Skkn biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong trường tiểu học

  • Số trang: 27 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 15 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: “BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG DẠY VÀ HỌC TRONG TRƢỜNG TIỂU HỌC” PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ  I. CƠ SỞ KHOA HỌC 1. Cơ sở lý luận Nhân loại đang đi vào thế kỷ mới với những điều lo âu và những điều hy vọng. Ở mọi quốc gia, dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển giáo dục luôn luôn ở vị trí tiêu điểm của sự phát triển. Chính sách giáo dục được coi là chính sách ưu tiên Quốc gia nhằm tạo gia tốc cho sự phát triển. Nó là chìa khoá để đất nước phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học, chính trị hài hoà đồng bộ cân đối với nhau. Bài học thành công của các cuộc cải cách giáo dục ở nhiều quốc gia là ở chỗ quốc gia có được một quan điểm đúng đắn và hiện thực hoá thành các chính sách năng động khi xác định được là sức mạnh của quá trình phát triển. Giáo dục ngày nay được coi là nền móng của sự phát triển khoa học kỹ thuật và đem lại thịnh vượng cho nền kinh tế quốc dân, vì lẽ đó có thể giáo dục đồng nghĩa với sự phát triển và có thể khẳng định rằng không có giáo dục thì không có bất cứ sự phát triển nào đối với con người, đối với kinh tế, văn hoá. Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam tại điều 35 quy định: "Giáo dục Đào tạo là quốc sách hàng đầu" để tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu kinh tế - xã hội. Do vậy, chất lượng giáo dục phải được nâng cao đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Một trong những giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục là phải nâng cao chất lượng công tác quản lý giáo dục. Chiến lược giáo dục Việt Nam đến 2020 đã coi giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý giáo dục là một giải pháp đột phá. Giáo dục nước ta qua 20 năm đổi mới đã thu được những thành tựu quan trọng. Hệ thống giáo dục bước đầu đã đa dạng hoá về loại hình, phương thức đào tạo, từng bước hoà nhập vào xu thế chung của giáo dục thế giới. Chất lượng giáo dục có chuyển biến một số mặt, song nhìn chung còn nhiều yếu kém bất cập. Sự bất cập lớn nhất của nó là động thái giáo dục không theo kịp với đời sống của nhân dân. Hiệu quả giáo dục còn thấp chưa đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao về nhân lực của công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Trình độ kiến thức, kỹ năng thực hành, phương pháp tư duy khoa học của đa số học sinh còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu vừa phải tăng nhanh quy mô, vừa phải đảm bảo về nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục. Chính vì thế, cần phải đổi mới quản lý giáo dục, quản lý nhà trường để nâng cao chất lượng dạy học. 2. Cơ sở thực tiễn Trong hệ thống các nhà trường nói chung và trường tiểu học nói riêng thì dạy học là hoạt động trung tâm. Việc quản lý dạy học là 1 nhiệm vụ cơ bản hàng đầu, mặt khác là thước đo đánh giá năng lực của người cán bộ quản lý . Trường tiểu học Dị Chế nơi tôi đang công tác là một trong những trường có phong trào thi đua “Dạy tốt - Học tốt” khá sôi nổi. Song bên cạnh đó vẫn còn có những mặt hạn chế về chất lượng đội ngũ giáo viên. Do đó, Ban giám hiệu nhà trường rất băn khoăn và đã xác định được vai trò quan trọng trong việc phát huy sức mạnh của đội ngũ giáo viên với việc nâng cao chất lượng dạy học mà công tác quản lý chuyên môn là một trong những giải pháp hữu hiệu nhằm phát huy sức mạnh của đội ngũ hiện có. Với cương vị là Hiệu trưởng nhà trường phụ trách chung moi hoạt động của nhà trường, tôi mạnh dạn chọn đề tài: "Những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường tiểu học" với hy vọng đóng góp một phần nhỏ bé vào việc xây dựng các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường, phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU - Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của các biện pháp quản lí dạy học. - Áp dụng các biện pháp quản lí vào việc dạy học. - Đề xuất một số ý kiến góp phần nâng cao hiệu quả quản lí việc dạy học. III. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU - Giáo viên và học sinh Trường Tiểu học Dị Chế. - Những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường Tiểu học Dị Chế. IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý của người quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở Trường Tiểu học Dị Chế. V. KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU: Bắt đầu nghiên cứu từ tháng 10/ 2013 cho đến tháng 2/ 2014 VI. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Để giải quyết các nhiệm vụ vừa nêu ở trên, tôi đã sử dụng đồng bộ các phương pháp: 1. Phƣơng pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan tới việc quản lý dạy và học. 2. Phƣơng pháp điều tra: + Điều tra về giáo viên. + Điều tra về học sinh. 3. Phƣơng pháp thực nghiệm: Áp dụng những lý luận về quản lý dạy và học vào việc quản lý dạy học của giáo viên trường tiểu học Dị Chế . 