Skkn giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học tiếng anh ở trường tiểu học

  • Số trang: 25 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 138 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh ở trường tiểu học I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài Tiếng Anh là công cụ giao tiếp quan trọng trong việc hoà nhập với cộng đồng quốc tế và khu vực. Đất nước ta đang trên đường đổi mới, chúng ta đang quyết tâm công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, mở rộng quan hệ với nhiều nước khác. Do vậy việc dạy và học ngoại ngữ nói chung và môn Tiếng Anh nói riêng ngày càng được coi là công cụ đắc lực cho quá trình hội nhập. Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã, đang không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ thông qua việc đổi mới toàn diện những năm tiếp theo. Đề án dạy và học ngoại ngữ mà Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD-ĐT) đề ra sẽ đổi mới toàn bộ hệ thống giảng dạy ngoại ngữ từ trước tới nay, từ chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá đến việc bảo đảm đủ đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất phục vụ dạy và học ngoại ngữ… Mấy năm học qua, Sở GD và ĐT đã tạo điều kiện cho các giáo viên Tiếng Anh các cấp tiểu học, THCS và THPT đi học tập, bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn, đồng thời đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học cho các trường thí điểm. Việc dạy ngoại ngữ sẽ bắt đầu từ lớp 3 với thời lượng 4 tiết trên tuần. Để đáp ứng cho việc đổi mới này và thực hiện đúng ý nghĩa mà đề án đổi mới dạy học ngoại ngữ của Bộ GDĐT đề ra đòi hỏi mỗi giáo viên cần có sự đổi mới trong cách dạy của chính mình. Về phía học sinh, các em còn bỡ ngỡ với môn học này. Có những em chưa đọc viết thông thạo tiếng mẹ đẻ, nên đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với ngôn ngữ nước ngoài. Ngoài ra Anh văn là bộ môn đòi hỏi các em phải có chút năng khiếu học ngoại ngữ, mà năng khiếu phần lớn rơi vào các em học khá, giỏi, còn các em với mức trung bình, yếu thì nay quả là một công việc nặng nề với các em. Mặt khác, kết quả môn Anh không ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học văn hóa, không lấy bộ môn này làm tiêu chí đánh giá xếp loại học lực, vì vậy các em cảm thấy không cần thiết và dẫn đến sao nhãng việc học tập, với suy nghĩ “Vui thì học, không thì thôi”, dần dần tạo ra sự chán học của phần lớn học sinh. Trên thực tế việc dạy và học môn Tiếng Anh tuy không còn mới mẻ nhưng khó đối với tất cả giáo viên và học sinh. Với việc nghiên cứu đề tài này, tôi mong muốn sẽ phần nào giúp giáo viên dần khắc phục những khó khăn trên để tiến hành dạy môn Tiếng Anh có hiệu quả tốt hơn, học sinh tích cực, chủ động trong việc tiếp thu, lĩnh hội kiến thức của bài học. Nhận thức được tầm quan trọng đó, tôi - giáo viên dạy 1 Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh ở trường tiểu học Tiếng Anh cấp TH có trách nhiệm trang bị cho các em học sinh vốn kiến thức cơ bản, vững vàng để các em có thể học tốt môn Tiếng Anh. Vì thế năm học này tôi chọn đề tài : “Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh ở trường tiểu học”. 2. Đối tượng, thời gian và phạm vi nghiên cứu: a. Đối tượng nghiên cứu : - Đối tượng nghiên cứu là hai lớp 3A và lớp 4A. - Sách giáo khoa Tiếng Anh 3,4,5. Sách bài tập tiếng Anh 3,4,5. b. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 năm 2012 đến tháng 1 năm 2013. c. Phạm vi nghiên cứu: Có thể áp dụng cho các học sinh ở trường tiểu học” 3. Mục đích nghiên cứu: - Tìm hiểu về các giải pháp nâng cao việc dạy và học Tiếng Anh cho giáo viên và học sinh. - Tìm hiểu về thực trạng học tập của học sinh nói chung và nói riêng. - Nghiên cứu các phương pháp tối ưu để giáo viên có thể áp dụng khi cho học sinh thực hành tại lớp có hiệu quả. - Các bước tiến hành một tiết dạy có hiệu quả qua việc thay đổi một số phương pháp dạy cho học sinh dễ dàng tiếp thu bài học. Đồng thời hướng dẫn học sinh tự luyện tập, rèn luyện để có kỹ năng , kỷ xảo khi học Tiếng Anh.. Vì vậy việc thực hiện phương pháp này nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Anh. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện tốt đề tài nghiên cứu, người thực hiện đề tài này cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau: 1- Nghiên cứu các tài liệu hướng dẫn Tiếng Anh, các kỹ thuật dạy Tiếng Anh 2- Thao giảng, dạy thử nghiệm 3- Dự giờ đồng nghiệp , trao đổi, rút kinh nghiệm. 