học sinh tăng khả năng trình bày, diễn đạt của bạn và tạo thêm kỹ năng ứng phó tốt với mọi loại đề. 2.4. Khả năng áp dụng Đề tài có tính khả thi, có thể áp dụng lâu dài và rộng rãi cho giáo viên dạy bồi dƣỡng học sinh giỏi bộ lịch sử ở trƣờng THPT Kết quả học sinh giỏi môn lịch sử của trƣờng THPT Lý Tự Trọng đạt đƣợc liên tục trong 8 năm qua (17 giải cấp tỉnh, 4 giải cấp quốc gia) là cơ sở để tôi nghiên cứu, thực hiện đề tài này và sẽ áp dụng vào công tác giảng dạy, bồi dƣỡng đội tuyển HSG của trƣờng trong những năm học tiếp theo. 2.5. Lợi ích kinh tế - xã hội - Đề tài thực hiện không tốn kém về mặt kinh tế mà còn thực hiện tốt cho quá trình dạy bồi dƣỡng đội tuyển HSG cho các trƣờng THPT. Đề tài cung cấp cho giáo viên có tâm huyết với bộ môn lịch sử hƣớng đi và cách thức thực hiện việc bồi dƣỡng học sinh giỏi đạt hiệu quả. - Đề tài còn giúp cho những học sinh yêu thích và có năng khiếu lịch sử, học sinh thi Đại học khối C sẽ thực hiện đƣợc ƣớc mơ. C. KẾT LUẬN Qua nghiên cứu trình bày ở trên tôi khẳng định mục đích nghiên cứu đặt ra đã đƣợc hoàn tất. Trong quá trình nghiên cứu tôi xin rút ra một số kết luận sau: - Để bồi dƣỡng học sinh giỏi Lịch sử đạt hiệu quả trƣớc hết phải có những giáo viên vững về kiến thức, kỹ năng thực hành lịch sử. - Thực sự yêu nghề, tâm huyết với công việc bồi dƣỡng học sinh giỏi. Niềm đam mê là yếu tố rất cần thiết khi bạn muốn dạy tốt và có học sinh học tốt môn Lịch sử. - Thƣờng xuyên học hỏi trau dồi kiến thức, đọc sách báo để ngày càng làm phong phú thêm vốn kiến thức của mình. - Có phƣơng pháp nghiên cứu bài, soạn bài, ghi chép giáo án một cách khoa học. - Tham khảo nhiều sách báo tài liệu có liên quan, giao lƣu học hỏi các bạn đồng nghiệp có nhiều kinh nghiệm, các trƣờng có bề dày thành tích. - Tạo sự giao tiếp cởi mở, thân thiện với học sinh, mẫu mực trong lời nói, việc làm, thái độ, cử chỉ có tâm hồn trong sáng lành mạnh để học sinh noi theo. - Giáo viên phải khơi dậy niềm say mê, hứng thú của học sinh đối với môn học Lịch sử, luôn phối hợp với gia đình để tạo điều kiện tốt nhất cho các em tham gia học tập. Trong quá trình nghiên cứu, xuất phát từ cơ sở lý luận và thực trạng công tác bồi dƣỡng học sinh giỏi môn lịch sử ở Trƣờng THPT Lý tự Trọng - tỉnh Bình Định. Đề tài xin mạnh dạn đề xuất một số biện pháp có tính thực tiễn phù hợp với tình hình bồi dƣỡng học sinh giỏi lịch sử hiện nay. - Tổ chức bồi dƣỡng học sinh giỏi môn lịch sử. + Phát hiện những học sinh có khả năng trở thành học sinh giỏi lịch sử. + Bồi dƣỡng kiến thức lịch sử. + Bồi dƣỡng kỹ năng tìm hiểu tài liệu lịch sử. + Bồi dƣỡng kỹ năng phân tích đề. + Bồi dƣỡng kỹ năng làm bài thi lịch sử. Đề tài triển khai nghiên cứu ở Trƣờng THPT Lý Tự Trọng – tỉnh Bình Định đƣợc tập thể giáo viên trong Tổ chuyên môn: Văn – Sử - GDCD tán thành. Đề tài chỉ có tác dụng trả lời câu hỏi làm thế nào để nâng cao hiệu quả bồi dƣỡng học sinh giỏi môn lịch sử ở trƣơng THPT. Hy vọng các biện pháp đề ra sẽ có thể áp dụng tốt ở các trƣờng THPT. Kiến nghị: - Đối với Ban giám hiệu nhà trƣờng nên tổ chức thi chọn đội tuyển và bồi dƣỡng học sinh giỏi ngay từ đầu lớp 10 chú trọng hơn công tác khảo sát, lựa chọn học sinh vào lớp bồi dƣỡng học sinh giỏi. - Chuyên môn nhà trƣờng nên tổ chức các buổi ngoại khoá lịch sử báo cáo kinh nghiệm học tập bộ môn...
- Xem thêm -