4. Phƣơng pháp quan sát Dự giờ dạy của giáo viên 5. Phƣơng pháp thống kê toán học: Sử lý các số liệu và kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu. VII. Thời gian hoàn thành: 1/ 3/ 2014 PHẦN 2: NỘI DUNG  CHƢƠNG I MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ VAI TRÒ CỦA NGƢỜI THẦY TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về quản lý: Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất. 2. Bản chất quản lý: Đó chính là các hoạt động của chủ thể quản lý tác động lên các đối tượng quản lý để đạt mục tiêu đã xác định. 3. Chức năng quản lý: Gồm 4 chức năng cơ bản: Dự báo và lập kế hoạch; tổ chức thực hiện kế hoạch; lãnh đạo/chỉ đạo thực hiện kế hoạch; kiểm tra, đánh giá. 4. Khái niệm về quản lý giáo dục: Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý, nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt hiệu quả nhất. 5. Khái niệm về quản lý nhà trƣờng phổ thông: Quản lý nhà trường là quản lý giáo dục được thực hiện trong phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nhà trường, nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội. 6. Biện pháp: Biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành, cách giải quyết một vấn đề cụ thể. 7. Biện pháp quản lý: Biện pháp quản lý là cách thức chủ thể quản lý sử dụng các công cụ quản lýtác động vào việc thực hiện từng khâu của chức năng quản lý trong mỗi quá trình quản lý nhằm tạo nên sức mạnh, tạo ra năng lực thực hiện mục tiêu quản lý. II.VAI TRÒ CỦA NGƢỜI THẦY TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC Nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Công cuộc đổi mới của nước ta đang trải qua nhiều chặng đường, với từng bước đi thích hợp. Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Trong quá trình đó, việc xây dựng một con người Việt Nam vừa có đức, vừa có tài, vừa hồng, vừa chuyên đáp ứng yêu cầu xã hội là một việc làm cần thiết và quan trọng hơn bao giờ hết. Để làm được điều đó, không thể không nhắc đến vai trò của người thầy trong sự nghiệp này. Ở xã hội nào cũng vậy, vai trò của người thầy luôn được đánh giá cao. Người thầy giúp định hướng hình thành nhân cách ở mỗi con người, góp phần xây dựng những nhân tài của thế hệ tương lai. Trong sự nghiệp giáo dục, hơn ai hết vai trò của người thầy được xem là tâm điểm ,bởi vậy ở nước ta không phải ngẫu nhiên mà có một ngày để tôn vinh Nhà giáo - Ngày 20.11, bởi lẽ những gì mà người thầy đã đóng góp và cống hiến cho xã hội là không thể tính đếm được. CHƢƠNG II ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH NHÀ TRƢỜNG 1. Vài nét về Trƣờng Tiểu học Dị Chế Trường Tiểu học Dị chế đóng trên địa bàn thôn Dị Chế - xã Dị Chế - huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên. Năm học 2013- 2014 trường có 476 học sinh, được chia làm 18 lớp từ khối 1 đến khối 5. KHỐI SỐ LỚP SỐ HỌC SINH 1 5 122 2 4 91 3 3 100 4 3 82 5 3 81 Tổng số 18 476 Nhìn chung học sinh ngoan, chăm học, có ý thức kỉ luật tốt “ Kính thầy, yêu bạn”. Nhiều phụ huynh rất quan tâm đến việc học tập của con em mình. Tổng số cán bộ giáo viên và công nhân viên của trường: 36 đ/c, trong đó: Ban Giám hiệu:3 đ/c Văn thư Kế toán:01 đ/c Đồ dùng thư viện: 01 đ/c Giaó viên: 33 đ/c( GV Văn hoá:28, Âm nhac: 01, Mĩ thuật: 01, Tiếng Anh:02)  Bảng thống kê về số lƣợng, chất lƣợng học sinh đầu năm học 2013 -2014 nhƣ sau: T/Số Giới tính 476 Hạnh kiểm Học lực Na m Nữ Đ CĐ Giỏi Khá T/B Yếu 289 187 472 4 132 179 98 76  Bảng thống kê về số lƣợng, trình độ chuyên môn của giáo viên T/s ố Nữ Độ tuổi 30 29 Trình độ đào tạo Chuyên môn 20- 3029 39 4049 5960 TC CĐ ĐH Tốt Kh á TB 06 04 0 7 17 10 6 19 07 14 Hầu hết các đồng chí giáo viên nhận thức rõ vai trò, vị trí, trách nhiệm của mình đối với nghề nghiệp và các công việc được giao, có lòng yêu nghề mến trẻ, có nhiều giáo viên viết chữ đẹp va say mê luyện chữ nét thanh, nét đậm. Ngoài công tác chủ nhiệm một lớp, một số các đồng chí giáo viên sẵn sàng nhận thêm các công tác như ban chi ủy, thanh tra, khối trưởng chuyên môn… Khi được ban giám hiệu phân công. Trường luôn nhận được sự chỉ đạo sát sao của Phòng GD-ĐT huyện Tiên lữ . Là trường nhiều năm đạt danh hiệu Tập thể lao động tiên tiến và có phong trào Giữ vở sạch- Viết chữ đẹp rất sôi nổi. Bên cạnh đó, trường còn nhận được sự động viên và hỗ trợ kịp thời của Đảng uỷ và UBND xã Dị Chế và Ban chấp hành Hội cha mẹ HS . 