4- Kiểm tra, đánh giá kết quả việc nắm bài của học sinh để từ đó có sự điều chỉnh, bổ sung hợp lý. 5. Giả thiết khoa học của đề tài: Từ thực trạng việc học của học sinh ở trường, tôi nhận thấy các em còn lúng túng, chưa chủ động tích cực tham gia bài học, chưa linh hoạt trong các hoạt động trên 2 Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh ở trường tiểu học lớp. Vậy liệu các em có thể tham gia bài học một cách tích cực hay không là nhờ vào việc đổi mới nâng cao việc dạy của giáo viên. Nếu dùng các giải pháp để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học cho các em thì chất lượng học tập của học sinh sẽ có hiệu quả cao hơn. 6. Phương pháp nghiên cứu: - Áp dụng đúc rút kinh nghiệm thực tế giảng dạy. - Tham khảo tài liệu phương pháp thực hành có liên quan đến đề tài... - Tham khảo kinh nghiệm của các đồng nghiệp, dự giờ, trao đổi ý kiến... - Tổ chức và tiến hành dạy thực nghiệm. Soạn giáo án giảng dạy để kiểm tra tính khả thi của đề tài. - Sau đó giáo viên đặt câu hỏi để kiểm tra việc nắm nội dung bài học của học sinh. 7. Đề tài đưa ra giải pháp mới : - Trước khi đi vào những vấn đề cụ thể, chúng ta thống nhất với nhau rằng, phương pháp chủ đạo trong dạy học ngoại ngữ của chúng ta là lồng ghép. Việc lồng ghép các thủ thuật trong việc giảng dạy, cũng như việc phân chia cặp nhóm ... đều cần có sự kết hợp hài hoà, xen kẽ lẫn nhau sao cho phù hợp và hiệu quả là điều rất khó khăn. - Khắc sâu bài học trong trí nhớ của học sinh thông qua các mẫu câu và qua những bài tập thực hành. 8. Hiệu quả áp dụng: - Các tiết học trở nên sôi nổi và sinh động hơn. - Học sinh đã tiếp thu bài nhanh và thuộc bài ngay tại lớp học. - Vốn từ vựng của các em tăng lên rõ rệt. - Các em học sinh yếu kém có thể tự tin hơn, năng động hơn. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lý luận Hiện nay việc dạy và học ngoại ngữ trong các trường TH có nhiều chuyển biến rõ rệt. Học sinh cấp I, kể cả các vùng sâu vùng xa các em đều được học ngoại ngữ. Giáo viên được huấn luyện hàng năm do sở GD-ĐT và phòng GD-ĐT tổ chức vào giữa kỳ hoặc kỳ nghỉ hè nhằm nâng cao trình độ chuyên môn và đổi mới phương pháp dạy 3 Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh ở trường tiểu học học để nâng cao chất lượng bộ môn. Trong tất cả các trường học ở vùng sâu vùng xa tài liệu và thiết bị dạy học được đưa vào ngày càng hoàn thiện hơn, giúp cho giờ học đạt hiệu quả hơn và học sinh có hứng thú học tập hơn. Tuy nhiên do trình độ học sinh không đồng đều. Môi trường học ngoại ngữ các em có ít dịp tiếp xúc nói chuyện với người nước ngoài hoặc người nói Tiếng Anh ở nhà. Nên việc phát triển kỹ năng nói thành thạo ở các em còn nhiều khó khăn. Hơn nữa, hiện nay tình trạng xao lãng việc học, học sinh học đối phó học vẹt mà không biết tự học, học sinh yếu kém khá nhiều. Làm thế nào để khắc phục tình trạng này? Làm thế nào để thu hút học sinh chú tâm vào việc học là vấn đề đòi hỏi người làm giáo dục, các thầy cô tâm huyết với nghề, luôn nỗ lực đề ra kế hoạch, chương trình, cải tiến phương pháp để dạy và học tốt hơn, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục. Để dạy tiết dạy Tiếng Anh đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị và đầu tư trên lớp, thậm chí phải có quá trình tích lũy kinh nghiệm qua thời gian mới có thể đạt hiệu quả và thuyết phục học sinh, làm cho các em thực sự hứng thú và tin tưởng. Vì vậy, với đề tài này tôi đưa ra những suy nghĩ của mình với mong muốn góp phần trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ học tập lẫn nhau để cùng tiến bộ. Đó cũng là nội dung, mục đích hướng tới của sáng kiến kinh nghiệm. 2. Cơ sở thực tiễn: Phần lớn các em học sinh chưa chú tâm và đầu tư cho môn Tiếng Anh, chuẩn bị bài một cách sơ sài, đối phó trong khi các em học rất yếu môn này. Trong các giờ học, đa số các em thường thụ động, thiếu sự linh hoạt, ngại việc đọc - nói Tiếng Anh và ít tham gia phát biểu để tìm hiểu bài học. - Học sinh tiểu học là những trẻ em, mức độ nhận thức của các em còn thấp, chất lượng học tập bộ môn không đồng bộ. Thêm nữa, học sinh ở vùng nông thôn chỉ quen cách học cũ ít đọc thêm sách báo phù hợp lứa tuổi để mở rộng bổ sung, nâng cao kiến thức. Đồng thời đây là những năm đầu làm quen với một ngoại ngữ, trong khi vẫn có một số lượng không nhỏ học sinh còn chưa học tốt tiếng mẹ đẻ của mình. - Hơn nữa Tiếng Anh ở bậc tiểu học chỉ là môn học phụ tự chọn, thế nên bản thân học sinh và ngay cả phụ huynh cũng không quan tâm đến bộ môn này, họ chỉ đầu tư cho con mình học nâng cao môn Toán, Tiếng việt, …. 