2. Một số hạn chế về công tác chuyên môn của nhà trƣờng Bên cạnh những mặt mạnh, Trường Tiểu học Dị Chế còn có một số hạn chế về chuyên môn. Cụ thể: - Một số giáo viên soạn giáo án chưa khoa học, nội dung dàn trải và chưa tự tin khi đứng trên bục giảng. - Hoạt động dự giờ của giáo viên chưa thực sự đạt được những hiệu quả như mong muốn. Thực tế hầu như các giáo viên còn chưa tự giác, tích cực dự giờ của đồng nghiệp, bởi tâm lí e ngại cho rằng đi dự giờ tức là kiểm tra tiết dạy của đồng nghiệp, do đó nói đến dự giờ tức là nói đến hoạt động của Hiệu trưởng, Hiệu phó, Tổ trưởng, Tổ phó chuyên môn trong khi lẽ ra việc làm này phải là việc làm thường xuyên đối với mỗi giáo viên. Giáo viên hầu như mới chỉ tham gia dự giờ trong các hoạt động mang tính chất “thao giảng” chào mừng các ngày kỉ niệm trong năm học như 20-10, 20-11, 8-3, 26-3,... - Một số đồng chí còn lúng túng trong việc sử dụng đồ dùng dạy học, trình độ tin học và sử dụng máy tính còn hạn chế do vậy gặp khó khăn khi ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy. - Nhà trường chưa có biện pháp quản lý tốt nhằm đẩy mạnh chất lượng buổi sinh hoạt chuyên môn, nội dung sinh hoạt tổ phần lớn chỉ dừng lại ở mức thông báo các chủ trương, kế hoạch của nhà trường cũng như của Phòng GD_ ĐT. Để khắc phục những mặt còn hạn chế đó tôi đã nghiên cứu và tìm ra những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở Trường Tiểu học Dị Chế. CHƢƠNG III NHỮNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG DẠY HỌC 1) Quản lý thực hiện nội dung chƣơng trình Chương trình dạy học là pháp lệnh của nhà nước do Bộ giáo dục ban hành. Người quản lý phải nắm vững và làm cho toàn thể giáo viên cùng nắm vững. Với tư cách là người lãnh đạo và chịu trách nhiệm cao nhất về chuyên môn trong nhà trường, người quản lý phải điều khiển hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò theo những yêu cầu, nội dung, hướng dẫn của chương trình dạy học. Sự nắm vững chương trình dạy học của người quản lý là một đảm bảo đầu tiên để quản lý giáo viên thực hiện tốt chương trình dạy học. Muốn đựơc như vậy, ngay từ đầu năm học, cần phổ biến những thay đổi (nếu có) về nội dung, phương pháp giảng dạy bộ môn, những sửa đổi trong chương trình và sách giáo khoa theo cách chỉ thị hướng dẫn giảng dạy bộ môn của bộ giáo dục. Chỉ đạo các tổ chuyên môn thực hiện chương trình các môn học một cách linh hoạt, đảm bảo tính vừa sức, phù hợp với thực tế địa phương theo đúng tinh thần công văn: Hướng dẫn dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng. Đối với môn Mĩ thuật, Âm nhạc, Thủ công( Kĩ thuật), Thể dục và hoạt động ngoài giờ lên lớp, tổ chức dạy học phù hợp với điều kiện về giáo viên, cơ sở vật chất của nhà trường,coi trọng thực hành vận dụng, giảm các yêu cầu mang tính chuyên nghiệp, kĩ thuật. Chỉ có thực hiện đúng đủ chương trình dạy học thì những cơ sở khoa học, tính chất giáo dục toàn diện, mục đích đào tạo của chương trình dạy học mới trở thành hiện thực như ý kiến đồng chí Lê Duẩn: “Yêu cầu cơ bản nhất, quan trọng bao chùm toàn bộ chương trình giảng dạy là đào luyện con người toàn diện về đức, trí, thể, mĩ, là xây dựng cho học sinh thành những con người mới, có tình cảm tốt đẹp, có tri thức đầy đủ để đáp ứng được những đòi hỏi của việc xây dựng chế độ mới của chúng ta” Muốn làm tốt việc này hiệu phó, các tổ trưởng chuyên môn phải theo dõi, nắm tình hình thực hiện chương trình dạy học hàng tuần, hàng tháng. Sử dụng lịch kiểm tra học tập, sổ thăm lớp dự giờ vv… để nắm tình hình có liên quan đến việc thực hiện chương trình dạy học. Ban giám hiệu phải biết dùng thời khoá biểu để điều khiển và kiểm soát tiến độ thực hiện chương trình dạy học của tất cả các môn, các lớp sao cho đồng đều, cân đối. Nếu chương trình dạy học là “bản thiết kế ” của một công trình thì hoạt động dạy của thầy là sự “thi công” mà nhà quản lý là “tổng công trình sư” phải điều khiển “thi công” đúng “thiết kế ”. Với những biện pháp đó, việc thực hiện chương trình của trường tôi đã được thực hiện đúng và nghiêm túc. 2) Chỉ đạo công tác soạn, giảng của giáo viên a. Việc soạn giáo án là một yếu tố có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả của giờ dạy và có tính chất bắt buộc đối với mọi giáo viên trước lúc thực hiện giờ lên lớp. Hiện nay trên trang giáo án điện tử của mạng Internet của tất cả các môn học đều có các giáo án sẵn và thế là một bộ phận giáo viên đã tải về sử dụng, không dành nhiều thời gian nghiên cứu, không trăn trở nhiều cho việc chuẩn bị phương án giảng dạy vì thế hiệu quả của giờ dạy còn nhiều hạn chế. Mặc dù chúng ta có trình độ Đại học nhưng điều đó không có nghĩa là việc hiểu và giảng dạy chương trình phổ thông là một việc quá dễ dàng. việc mỗi người tự mình trăn trở xây dựng phương án giảng dạy cho riêng mình là điều cực kì quan trọng không ai thay thế được. Tuy nhiên để có một giáo án có chất lượng cũng không phải là điều dễ dàng. Xuất phát từ thực tế tôi đã trao đổi và chỉ đạo tới giáo viên thực hiện tiến trình soạn giáo án theo các bước sau: - Bƣớc 1: Đọc kĩ sách giáo khoa, tóm tắt cuối bài, câu hỏi và bài tập mà sách giáo khoa đưa ra: Tóm tắt chính là những kiến thức cốt lõi, câu hỏi và bài tập là những yêu cầu về kiến thức và kỹ năng của bài cần đạt được - Bƣớc 2: Xác định mục tiêu, kiến thức trọng tâm, kiến thức cốt lõi của bài: Có người cho rằng, các kiến thức có trong bài cứ khai thác cho hết, thế là đạt mục tiêu bài học. Đó chỉ là quan niệm có tính chất đơn giản. Thực tế đây là điều rất quan trọng quyết định hướng đi của tiết dạy. Nếu xác định đúng bài giảng sẽ trở nên ngắn gọn, tinh giản, vững chắc, đạt được mục tiêu, nếu xác định không đúng bài giảng sẽ trở nên ôm đồm, dàn trải, các kiến thức trọng tâm, kiến thức cốt lõi khắc hoạ không rõ nét, phân bố thời gian không hợp lý, mất nhiều thời gian vào các kiến thức không trọng tâm, không hoàn thành được khối lượng kiến thức và kỹ năng, không đạt được mục tiêu bài học. Vậy làm thế nào để xác định đúng mục tiêu, kiến thức trọng tâm, kiến thức cốt lõi của bài? Điều này đòi hỏi phải đọc kĩ nội dung sách giáo khoa và xác định vị trí của bài trong hệ thống kiến thức của chương. Trong đó tóm tắt sách giáo khoa, câu hỏi và bài tập cuối bài là gợi ý tốt về kiến thức trọng tâm, kiến thức cốt lõi mà học sinh phải nắm được sau khi học. - Bƣớc 3: Đọc tài liệu tham khảo về các nội dung liên quan đến bài giảng: Sách giáo khoa viết rất cô đọng và súc tích. Nếu không dành thời gian thích đáng cho việc đọc tài liệu tham khảo thì những điều chúng ta trình bày sẽ rất đơn sơ, ít có sức thuyết phục, điều này thể hiện rõ trong các trường hợp thầy giáo giảng giải các kiến thức, vận dụng kiến thức vào thực tế. Việc đọc các tài liệu tham khảo về nội dung liên quan đến bài giảng giúp chúng ta hiểu sâu, hiểu thấu đáo các kiến thức, điều đó làm cho việc trình bày bài giảng được thực hiện một cách tự tin, chính xác, sâu sắc. Tuy nhiên, trong giờ giảng chỉ trình bày ở một mức độ nhất định phù hợp với mục tiêu và yêu cầu của bài. Có giáo viên để thể hiện bài giảng sâu bằng cách đưa vào bài giảng quá nhiều ví dụ, nhiều kiến thức phức tạp. Điều đó chỉ làm cho bài giảng trở nên ôm đồm gây rối trí mất thời gian vô ích của học sinh và đương nhiên không đạt được mục tiêu của bài học. Bài giảng sâu được thể hiện ở chỗ là người thầy làm cho học sinh hiểu rõ, hiểu đúng, nắm được bản chất của kiến thức và vận dụng được các kiến thức của bài học để trả lời các tình huống lý thuyết, bài tập và thực tiễn đặt ra. Khi soạn bài phải lưu ý đến tính thực tiễn, xác định xem những kiến thức nào của bài cần có những ví dụ minh hoạ hoặc vận dụng để giải quyết các tình huống lý thuyết, tình huống thực tiễn và bài tập đặt ra. Điều này vừa là yêu cầu của bài giảng vừa làm tăng tính sinh động của giờ dạy. Tuy nhiên các dẫn chứng đưa ra chỉ cần vừa đủ, thật sự điển hình, tránh đưa quá nhiều làm cho bài giảng ôm đồm, mất thời gian không cần thiết - Bƣớc 4: Lựa chọn phương pháp giảng dạy Phương pháp giảng dạy cần được vận dụng linh hoạt tuỳ từng nội dung cụ thể của bài. Dù dùng phương pháp nào đều phải thể hiện được phương châm: lấy học sinh làm trung tâm. Trong quá trình soạn giáo án nên cố gắng tìm cách chuyển đổi nội dung bài dạy thành các tình huống có vấn đề để dẫn dắt học sinh khám phá kiến thức. Điều này vừa là yêu cầu của phương pháp dạy học vừa làm tăng tính sinh động của giờ dạy. Các câu hỏi đặt ra phải hợp lý, có tính định hướng, có tác dụng phát huy trí lực học sinh, tránh sử dụng các câu hỏi vụn vặt, quá đơn giản . Nói chung các bài giảng được trình bày theo cấu trúc của sách giáo khoa, tuy nhiên ở một số bài có thể được trình bày theo cấu trúc khác tuỳ vào phương án giảng dạy của giáo viên, ví dụ như: sắp xếp lại trình tự các phần,… Đối với những giáo viên soạn giáo án bổ sung thì cần nghiên cứu kĩ sách thiết kế và căn cứ vào thực tế để có những bổ sung hợp lý . Để có những trang giáo án có chất lượng về nội dung và đẹp về hình thức tôi đã thống nhất với giáo viên về cách trình bày sao cho khoa học. Ví dụ: Quy định về kẻ hết buổi, hết tuần, chọn Font chữ( đối với giáo án soạn trên máy tính), gạch chân các đề mục,… Để kiểm tra và đánh giá việc soạn giáo án của giáo viên, hàng tuần BGH duyệt giáo án theo lịch, đánh giá cho điểm công khai và rút kinh nghiệm trực tiếp với giáo viên. Để tạo phong trào thi đua, trường đẫ tổ chức thi Giáo án và trưng bày vào đợt 20/11, sau đợt thi có đánh giá nhận xét, xếp loại cụ thể, chính xác, công bằng. Bộ giáo án của các đ/c: Lương Thị Hường, Vũ Thị Khải (Khối1), Nguyễn Thị Lan Anh , (Khối 2), Nguyễn Thị lựu ( Khối 3), Nguyễn Thị Nhuận ( Khối 4), Trần Thị Minh Tâm, ( Khối 5),….đã được triển lãm trong toàn trường. Qua các việc làm trên, tôi thấy ở trường tôi các đồng chí giáo viên đã thực hiện rất nghiêm túc việc soạn bài, chất lượng bài soạn được nâng cao. Qua các đợt kiểm tra của Phòng Giáo dục trường được đánh giá là có nhiều hồ sơ tốt, bài soạn đã đi sâu vào đổi mới phương pháp và nêu được trọng tâm chính của bài, nâng cao chất lượng giảng dạy các môn học. Kết quả cụ thể: Hồ sơ sổ sách có: 17 bộ xếp loại tốt, Khá :8 bộ, Trung bình: 5 bộ . b.