4 Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh ở trường tiểu học Tuy Tiếng Anh ở bậc tiểu học là môn học tự chọn. Song, nó có tính chất khởi đầu quan trọng trong các năm học tiếp theo ở cấp II. Vì thế nó giữ một vai trò không nhỏ trong quá trình học tập của các em. Nó trang bị cho các em vốn từ vựng, ngữ pháp và những mẫu câu tối thiểu. Vì thế việc nâng cao chất lượng học tập cho các em là điều quan trọng. Bởi lẽ không có động cơ trẻ sẽ không học - và để chất lượng môn học của các em đạt kết quả tốt nhất thì không phải là một chuyện dễ dàng. Vậy làm thế nào để các em hình thành và phát triển kỹ năng học tập toàn diện nhất? Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Tiếng Anh ở trường TH trong nhiều năm, tôi đã tìm tòi, học hỏi, đọc các tài liệu tham khảo và qua các phương tiện thông tin đại chúng, tôi đã rút ra cho mình một số kinh nghiệm trong phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy để làm cho giờ dạy của mình đạt kết quả cao hơn. 3. Thực trạng chất lượng dạy và học Tiếng Anh ở trường: 3.1. Thuận lợi: - Môn Tiếng Anh là môn mới được áp dụng đối với học sinh tiểu học trong những năm gần đây. Vì vậy một số học sinh cảm thấy có hứng thú, hoặc yêu thích với môn học còn mới mẻ này, nên mỗi khi lên lớp đa số học sinh rất tích cực. - Được sự quan tâm giúp đỡ của Ban Giám Hiệu nhà trường, cùng các anh chị đồng nghiệp đi trước đó tạo mọi điều kiện để việc dạy và học môn Tiếng Anh tốt hơn. Trường tôi đã có cơ sở vật chất và xây dựng phòng học, đóng bàn ghế theo chuẩn mới. Có đầy đủ các thiết bị như: băng đài, đĩa, loa, máy chiếu phục vụ cho việc dạy và học. 3.2. Khó khăn: - Theo phân phối chương trình hiện nay, môn Tiếng Anh tiểu học mỗi tuần 4 tiết, mà chỉ có một giáo viên Tiếng Anh thì thật sự rất khó khăn cho việc dạy và học của giáo viên và học sinh. Nhưng muốn để tiết học của học sinh sinh động hơn, giáo viên phải làm tranh ảnh, đồ dùng để minh hoạ, tạo điều kiện cho các em nhớ từ dễ dàng và hướng sự chú ý của các em vào chủ đề hay trọng tâm bài học. Bên cạnh đó, các em học sinh ở đây do điều kiện và hoàn cảnh, phụ huynh chưa hiểu rừ được tầm quan trọng của môn Tiếng Anh, nên chưa quan tâm, đốc thúc các em học môn học này, dẫn đến nhiều em không có điều kiện mua sách vở đầy đủ. Thêm vào đó, do điều kiện phát triển về mọi mặt còn hạn chế, điều kiện để các em học sinh tiểu học được tiếp xúc với các thông tin đại chúng, các chương trình giải trí sử dụng Tiếng Anh còn 5 Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh ở trường tiểu học ít. Dẫn đến khả năng giao tiếp của các em còn hạn chế, huống hồ là giao tiếp bằng Tiếng Anh. Bên cạnh một số em học hành nghiêm túc, có không ít học sinh chỉ học qua loa, không khắc sâu được từ vựng vào trong trí nhớ, không tập đọc, tập viết thường xuyên, không thuộc nghĩa hai chiều. Đến khi giáo viên yêu cầu các em sẽ không thành công. - Hơn nữa các em cũng rất khó khăn trong việc kiểm tra hoặc hướng dẫn để tự học ở nhà. Bởi vì là môn ngoại ngữ, không phải phụ huynh nào cũng biết. Ngoài ra, cách học từ vựng của học sinh cũng là điều đáng được quan tâm, học sinh thường học từ vựng bằng cách đọc từ bằng Tiếng Anh và cố nhớ nghĩa bằng tiếng Việt, có viết trong tập viết cũng là để đối phó với giáo viên, chứ chưa có ý thức tự kiểm tra lại mình, để khắc sâu từ mới và vốn từ sẵn có. Vì thế các em rất mau quên và dễ dàng lẫn lộn giữa từ này với từ khác dẫn đến nhiều học sinh đâm ra chán học và bỏ quên. 3.3. Tình hình thực tế của học sinh Bước vào năm học các em đã bộc lộ rõ khả năng của mình trong từng môn học và định hướng môn học yêu thích của mình. Tôi tìm hiểu, quan sát để nắm được khả năng của các em. Sau cuộc khảo sát đầu năm để phân loại đối tượng học sinh để từ đó có biện pháp cụ thể. Nhìn chung, các em trong trường đều ngoan, có ý thức học tập. Nhiều em yêu thích môn Tiếng Anh. Như vậy rất thuận lợi cho tôi tiến hành đề tài này. Tuy nhiên vẫn còn một số em lười học, không có năng khiếu học, tiếp thu chậm, phát âm khó, hiệu quả của các em chưa cao. 3.4. Kết quả học tập năm học 2012 – 2013 Lớp 3A 4A Sĩ số 30 30 Giỏi 2 5 Khá 6 8 Trung bình 20 15 Yếu 2 2 Từ cơ sở lí luận và thực tiễn, cùng với kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy của mình tôi chọn đề tài nghiên cứu: "Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh ở các trường tiểu học”. 