Để tiết dạy thành công đòi hỏi: - Giờ giảng phải thể hiện được các yêu cầu đã nêu trong giáo án, sinh động, phân bố thời gian hợp lý, phát huy được tính tích cực của học sinh. - Lời nói, trình bày của người thầy phải sinh động: việc tạo cho giờ dạy có tính sinh động có ý nghĩa cực kì quan trọng giup học sinh tiếp thu hào hứng, đưa lại hiệu quả cao, người ta thường gọi đó là bài giảng có hồn. Có lớp giờ giảng diễn ra một cách nhạt nhẽo, buồn tẻ, nặng nề, mặc dù hoàn thành nhưng hiệu quả rất thấp, những dấu ấn của bài giảng để lại trong trí não học sinh rất mờ nhạt, đó là những bài giảng không có hồn. Sự sinh động trong tiết học liên quan đến rất nhiều yếu tố: chuẩn bị bài kĩ lưỡng, nắm chắc, hiểu sâu, biết rộng những điều trình bày, lòng yêu nghề, tinh thần trách nhiệm đối với học sinh và xử lý các tình huống sư phạm linh hoạt. Sự hào hứng trong lời giảng của thầy sẽ khơi dậy, lôi cuốn sự hào hứng tiếp thu và xây dựng bài của học sinh. - Phân bố thời gian hợp lý với yêu cầu từng phần, từng đơn vị kiến thức làm cho bài giảng hài hòa cân đối. - Tinh giản bài giảng: thể hiện ở chỗ các nội dung kiến thức được trình bày ngắn gọn, vừa đủ, không đưa vào các vấn đề phức tạp không cần thiết, không phù hợp với yêu cầu bài dạy và trình độ học sinh. Các ví dụ và hình ảnh minh họa cho bài giảng phải thật điển hình số lượng vừa đủ, nếu đưa vào quá nhiều giờ giảng sẽ trở nên ôm đồm nặng nề, tốn phí thời gian không cần thiết, đồng thời hạn chế thời gian diễn giải kiến thức. Có giáo viên tưởng rằng đưa được nhiều tranh ảnh, ví dụ sẽ làm cho sự thành công của bài giảng tăng lên, thật là nhầm lẫn. Giờ dạy tinh giản còn thể hiện ở chỗ là dành nhiều thời gian cho kiến thức trọng tâm, kiến thức cốt lõi, còn kiến thức không phải trọng tâm không cần dành nhiều thời gian để giảng giải, khai thác. Kết thúc giờ dạy thầy giáo và học sinh phải có cảm giác thoải mái, nhẹ nhõm mới thực sự thành công. Nếu thầy giáo và học sinh phải làm việc cật lực, vội vã thì dù những điều thầy trình bày được chuẩn bị rất công phu thì hiệu quả giờ dạy vẫn thấp. - Vững chắc thể hiện: dạy đủ, đúng, sâu các kiến thức trọng tâm, học sinh hiểu và vận dụng được các kiến thức giải quyết được các tình huống lý thuyết, bài tập và thực tiễn đặt ra. - Trình bày bảng hợp lý: đảm bảo hài hoà giữa trả lời của học sinh với lời giảng và việc ghi bảng của thầy. Lƣu ý: Sau khi tiến hành giờ dạy cần rút kinh nghiệm bổ sung để lần sau dạy sẽ tốt hơn. Khi rút kinh nghiệm cần lưu ý các điểm sau: - Phân bố thời gian ở các phần - Tính hợp lý của hệ thống câu hỏi dẫn dắt - Tính rõ ràng, dễ hiểu, ngắn gọn, chính xác trong những lời diễn giảng của thầy - Sự tinh giản và vững chắc của giờ dạy - Sự hợp lý, hài hòa giữa câu hỏi của thầy, trả lời của học sinh, lời giảng và ghi bảng của thầy - Khả năng hiểu bài của học sinh và tính sinh động của giờ dạy Từng nội dung đó phải chỉ ra được ưu, nhược điểm. Đặc biệt là nhược điểm phải đưa ra phương án khắc phục. Chúng ta đều biết rằng để có một giờ dạy tốt quả không dễ chút nào. Dù là người có năng lực giỏi, tận tụy và tâm huyết với nghề nghiệp vẫn không dám nói rằng tất cả các giờ dạy đều thành công.Tuy nhiên với lòng yêu nghề, tinh thần trách nhiệm, làm việc có phương pháp, luôn có chí tiến thủ chúng ta sẽ ngày càng có nhiều giờ dạy có hiệu quả cao và tự tin khi đứng trên bục giảng. 3) Tăng cƣờng công tác dự giờ thăm lớp Dự giờ thăm lớp là một việc làm hết sức quan trọng đối với nhà quản lý chuyên môn và giáo viên nói chung .Bởi vậy kế hoạch dự giờ cần được xây dựng dưới nhiều hình thức: Báo trước, không báo trước, dự giờ song song, dự giờ có mời đồng nghiệp cùng dự,… Để xây dựng kế hoạch dự giờ hiệu quả thiết thực người CBQL cần bám sát phân phối chương trình, chẳng hạn dự khối 1 vào thời gian nào? nhằm tháo gỡ vấn đề gì? VD: dự vào tiết nào? Hay khối 2 dự môn Toán bài nào? ,… Để xây dựng kế hoạch dự giờ cần dựa trên việc phân loại tay nghề nghiệp vụ sư phạm GV.Đối với GV đầu đàn của trường thì dự tiết nào mà CBQL cho là khó dạy để xem GV tháo gỡ chỗ vướng đó như thế nào? Đối với GV mới ra trường hay chuyển khối thì cần dự những tiết chuyển từ dạng bài này sang dạng bài khác xem GV đó có nắm chắc tiến trình lên lớp hay không? Hay dự tiết dạy lí thuyết, tiết dạy thực hành xem GV đó truyền tải nội dung bài ra sao? Đối với GV tay nghề chưa vững cần thường xuyên dự giờ để GV luôn luôn chuẩn bị tâm thế cũng như ý thức đối với nghề nghiệp hơn. Căn cứ vào thời khoá biểu trên lớp của mỗi giáo viên, phó hiệu trưởng cùng với các tổ trưởng chuyên môn lên lịch dự giờ cụ thể cho mỗi giáo viên. Trước đây các giờ trống, mọi người thường không biết làm gì thì nay đã có lịch cụ thể để giáo viên đến dự giờ các đồng nghiệp. Việc làm này đã giúp giáo viên tự giác, tích cực hơn rất nhiều trong hoạt động dự giờ. Nếu như trước đây giáo viên e ngại không đến dự giờ đồng nghiệp vì làm họ mất tự nhiên và nhiều người không thông cảm