4. Các giải pháp: Là một giáo viên tâm huyết đã nhiều năm giảng dạy riêng bản thân tôi thấy, để góp phần nâng cao chất lượng học môn Tiếng Anh tiểu học thiết nghĩ cần có một sự 6 Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh ở trường tiểu học đổi mới trong phương pháp dạy học, cả về tư duy lẫn phương pháp và không ngừng trao đổi kinh nghiệm giữa các thầy cô giáo. Bản thân các thầy cô không ngừng tìm hiểu và học tập những phương pháp giảng dạy nhằm trau dồi kỹ năng dạy môn Tiếng Anh của mình. Các giải pháp tôi đưa ra dưới đây cần có sự kết hợp giữa nhà trường và phụ huynh - học sinh và thầy cô giáo. 4.1. Lấy học sinh làm trung tâm của tiết học: Phương pháp dạy "lấy học sinh làm trung tâm " là phương pháp dựa trên nguyên tắc kích thích sự ham hiểu biết của trò, từ đó, giáo viên sẽ đáp ứng xoay quanh các câu hỏi và vấn đề mà trò gặp phải. Còn học trò đóng vai trò chủ động trong việc tiếp cận tri thức. Với phương pháp này, người học sẽ là người tự khai phá tri thức, thầy cô giáo chỉ là người hướng dẫn và cung cấp thông tin. Đó là cách dạy mà giáo viên chỉ đưa ra chủ đề nào đó (mà không giải thích gì thêm), sau đó chia lớp làm nhiều nhóm, cho từng nhóm thảo luận với nhau rồi cùng đưa ra kết luận cho bài học. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, huấn luyện, nhận xét phần làm việc của học sinh và nếu có thể thể trợ giúp, bổ sung những kiến thức ngoài mà học sinh chưa biết. Dưới sự hướng dẫn của cô giáo học sinh sẽ phải tích cực hơn, tự giác hơn trong việc tham gia vào việc học, vận dụng cũng như học hỏi kiến thức mới. Mỗi học sinh sẽ phải tự tìm ra phương pháp học tối ưu cho mình, phải độc lập sử dụng các tài liệu được thầy cô giáo gợi ý, chuẩn bị bài vở, từ đó tính độc lập và sáng tạo ngày một phát huy. Nhiệm vụ của giáo viên là phải tôn trọng những khác biệt của từng cá nhân học sinh và giúp đỡ các em tìm ra những quá trình và những sở thích học tập được ưa chuộng riêng của các em. Điều này yêu cầu giáo viên phải tổ chức lại lớp học, đặt học sinh vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học, tôn trọng các nhu cầu, phong cách học của từng cá nhân học sinh. Giáo viên không nên lặp lại việc học theo phương pháp “Đọc – chép” truyền thống, ngược lại phương pháp lấy học sinh làm trung tâm đòi hỏi giáo viên phải thực sự tâm huyết với nghề và đầu tư nhiều thời gian, công sức để chuẩn bị cho buổi học. 7 Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh ở trường tiểu học Trong môi trường này học sinh được giao làm việc theo cặp hay theo các nhóm nhỏ và được hướng dẫn cách đàm phán để hiểu ý nghĩa trong một ngôn cảnh rộng lớn. Lớp học bị giáo viên chi phối được đặc trưng bởi việc giáo viên nói hầu hết thời gian trên lớp, dẫn dắt các hoạt động, và thường xuyên nhận xét đánh giá học sinh, trong khi trong một lớp học theo đường hướng lấy người học làm trung tâm, học sinh sẽ được quan sát làm việc theo cá nhân hay theo các cặp và các nhóm nhỏ, mỗi người, mỗi nhóm có những nhiệm vụ hay công việc cụ thể. Ví dụ điển hình là khi làm bài tập ngữ pháp và đọc với các bài tập kiểm tra sự hiểu biết, hay thảo luận các bài học sinh đó đọc ở bài học trước. Với một lớp học ngoại ngữ trung bình khoảng từ 25 - 30, tôi chia ra thành khoảng 5 đến 6 nhóm cộng tác. Sau khi giới thiệu chủ đề bài học, tôi đặt ra một số câu hỏi gợi ý để học sinh thảo luận theo nhóm rồi đoán câu trả lời. Tiếp sau nữa tôi giới thiệu từ mới. Tôi yêu cầu các nhóm đoán nghĩa của từ mới dựa vào ngữ cảnh. Sau đó xác định những nội dung và cấu trúc của bài (đoạn) văn. Một ví dụ khác trong giờ dạy viết là giáo viên viết tên của tất cả học sinh trong lớp theo cặp có thể do giáo viên tự sắp xếp hoặc dựa vào sơ đồ lớp vào những mảnh giấy nhỏ, sau đó bỏ vào một chiếc hộp. Có 2 học sinh sẽ đại diện bốc thăm và đọc lên tên của 2 cặp may mắn. Hai cặp may mắn sẽ được viết bài của mình lên bảng phụ sẽ được cả lớp và giáo viên chữa bài của mình ở hoạt động post- writing. Đồng thời sẽ được điểm nếu bài viết tốt. Những học sinh còn lại sẽ làm theo cặp viết bài của mình vào vở hoặc giấy làm bài, giáo viên có thể thu một số bài để chấm ở nhà. Giáo viên cung cấp một số điểm cho học sinh chú ý khi chữa lỗi như: nội dung đó đủ ý hay chưa, ngữ pháp, từ, cụm từ… Sau đó giáo viên yêu cầu 2 nhóm treo bảng phụ lên bảng để cùng chữa lỗi với học sinh cả lớp. Cuối cùng giáo viên nhận xét ưu khuyết điểm để học sinh khắc phục trong những bài viết sau và cho học sinh về nhà viết lại bài của mình. Một cách khác để áp dụng cho môi trường lớp học lấy người học làm trung tâm là thông qua việc học sinh biên tập lại (sửa chữa) các bài viết của bạn mình. Sử dụng phương pháp dạy viết theo quá trình cho phép học sinh tương tác với nhau và với các sản phẩm viết của các em. Sau khi các em kết thúc quy trình trước khi viết với bản viết nháp trong tay, các em có thể bắt đầu biên tập lại cho nhau bằng cách trao đổi bài 8 Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh ở trường tiểu học viết và sửa chữa sản phẩm bài viết của bạn mình. Cuối cùng giáo viên cho các em chuyển sang bước đánh giá chất lượng bài viết. Với kinh nghiệm nhiều năm làm GV, tôi không thấy có khó khăn gì khi thực hiện phương pháp này, GV có thể tận dụng các tố chất mình có sẵn như ngôn ngữ cơ thể, cách nói, giọng nói… chứ không nhất thiết phải có thiết bị công nghệ thông tin, các trang thiết bị hiện đại chỉ là hỗ trợ. Chỉ khó khăn ở chỗ GV có muốn đưa nó vào hay không vì phương pháp này đòi hỏi họ phải rất tâm huyết và dành nhiều thời gian chuẩn bị giáo án và đồ dùng cho buổi học, khó khăn khi dạy Tiếng Anh tiểu học là phải hiểu tâm lý của trẻ em. Để thực hiện được ý tưởng của buổi dạy, thay vì HS ngồi nghe cô giảng, bây giờ HS cần không gian để cho các em tham gia các hoạt động và vui chơi. Để thực hiện phương pháp mới, giáo viên cần linh hoạt để thay đổi một số yếu tố để có buổi học thành công. Ví dụ nếu không có các thiết bị như đầu quay, đĩa DVD, TV, picture book, thì có thể tự chế các poster bức tranh, sưu tầm các câu chuyện trên mạng, hay tự vẽ để dạy HS. 9 Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh ở trường tiểu học Học sinh lớp 4A trong giờ học tiếng Anh. 4.2. Sử dụng các loại hình cặp nhóm: Thảo luận nhóm (Group discussion) là kỹ năng vừa giúp bạn phát huy được sức mạnh trí tuệ tập thể vừa phát huy được tính chủ động, sáng tạo của từng thành viên. Các em được phân nhóm nhỏ từ 3 đến 5 em cùng thảo luận một vấn đề nhỏ trong việc học môn Tiếng Anh hoặc trẻ có thể bắt cặp đôi, trẻ tự do trao đổi chủ đề mà giáo viên vừa đưa ra. Kết thúc thảo luận trẻ trình bày lại bằng Tiếng Anh. Ví dụ: Cô giáo đưa ra chủ đề: các nhóm thi nhau viết về các từ Tiếng Anh chỉ các loại hoa quả, các loại thức ăn đồ uống, các đồ dùng trong nhà, các con vật em yêu thích bằng Tiếng Anh. Các nhóm thi nhau xem ai viết được nhiều hơn và dán kết quả trên bảng, cho các nhóm đọc to kết quả của mình. Sau đó các nhóm lắng nghe và nhận xét cách đọc của nhóm vừa trình bày. Giáo viên chỉ là người khuyến khích sự tham gia của trẻ và chỉnh những thiếu sót của các em không nên nhận xét đúng sai rõ ràng. Trong quá trình thảo luận nhóm giáo viên tránh việc chê trẻ trước nhóm bạn, làm trẻ xấu hổ và lần sau ngại tham gia. 4.2.1. Thời điểm làm việc theo cặp hoặc nhóm. Hình thức làm việc theo cặp thích hợp với hoạt động hội thoại giữa hai người với nhau, do vậy sẽ phù hợp với các loại bài tập: 1) Luyện mẫu câu sau phần giới thiệu ngữ liệu mới và sau một vài phút luyện tập với cả lớp (Giáo viên - học sinh; nửa lớp - nửa lớp, cặp mở, cặp đóng). 2) Luyện các bài hội thoại ngắn: đóng lại bài hội thoại, làm các bài hội thoại tương tự với gợi ý cho sẵn. 3) Các bài tập luyện giao tiếp. 4) Đọc bài khoá, sau đó hỏi và trả lời các câu hỏi về nội dung bài khoá, phương pháp này có mấy cách thực hiện như sau : + Học sinh thảo luận các câu hỏi trong cặp hoặc nhóm, sau đó đọc bài khoá để tìm câu trả lời. + Học sinh tự đọc thầm bài khoá sau đó hỏi và trả lời về nội dung trong cặp hoặc nhóm. 5) Các bài tập viết ngắn : học sinh làm nhóm, chọn thư ký viết những gì mà nhóm thảo luận, hoạt động này có thể khó tổ chức ở những lớp đông nhưng có thuận 10 Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh ở trường tiểu học lợi là học sinh chữa được lỗi cho nhau và giáo viên chỉ việc cho điểm các bài viết của nhóm sau khi kết thúc hoạt động. 6) Thảo luận: Giáo viên nêu nhiệm vụ thảo luận một cách rõ ràng, sau khi thảo luận giáo viên gọi các nhóm báo cáo. 4.2.2 Phương pháp chia cặp nhóm. Hình thức làm việc theo cặp nhóm có nhiều ưu điểm, đặc biệt trong việc luyện tập các chức năng lời nói song trong thực tế, khi học sinh làm việc theo cặp hoặc nhóm, giáo viên không thể kiểm soát hết được lời nói của học sinh và cũng không nhất thiết phải kiểm soát hết. Có nhiều cách tổ chức làm việc theo cặp, nhóm. * Cặp : a- Giữa giáo viên và học sinh b- Cặp mở : Giữa hai học sinh không ngồi gần nhau. c- Cặp đóng : Giữa hai học sinh ngồi kề nhau. Với hình thức này giáo viên phải đánh số học sinh theo hàng dọc hoặc theo hàng ngang, quy định nhiệm vụ của từng học sinh trong cặp – hỏi trả lời và ngược lại hoặc vai A - vai B và ngược lại đổi vai. * Nhóm: Trong trường hợp tổ chức làm việc theo nhóm nếu lớp chật, thì có thể tổ chức cho hai học sinh ngồi ở hai hàng ghế sát nhau ngồi quay đầu lại với nhau tạo thành nhóm 4 người mà không cần học sinh di chuyển nhiều trong lớp, không làm lãng phí thời gian. - Khi chia nhóm phải đảm bảo phù hợp về số lượng. - Cần phân đều số lượng học sinh cho mỗi nhóm (giỏi, khá, trung bình) - Một nhóm có bao nhiêu học sinh là tuỳ ở sĩ số của lớp. - Yếu tố ảnh hưởng đến chia nhóm là vị trỗ ngồi của học sinh trong nhóm. - Có thể đặt tên cho các nhóm bằng Tiếng Anh như theo chữ số, màu sắc, loài hoa, con vật hay những tính từ mà các em thích ... Ví dụ cụ thể: Học sinh A là học sinh khá, học sinh D là học sinh khá. Học sinh B là học sinh