cho rằng người đi dự là tinh vi này nọ,... thì nay giáo viên đã chủ động hơn vì có lịch cụ thể. Đây là một hoạt động theo chúng tôi là rất có hiệu quả, người dạy thì chủ động về bài dạy do đó chất lượng bài dạy sẽ cao hơn rất nhiều. Một điểm cũng rất quan trọng là chúng tôi đã chủ động đưa các giáo viên đến dự cùng một bài dạy nhưng của các giáo viên khác nhau, trên cơ sở đó giáo viên dự giờ sẽ rút kinh nghiệm qua mỗi tiết dạy và sẽ học được ở mỗi người dạy cách chủ động sáng tạo khi xử lí tình huống, lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức lớp học. Sau khi dự giờ, Ban giám hiệu phải có đánh giá nhận xét chính xác, chân tình có tính xây dựng, khuyến khích giáo viên phát triển được những mặt mạnh, những điển hình tốt, điều chỉnh những mặt còn hạn chế của giaó viên. Chính vì việc dự giờ được tiến hành có kế hoạch, thường xuyên nên Ban giám hiệu đã đánh giá được năng lực của giáo viên, phát hiện những giáo viên có tài năng, cử đi dự thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện, cấp tỉnh đạt giải cao.( năm học 2011- 2012 và 20122013 trường có 3 đ/c tham dự thi Gv giỏi cấp huyện thì cả 3 đ/c đều đạt, có 2 đ/c được công nhận là GV giỏi cấp Tỉnh, có 1 đ/c được đi giao lưu giáo viên giỏi cấp quốc gia và được công nhận giáo viên giỏi cấp quốc gia.), Qua công tác dự giờ BGH cũng đồng thời kịp thời nhắc nhở, giúp đỡ các đồng chí giáo viên còn non yếu về tay nghề vươn lên trong chuyên môn. Nhờ thực hiện các biện pháp trên mà trong 2 năm vừa qua, đội ngũ giáo viên của trường tôi về năng lực đã được nâng lên rõ rệt, chủ động hơn trong tâm thế lên lớp. Giáo viên tự tin, vững vàng về kiến thức, nhuần nhuyễn về phương pháp.Hạn chế được tâm lý ngại đón BGH dự giờ mà thay vào đó là sự sẵn sàng trao đổi chuyên môn cùng BGH và đồng nghiệp. 4) Nâng cao chất lƣợng sinh hoạt tổ chuyên môn Thực tế cho thấy trong nhà trường phổ thông hoạt động của các tổ chuyên môn đóng một vai trò hết sức quan trọng. Nó là cầu nối quan trọng giữa Ban giám hiệu và các giáo viên nhằm triển khai tất cả các nhiệm vụ chuyên môn của nhà trường. Vì vậy nếu tổ chuyên môn hoạt động có hiệu quả thì chắc chắn chất lượng giảng dạy của nhà trường sẽ được cải thiện đáng kể. Để việc sinh hoạt tổ chuyên môn trong nhà trường đi đúng hướng, đạt được mục tiêu và thực sự có chất lượng thì cần thiết phải quản lí, chỉ đạo nội dung này một cách khoa học, chặt chẽ và có những biện pháp quản lí khả thi nhất phù hợp điều kiện thực tế về đội ngũ giáo viên. Bồi dưỡng năng lực tổ chức, điều hành cho đội ngũ tổ khối trưởng, những người chủ trì các buổi SHCM vì thực tế cho thấy 1 buổi SHCM thành công phụ thuộc rất nhiều vào khả năng và chuyên môn của người điều hành. Tổ trưởng chủ động thiết kế nội dung, duyệt với phó Hiệu trưởng trước 3 ngày. Khi đó, tôi mới tư vấn cho tổ trưởng về nội dung để đảm bảo tính kế hoạch của nhà trường. Coi trọng sự chủ động, sáng tạo của tổ trưởng và giáo viên trong tổ chứ không áp đặt. Trong chuyên đề này, tôi mạnh dạn giới thiệu một số mô hình mà các tổ chuyên môn đã thực hiện thành công như sau: Mô hình 1. Thảo luận để nắm vững và vận dụng vào thực tiễn công tác những văn bản chỉ đạo như công văn 896/BGD&ĐT-GDTH ngày 13/2/2006 về đổi mới công tác quản lí, phân quyền tự chủ, tăng cường trách nhiệm cho hiệu trưởng và giáo viên; chỉ đạo điều chỉnh nội dung dạy học sao cho phù hợp với đối tượng học sinh trên cơ sở đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng cơ bản theo quy định;, …Thảo luận, tìm biện pháp có hiệu quả để phụ đạo học sinh yếu hoàn thành kiến thức, kĩ năng cơ bản, sử dụng thiết bị dạy học, thiết kế phiếu học tập, cách hình thành động cơ học tập cho học sinh… Mô hình 2. Cả tổ chuyên môn dự giờ 1 tiết, rút kinh nghiệm một cách tỉ mỉ, cụ thể từ phương pháp dạy học, hình thức tổ chức đến điều kiện trang thiết bị dạy học, tình hình thực tế của học sinh trong tổ. Mô hình 3. Nghiên cứu, thảo luận 2- 4 tiết dạy khó trong 2 tuần kế tiếp. Mô hình 4. Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học. Nội dung này là một phần trong kế hoạch thực hiện phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" và thực hiện nhiệm vụ năm học "Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lí và dạy học". Căn cứ tình hình thực tế, tôi chỉ đạo làm từ bước khởi điểm, đó là bồi dưỡng cho giáo viên đã biết soạn thảo văn bản tập soạn giáo án điện tử, khi đã tương đối thành thạo tôi chỉ đạo thảo luận, trao đổi kĩ thuật làm sao cho nhanh, dễ sử dụng, tiếp đó đến sử dụng các phần mềm khác như Violet để tạo bài trình chiếu hoặc các bài trắc nghiệm, các trò chơi học tập…, khai thác mạng tìm tư liệu và hướng dẫn giáo viên tổ chức cho học sinh tham gia giải toán trên mạng, trang http://www.ViOlympic.vn Mô hình 5. Đánh giá mức độ nắm kiến thức, kĩ năng môn đánh giá bằng điểm số sau mỗi kì kiểm tra định kì. Tôi chỉ đạo các tổ và giáo viên thống kê từng kiến