trung bình, học sinh E là học sinh trung bình. Học sinh C là học sinh yếu, học sinh F là học sinh yếu. 11 Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh ở trường tiểu học Ta có thể kết hợp các cặp như sau: Mỗi học sinh có thể có ít nhất từ 2 - 3 cặp cho mình để hoạt động. Giáo viên nên quy định những học sinh A, D mang tên Rabbit; học sinh B, E mang tên Parrot; học sinh C, F mang tên Cat. 4.2.3.Tiến hành tổ chức cặp nhóm. a. Giới thiệu mẫu câu mới: Giáo viên gợi mở và làm mẫu rõ ràng. Cho học sinh nhắc lại đồng thanh, cá nhân. Chú ý sửa lỗi phát âm cho học sinh . Example 1:Unit 11. My Daily Activities. Lesson 3. Page 10. Teacher: Work in pairs to practise asking and answering about the time in 2 minutes: S1: What time do you….? S2: I…… at ….o’clock b. Thay thế câu theo gợi ý. Gợi ý có thể viết lên bảng. c. Yêu cầu cả lớp thực hành với giáo viên và ngược lại để học sinh biết chắc chắn phải làm gì. Chọn hai học sinh không ngồi gần nhau nói to cho cả lớp cùng nghe. d. Giáo viên đánh số học sinh theo hàng dọc hoặc hàng ngang và yêu cầu học sinh luyện tập đồng loạt. Yêu cầu học sinh đổi vai khi kết thúc. Giáo viên đi quanh lớp điều khiển hoạt động, lưu ý không chữa lỗi khi học sinh đang thực hành mà giáo viên nên ghi lại những lỗi này để chữa sau khi đó thực hành xong. e. Ngừng hoạt động sau khi hầu hết cả lớp đã hoàn thành. Chọn 2-3 cặp không báo trước nói trước lớp. f. Giáo viên chữa những lỗi phổ biến trong quá trình thực hành, tập trung chữa lỗi phát âm và ngữ pháp. * Khi tiến hành các hoạt động cặp hoặc nhóm, cần lưu ý : + Giáo viên phải có sự chuẩn bị tốt. Có mẫu hoặc ví dụ cho trước, cung cấp đủ ngữ liệu cần thiết cho bài tập. + Quy định thời gian luyện tập. + Cần phân cặp hay nhóm hợp lý, có thể chọn học sinh có cùng trình độ, hoặc khác trình độ nhận thức để làm việc với nhau tuỳ theo từng ý đồ và tính chất của bài tập. Đề ra quy ước bắt đầu và kết thúc hoạt động (gõ thước, vỗ tay). + Có sự theo dõi, bao quát chung của giáo viên. Có sự hỗ trợ kịp thời của giáo viên khi học sinh trong nhóm gặp khó khăn (giáo viên đi quanh lớp lắng nghe và giúp đỡ những học sinh yếu và giải đáp thắc mắc của học sinh). 12 Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh ở trường tiểu học + Sau khi học sinh hoàn thành bài tập trong nhóm, cần có sự kiểm tra phản hồi kịp thời như nhận xét, góp ý kiến, chữa lỗi hoặc cung cấp mẫu đúng. + Khi hoạt động nhóm giáo viên có thể kết hợp nhiều phương pháp giúp học sinh luyện tập như: repetition, substitution, change into form và kết hợp các đồ dùng dạy học như máy chiếu, tranh ảnh, phiếu học tập, bảng phụ để hướng dẫn... 4.2.4. Một số ví dụ để tổ chức cho hoạt động cặp, nhóm. Với thời gian một tiết học chúng ta không thể đưa ra thảo luận hết nội dung của bài học, mà chúng ta chỉ thảo luận những nội dung quan trọng của bài học. Sau đây là một số ví dụ cụ thể: * Hoạt động khởi động (warm-up ): Example1: ( English 3 ) -Unit 11.My Family ( 1,2) + Activity 1: Giáo viên sử dụng bức tranh về gia đình (Nam’s family) có tên, tuổi của mỗi thành viên, học sinh luyện tập theo cặp ( using the picture) + Mr Minh / 50 years old Eg: S1: Who is that? S2: That’s Mr Minh. S1: How old is he? S2: He is 50 years old. Tương tự các cặp khác lần lượt luyện tập. + Activity 2: Tổ chức cho học sinh luyện tập theo nhóm dưới hình thức: Brainstorming. Unit 13. My House. Page 18. 13 Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh ở trường tiểu học bathroom living room bedroom House garden kitchen Giáo viên chuẩn bị một tấm thẻ: chia lớp thành 2 nhóm, các nhóm lần lượt lên ghi tên các căn phòng trong nhà vào thẻ, nhóm nào ghi được nhiều hơn sẽ thắng . Example 2( English 4) : Unit 5: Things I do ( B.3,4 ) Activity 1: Tổ chức cho học sinh luyện tập theo nhóm để ôn lại các từ chỉ quần áo và một số từ quan trọng liên quan đến bài học mới bằng trò chơi “ slap the board”. Các nhóm cử đại diện lần lượt lên thực hiện trò chơi . shirt Dress Trouser s Blouse Shoes Jeans skirt * Hoạt động luyện tập (While) Activity: Giáo viên cần tổ chức cho học sinh luyện tập theo cặp (pair work) + Ask and answer about the time - Picture drill (Unit 11 - lesson 1. page 6 ) 14 Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh ở trường tiểu học a, S1: What time is it? S2 : It’s seven o’clock b, S1 : What time is it? S2 : It’s seven fifteen. * Hoạt động luyện tập mở rộng. (Post ) + Take a survey : (Group work). Mục đích của hoạt động này là giúp học sinh ôn lại một số từ chỉ nghề nghiệp Cách tổ chức: chia lớp thành 4 nhóm – Các nhóm hỏi đáp theo cặp các thành viên trong nhóm. Example : S1 : Who,s that? S2 : It’s my father S1: What’s his job? S2 : He’s a doctor. Student’s name Minh A Job Survey. By................. Father Mother doctor teacher Ví dụ khác: Unit 13 :My House. Lesson 3. 15 Brother/Sister student Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh ở trường tiểu học Aim: Miêu tả các đồ vật trong nhà. Phân ra 4 bước trong quá trình thảo luận: Bước1: Chuẩn bị cho thảo luận Giáo viên chia lớp ra 4 nhóm, yêu cầu học sinh đọc trước bài mới, đặc biệt chú ý đến những tên gọi của các đồ vật có trong các phòng: phòng khách, phòng bếp, phòng ngủ…. Nhóm 1: Miêu tả các đồ vật trong phòng khách Nhóm2: Miêu tả các đồ vật có trong phòng bế Nhóm 3: Miêu tả các đồ vật có trong phòng ngủ Nhóm 4: Miêu tả các đồ vật có trong phòng tắm Bước 2: Giao nhiệm vụ thảo luận Bước này diễn ra sau khi học xong phần while speaking Giáo viên giao phiếu thảo luận cho các nhóm theo yêu cầu như ở bước 1 Cho các nhóm thảo luận: yêu cầu thảo luận sôi nổi nhưng phải trật tự. Bước 3: Tiến hành thảo luận (5 phút) Hoạt động của học sinh: mỗi nhóm thảo luận theo hình thức từng cá nhân phát biểu ý kiến (hoặc mỗi cá nhân làm 2 câu), sau đó nhóm trưởng tổng kết, sắp xếp lại thành ý kiến chung của nhóm, thư ký ghi vào bảng phụ (yêu cầu đúng cấu trúc ngữ pháp). Hoạt động của giáo viên: bao quát cả lớp học để nắm tình hình thảo luận của nhóm, giáo viên có thể gợi ý định hướng giúp học sinh thảo luận đúng trọng tâm của yêu cầu đề ra. Bước 4: Tổng kết thảo luận Giáo viên ổn định lại lớp và gọi bất kỳ một em đại diện cho cả nhóm mình (treo bảng phụ của mỗi nhóm lên bảng). Giáo viên và các nhóm nhận xét, bổ sung (nếu có). 4.2.5 Điều kiện áp dụng 4.2.5.1. Đối với học sinh Để hoạt động cặp, nhóm đạt hiệu quả cao trong hoạt động giao tiếp thì giáo viên cần tạo cho học sinh thói quen tuân theo một số quy định cần thiết để có thể đảm bảo được yêu cầu của bài tập như : - Cần nghe kỹ các yêu cầu của bài tập. - Cần phải làm theo yêu cầu chỉ dẫn. 16 Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh ở trường tiểu học - Cần phải nhanh chóng chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác khi giáo viên yêu cầu, không cố hoàn thành việc đang làm dở. - Cần tự giác làm việc, không quá gây ồn ào. 4.2.5.2. Đối với giáo viên cần thực hiện tốt một số điểm sau : - Lựa chọn thủ thuật, phương pháp phù hợp với từng loại bài. - Luôn hướng dẫn và ra nhiệm vụ một cách rõ ràng để học sinh hiểu rõ công việc phải làm. - Luôn khuyến khích học sinh mạnh dạn hỏi giáo viên khi có vướng mắc. - Kiểm tra sát sao để học sinh luôn thực hiện bài theo đúng yêu cầu. - Luôn ghi chép lại những lỗi phổ biến hoặc những điểm cần lưu ý để có thể chỉ ra cho học sinh và giúp học sinh sửa chữa sau đó. 4.3. Sử dụng những tình huống thật trên lớp Tình huống thật là những điều có thật ở trường hay ở lớp. Tình huống thật có vai trò đặc biệt quan trọng cho việc giới thiệu ngôn ngữ sinh động với những cuộc đối thoại xảy ra, những ai trong cuộc nói chuyện đó. Những hiện tượng tự nhiên, hiện tượng xã hội, các câu chuyện có thật trong đời sống hàng ngày của học sinh là nguồn ngữ cảnh phong phú vô tận cho giáo viên sử dụng vào mục đích dạy học. Ví dụ: để giới thiệu các khái niệm lớn bé, to nhỏ, cao thấp và giáo viên có thể đưa ngay những nhận định thực tế. GV có thể áp dụng ở lớp 3. Unit 7. Lesson 2. 4.4. Phương pháp thúc đẩy động cơ học tập của học sinh. Như đã nói ở trên, học sinh chỉ có được động cơ học tập khi các em cảm thấy hứng thú đối với môn học và thấy được sự tiến bộ của mình. Do vậy, ngoài việc sử dụng các tình huống thách đố nhằm hấp dẫn, lôi cuốn học sinh vào những hoạt động trên lớp, giáo viên còn phải biết khích lệ, động viên các em trong học tập. Để giúp các em nhận thấy được sự tiến bộ trong học tập, giáo viên cần phải chú ý đến tính vừa sức trong dạy học, tránh không nên đưa ra những yêu cầu quá cao đối với học sinh. Ngoài ra giáo viên cần khuyến khích học sinh học theo phương châm thử nghiệm và chấp nhận mắc lỗi trong quá trình thực hành. Thực tế cho thấy, có những học sinh biết nhưng không dám nói vì sợ bị mắc lỗi. Một số em khác không dám giơ tay phát biểu vì sợ nói sai bị các bạn cười, cô giáo chê. Theo tôi đây chính là yếu tố tâm lí mà giáo viên dạy ngoại ngữ cần phải xem xét để 17 Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh ở trường tiểu học giúp các em có được hứng thú học tập hay ít ra là tích cực hơn trong các giờ học. Trong quá trình dạy, giáo viên nên tạo sự thoải mái cho các em, chứ không nên quá khắt khe với những lỗi mà học sinh mắc phải. (Ví dụ: lỗi phát âm, lỗi chính tả, thậm chí là lỗi ngữ pháp) để tránh cho các em tâm lí sợ mắc lỗi khi thực hành. Vì muốn các em học tốt thì phải có một quá