thức, kĩ năng một ở mức độ học sinh đạt được, từ đó bàn biện pháp tăng cường bồi dưỡng, giúp đỡ để học sinh tiến bộ. Mô hình 6. Tổ chức chuyên đề Chuyên đề là vấn đề chuyên môn được nghiên cứu sâu cả về lí luận và thực tiễn, được xem xét toàn diện và thực hiện trong một thời gian tương đối dài, các biện pháp đưa ra phải được kiểm chứng trước khi báo cáo và áp dụng. Chuyên đề thương xuất phát từ yêu cầu thực tiễn công tác như dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng, bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu, dạy học theo nhóm đối tượng học sinh… Chuyên đề phải có báo cáo bằng văn bản, có thể được dạy minh hoạ tùy theo nội dung. Các chuyên đề dự định làm trong năm học phải được xây dựng, dự kiến từ đầu năm học, phân công người thực hiện. Báo cáo chuyên đề phải được phô-tô-cop-py gửi đến các thành viên tham gia trước 3- 5 ngày để nghiên cứu trước. Cách tiến hành buổi sinh hoạt chuyên đề: - Tổ trưởng tập trung các thành viên tham dự, nêu mục đích, nội dung buổi sinh hoạt. - Báo cáo viên trình bày nội dung chuyên đề bằng văn bản. - Dự giờ dạy minh họa - Rút kinh nghiệm cho báo cáo và giờ dạy minh họa. Thống nhất những nội dung áp dụng vào công tác giảng dạy. Mô hình 7. Tổ chức các cuộc thi Các cuộc thi cũng là một hình thức sinh hoạt chuyên môn rất có tác dụng. Tôi đã chỉ đạo các tổ chuyên môn tổ chức thi đọc hay, viết đẹp; thi viết bảng, thi soạn giáo án, thi thực hành làm sản phẩm thủ công, … để nắm vững hơn kĩ thuật… Muốn cho chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn được nâng lên thì người cán bộ quản lí phải kiên trì, không thể nóng vội, phải thực hiện dần dần từng chút một, mưa dầm thấm sâu chứ không thể đốt cháy giai đoạn, không thể làm cho năng lực của đội ngũ giáo viên ngay lập tức nâng cao ngay được. Phải tổ chức, hướng dẫn một cách cụ thể, tỉ mỉ từ khâu kế hoạch đến nội dung thực hiện từng buổi sinh hoạt tổ chuyên môn. Quản lí cả về thời gian, thời lượng, quan tâm từ nội dung đến cách tiến hành sinh hoạt tổ chuyên môn. 5) Nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học Xuất phát từ nhận thức của học sinh tiểu học là :” Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng – từ tư duy trừu đến thực tiễn khách quan” Do vậy trong giờ học việc sử dụng đồ dùng là rất cần thiết. Chính vì vậy tôi rất chú ý đến việc GV sử dụng đồ dùng dạy học và chỉ đạo tổ chuyên môn: - Thống nhất việc chuẩn bị đồ dùng dạy học cho các tiết của tuần tới (trong điều kiện nhà trường hiện có). - Tăng cường sử dụng đồ dùng, thiết bị đã được cấp một cách hiệu quả nhất. Tuyệt đối không dạy chay( có đồ dùng mà không sử dụng). -Tổ chức thi sử dụng đồ dùng dạy học. - Chú trọng kĩ năng sử dụng đồ dùng, bảo vệ đồ dùng sau khi giảng dạy. - Khuyến khích giáo viên sử dụng phần mềm dạy học, thiết bị dạy học điện tử. Để đẩy mạnh phong trào ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tôi đã làm từng bước như sau: Bƣớc 1: Khuyến khích giáo viên dạy học và soạn giảng có ứng dụng công nghệ thông tin, có thể lúc đầu là những tiết dạy trong hội giảng được sự hỗ trự của nhữnh giáo viên có tay nghề vi tính tốt. Bƣớc 2: Nhân điển hình bằng việc tuyên dương những tiết dạy có ứng dụng công nghệ thông tin, tuyên dương những giáo viên đi đầu trong việc tiếp cận công nghệ thông tin. Bƣớc 3:Trong hội giảng hoặc dự giờ toàn diện có cộng điểm ưu tiên. Bƣớc 4: Giao cho các tổ chuyên môn mỗi tháng soạn 01 giáo án điện tử, BGH bố trí phòng học có máy chiếu để các lớp trong khối được lần lượt học tiết học có ứng dụng công nghệ thông tin đó. Kết quả: Đợt Hội giảng 20/11: có 85% GV sử dụng giáo điện tử; hội giảng đợt 2:Mừng Đảng, mừng xuân có 100% GV sử dụng giáo án điện tử . Đồng thời Ban giám hiệu đã chỉ đạo: + Thành lập ban kiểm tra đồ dùng dạy học mà đồng chí Hiệu trưởng-Trưởng ban, Hiệu phó - Phó ban, 5 Khối trưởng là uỷ viên với các hình thức kiểm tra: Đột xuất hoặc báo trước. + Đồ dùng phải được sắp xếp theo môn, ngăn nắp và khoa học + Có lịch mượn, trả đồ dùng. + Có sổ theo dõi giáo viên mượn, trả đồ dùng để có minh chứng đánh giá thi đua. + Hàng năm, nhà trường bổ sung các đồ dùng còn thiếu, thanh lí đồ dùng dạy học đã cũ nát, hiệu quả kém. + Sau đợt thi giáo viên dạy giỏi các cấp, mỗi giáo viên nộp một đồ dùng có chất lượng vào phòng đồ dùng. Kết quả:Giáo viên sử dụng và khai thác có hiệu quả đồ dùng dạy học; nhờ đồ dùng dạy học phong phú nên giáo viên có điều kiện đổi mới phương pháp giảng dạy, học sinh hứng thú học tập.Từ đó góp phần nâng cao chất lượng giờ dạy. 6) Đa dạng hoá các hình thức bồi dƣỡng đội ngũ giáo viên a. Bồi dưỡng tại trường - Tổ chức cá hoạt động tự bồi dưỡng tại trường mang lại hiệu quả cao phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của đa số giáo viên. Tổ trưởng chuyên môn, giáo viên dạy giỏi các cấp là những cốt cán trong công tác bồi dưỡng. Họ vừa là người gương mẫu đi đầu trong việc bồi dưỡng vừa có trách nhiệm giúp đỡ những thành viên trong tổ. - Tổ chức hội giảng( như tổ chức hội giảng theo chủ điểm, hội thi chọn giáo viên giỏi trường) tổ chức các cuộc thi nghiệp vụ sư phạm để khích lệ GV có tình yêu nghề nghiệp và say sưa bồi dưỡng tay nghề. - Tổ chức học tập, hội thảo theo chuyên đề: Nhà trường tổ chức hặc giao cho tổ trưởng chuyên môn, những GV có năng lực cao chuẩn bị nội dung theo chủ đề hội thảo. Khi đã thống nhất thì phải quyết tâm biến nó thành hiện thực sâu rộng. - Tham mưu với hiệu trưởng chỉ đạo bộ phận thư viện nhà trường đặt mua các loại sách báo tạp chí, tập san, sách tham khảo chuyên môn để giáo viên tham khảo. - Khuyến khích động viên phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm, làm đồ dùng dạy học. Cần tổ chức nghiệm thu SKKN một cách nghiêm túc và những SKKN cần được áp dụng vào thực tế của nhà trường. - Động viên Gv học tin học : học tại các trung tâm- nhà trường hỗ trợ một phần kinh phí. Năm học 2008- 2009 nhà trường có 9 giáo viên biết sử dụng máy vi tính. Cho đến nay trường đã có 21 cán bộ giáo viên sử dụng thành thạo máy vi tính. b. Bồi dưỡng ngắn hạn: Cử Gv tham dự các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ ngắn hạn do Sở, Phòng GD tổ chức.Sau khi tham dự phải phổ biến, áp dụng. Năm học 2010- 2011 trường đã cử 7 đồng chí tham dự lớp bồi dưỡng ngắn hạn do Sở GD- ĐT tổ chức. 100% GV được bồi dưỡng tại huỵên do Phòng GD- ĐT tổ chức. c .Học các lớp đào tạo bồi dưỡng từ xa, lớp học tập trung Bố trí, tạo điều kiện cho GV tham dự các lớp học từ xa để nâng cao trình độ trên chuẩn.(Tính đến năm học 2013- 2014 nhà trường có 2 đ/c theo học lớp học ĐH tập trung). 7) Xây dựng một tập thể Sƣ phạm đoàn kết, thân ái Để nâng cao chất lượng dạy học ở nhà trường , BGH cần phải động viên tinh thần chủ động tích cực, tự giác của mọi thành viên trong nhà trường, tạo ra bầu không khí cởi mở tin cậy lẫn nhau, giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ làm sao cho mọi người cảm thấy được và thực sự xem ngôi trường mình dạy như “ ngôi nhà thứ hai”.Tôi đã kết hợp cùng với các đ/c trong BGH tiến hành một số hình thức sau: - Tổ chức các ngày lễ, ngày kỉ niệm trong năm nhằm đem lại bầu không khí vui vẻ, tình đồng nghiệp và gắn bó với nhà trường. Xây dựng quỹ phúc lợi xã hội nhằm tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí như: Đi du lịch, nghỉ mát vào các ngày lễ, nghỉ hè nhằm gắn kết hơn nữa tình đồng nghiệp giữa các giáo viên trong tập thể Sư phạm. Tuỳ vào điều kiện kinh tế mà nhà trường có những món quà nhỏ để tặng giáo viên, nhân viên trong những ngày lễ, tết. - Tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của cán bộ giáo viên, lắng nghe ý kiến, tin tưởng vào khả năng của họ và giao việc phù hợp nhằm khơi dậy tiềm năng của giáo viên. Lựa chọn và bồi dưỡng giáo viên côt cán, tạo điều kiện cho họ tham gia các lớp tập huấn, nâng cao trình độ chuyên môn. - BGH khéo léo kết hợp với Ban chấp hành Công đoàn vận động giáo viên trong tập thể có ý thức chia sẻ cùng nhau khi có niềm vui nỗi buồn trong cuộc sống. Kịp thời thăm hỏi và động viên những giáo viên có hoàn cảnh gia đình khó khăn hoặc gặp những sự cố rủi ro để họ cảm thấy quanh họ là một tập thể là những người thân thiết luôn gắn bó chia sẻ với họ, từ đó khơi dậy ý thức trách nhiệm đối với tập thể và nhà trường. - Tạo ra bầu không khí thoải mái ,vui vẻ trong tập thể sư phạm là việc rất quan trọng để giáo viên phát huy hết tinh thần trách nhiệm, không e dè trong việc trao đổi học tập kinh nghiệm lẫn nhau, sẵn sàng đem hết tài năng của mình cống hiến cho sự nghiệp giáo dục và như vậy họ sẽ góp phần đưa chất lượng dạy học của nhà trường đi lên. - Bên cạnh đó, hiệu quả công việc của giáo viên cũng phải được BGH khen ngợi trước tập thể bằng nhiều hình thức, nhiều khi chỉ bằng một lời khen ngợi, một câu động viên đúng lúc đã có tác dụng rất lớn khiến giáo viên đó phấn khởi và không ngần ngại nỗ lực chứng tỏ bản thân mình.Để làm được điều này đòi hỏi người lãnh đạo phải tinh ý, nắm bắt tâm lý từng giáo viên trong trường để áp dụng phương thức nào cho phù hợp nhất. Kết quả: Tập thể Sư phạm nhà trường luôn giữ được bầu không khí vui vẻ,đoàn kết thân ái. Công đoàn là một tổ ấm gia đình, trong đó mọi thành viên đều chân tình cởi mở. Giáo viên luôn tìm thấy nguồn động viên, khuyến khích của tập thể,từ đó thêm gắn bó với trường và yên tâm phấn đấu trong giảng dạy để vươn lên. CHƢƠNG IV KẾT QUẢ Với những biện pháp quản lý nêu trên, Ban giám hiệu đã từng bước đưa chất lượng giảng dạy của giáo viên ngày một nâng cao thể hiện ở các kết quả sau đây: Năm học 2011 - 2012: Trường tiểu học Dị Chế luôn phấn đấu và giữ vững danh hiệu tập thể lao động tiên tiến và Lần đầu tiên được UBND huyện tiên lữ tặng cờ có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua của nghành. * Chất lượng hai mặt giáo dục của HS: T/Số Giới tính Hạnh kiểm Học lực (Cuối năm)
- Xem thêm -