trình lâu dài mới có được. Ví dụ: Trong khi thực hành, học sinh nói: She play badminton hoặc I has a doll, .... Thay vì ngắt lời khi các em để sửa lỗi, giáo viên có thể để cho học sinh trả lời xong, giáo viên khích lệ hay cổ vũ các em bằng những câu như: “Very good”, “thank you” or “not bad”, … Sau đó giáo viên gọi học sinh khác nhận xét và sửa lỗi cho bạn hoặc giáo viên sửa lỗi để tránh làm cho các em nhụt chí hay mất hứng thú luyện tập. Điều đó giúp trẻ thoải mái trong giờ học. Ngoài ra, để giúp trẻ say mê việc học, hãy lôi cuốn trẻ bằng những câu chuyện thú vị. Giáo viên thường xuyên đọc những câu chuyện tiếng Anh mà trẻ thích cho trẻ nghe. Sau đó tái hiện câu chuyện bằng các hình ảnh có sẵn. Yêu cầu các em sắp xếp thứ tự của bức tranh dựa vào nội dung câu chuỵên vừa kể. 4.5. Tổ chức trò chơi trong giờ học Tiếng Anh: Trò chơi học tập là trò chơi mà luật của nó bao gồm các quy tắc gắn với kiến thức kỹ năng có được trong hoạt động học tập, gần với nội dung bài học, giúp học sinh khai thác vốn kinh nghiệm của bản thân để chơi. Thông qua chơi học sinh được vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã học vào trong tình huống của trò chơi và do đó học sinh được thực hành luyện tập củng cố, mở rộng kiến thức kỹ năng đã học. Như vậy trong trò chơi học tập các kỹ năng học tập của môn Tiếng Anh được đưa vào trò chơi. Tổ chức trò chơi học tập để dạy môn Tiếng Anh nói chung và môn tiếng Anh ở bậc tiểu học nói riêng, chúng ta phải dựa vào nội dung bài học, điều kiện thời gian trong mỗi tiết học cụ thể đưa các trò chơi cho phù hợp. Một số trò chơi tiếng Anh như Lucky number, hang man, bingo, ong tim chữ..... Ví dụ 1: Nought and crosses. Chia lớp thành hai nhóm: Nhóm A (O), Nhóm B (X). Đặt câu với từ trong ô vuông đúng thì được một ký hiệu O or X. Đội nào ghi được 3 kí hiệu trên một đường thẳng , chéo thì giành được chiến thắng 18 Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh ở trường tiểu học book How may new 1 4 7 Lan where nice 2 5 8 fine name many 3 6 9 Ví dụ 2. Trò chơi: “ Jumble words” được dùng để kiểm tra từ vựng. Khi dạy xong chủ đề “Favourite Food and Drink” trong Tiếng Anh 4. Unit 13. Để kiểm tra xem học sinh có thuộc từ vựng và nhanh mắt hay không giáo viên có thể viết một số từ bị xáo trộn lên bảng. - eronga. - awtre - riutf - ppael - iol – kcoigno và yêu cầu học sinh xếp lại thành từ có nghĩa  orange: quả cam  water: nước  fruit: hoa quả  apple: quả táo  cooking oil: dầu ăn - Ví dụ về việc giới thiệu từ mới: Một cái túi được đưa ra, bên trong là những vật dụng đơn giản đó học như: quyển sách, vở, thước, bút… Mỗi em được phát một cái khăn bịt mắt. Sau đó lần lượt từng em lấy từng đồ vật trong túi ra và nói tên chúng bằng Tiếng Anh. Nếu vật nào không biết học sinh có thể hỏi giáo viên, hỏi bạn bằng Tiếng Anh. Phương pháp này giúp trẻ nhớ từ mới rất nhanh và chất lượng. 19 Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh ở trường tiểu học Một số hình ảnh hoạt động nhóm của học sinh lớp 3 - Vui hơn nữa là trò “dán đuôi thỏ”. Các em cũng phải bịt mắt và theo chỉ dẫn của các bạn bằng Tiếng Anh làm thế nào để dán được đuôi con thỏ vào đúng vị trí. Ai không nói bằng Tiếng Anh sẽ bị loại khỏi cuộc chơi. Với phương pháp này, các em có thể học được ngay các từ: Trái, phải, trên dưới và bên trong. - Ngoài việc nâng cao chất lượng học tập của thầy và trò, các hoạt động ngoại khoá hấp dẫn như học ngoài vườn để biết thêm các tên loài cây, loài hoa, ở sở thú, công viên…Tổ chức các cuộc thi vẽ, tổ chức các buổi tiệc kỷ niệm hay chức mừng sinh nhật hoặc một bạn mới ốm đi học lại bằng Tiếng Anh. Nói chung sáng tạo cách dạy học và vận dụng khả năng có sẵn của thầy và trò để làm phong phú việc dạy và học. 4.6. Dựa vào tâm lý vui chơi của trẻ: Luôn tạo cho các em thói quen hát một bài hát Tiếng Anh vào mỗi đầu tiết học. Để trẻ nghe từng câu, từng câu trong bài hát Tiếng Anh và dạy trẻ hát lại câu hát đó. Bài hát nên ngắn gọn dễ nhớ và giải nghĩa tiếng Việt để trẻ hiểu. Thỉnh thoảng vào những lúc giữa tiết học các em bị căng thẳng, mệt mỏi do học vào tiết cuối cùng, giáo viên cũng nên bắt nhịp cho các em một hoặc hai bài hát ngắn, nhẹ nhàng với giọng điệu vui – kèm theo những tiếng vỗ tay nhịp đôi, rồi nhịp một, nhịp càng lúc càng nhanh rồi chấm dứt, nhằm trả lại sự phấn chấn, rộn ràng, vui tươi, sinh động trong lớp học. Việc dạy trẻ hát và nghe các bài hát Tiếng Anh rèn luyện kỹ năng nghe cho trẻ rất tốt. Lồng ghép các bài hát Tiếng Anh vào trong những tiết dạy âm nhạc là rất thiết thực trong việc nâng cao hiệu quả của việc dạy môn Tiếng Anh. 4.7. Áp dụng công nghệ thông tin vào việc dạy học tiếng Anh: 20
- Xem thêm -