Sinh kế hiện nay của người dao thanh y ở xã xuân vân, huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang

  • Số trang: 107 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 19 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM VIỆN DÂN TỘC HỌC ***** BÁO CÁO TẬP SỰ TÊN ĐỀ TÀI SINH KẾ HIỆN NAY CỦA NGƯỜI DAO THANH Y Ở XÃ XUÂN VÂN, HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG Người hướng dẫn: TS. Lý Hành Sơn Người thực hiện: Lê Thị Thỏa Hà Nội, 2011 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua Việt Nam không ngừng có những chuyển biến tích cực, đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - văn hóa xã hội. Điều đó đã chứng minh và khẳng định dù trải qua thăng trầm lịch sử, qua nhiều cuộc chiến tranh ác liệt mà dân tộc ta vẫn đứng vững và vươn lên, đó là vì truyền thống yêu nước cộng hưởng với sức mạnh đoàn kết của 54 dân tộc anh em đang từng ngày, từng giờ cùng chung tay xây dựng đất nước giàu mạnh, vươn cao cùng bạn bè trong khu vực và trên thế giới. Thực tế cho thấy, trong công cuộc xây dựng đất nước, mục tiêu của Đảng ta là phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội ở tất cả các vùng miền trong cả nước. Cụ thể là Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo thực hiện nhiều chương trình để phát triển toàn diện các địa bàn miền núi và biên giới là nơi có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống, đặc biệt quan tâm tới những vùng còn nhiều khó khăn, để cho miền núi cũng như đồng bằng, dân tộc đa số hay thiểu số đều có điều kiện phát triển như nhau, đời sống được nâng cao cả về vật chất và tinh thần. Để thực hiện mục tiêu đó, Đảng và Nhà nước ta đã và đang áp dụng nhiều chính sách nhất quán và mang tầm chiến lược đối với tất cả các vùng miền và các dân tộc thiểu số trên cả nước. Trong các chính sách đó, vấn đề sinh kế tộc người luôn được đặt lên hàng đầu. Ngay từ Đại hội VIII của Đảng, chương trình xóa đói giảm nghèo đã được triển khai trên toàn quốc, tập trung lớn ở các tỉnh miền núi, ven biển, hải đảo và biên giới với các chương trình 133, 134, 135 và chương trình 135 giai đoạn 2 (2006 - 2010). Cuối năm 2008 lại có thêm Nghị quyết 30a (hỗ trợ cho 61 huyện nghèo) với hàng loạt kế hoạch về định canh, định cư và xây dựng khu kinh tế mới, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, khuyến khích các doanh nghiệp nông - lâm - ngư... trợ giúp đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn. 2 Tuy nhiên, tùy từng vùng miền, việc thực thi các chính sách hay chương trình hỗ trợ xóa đói giảm nghèo có thể ứng biến một cách linh hoạt, phù hợp với hoàn cảnh và môi trường nơi đó. Nước ta có thành phần dân tộc đa dạng gồm 54 dân tộc anh em, các hoạt động sinh kế của họ cũng rất phong phú và đều tác động vào môi trường tự nhiên để tạo ra của cải vật chất đảm bảo cuộc sống mưu sinh. Sinh kế các tộc người đều không hoàn toàn giống nhau. Bên cạnh bức tranh sinh kế truyền thống - phương thức sản xuất mang tính đặc trưng tộc người, trong bối cảnh hội nhập và xu hướng mở rộng kinh tế thị trường, các tộc người không ngừng tìm kiếm, nắm bắt những cơ hội để xác lập thêm nhiều sinh kế mới, nhằm cải thiện, nâng cao hơn về đời sống, tích cực vươn lên đẩy lùi đói nghèo. Thực trạng hoạt động sinh kế hiện nay ở người Dao nói chung và người Dao Thanh y nói riêng là một ví dụ điển hình cho trường hợp này. Mặt khác, vấn đề sinh kế tộc người hiện vẫn đang được quan tâm đặc biệt của rất nhiều lĩnh vực nghiên cứu, của các cấp các ngành, trong đó vấn đề đặt ra để làm sao đảm bảo sinh kế bền vững là yêu cầu bức thiết phải đạt được. Song, mấu chốt vẫn phải nắm bắt được đặc điểm sinh kế của con người và tộc người ở mỗi vùng, mỗi khu vực, từ đó mới có thể định hướng và hoạch định chính sách phát triển sinh kế bền vững. Bởi những lí do trên, tôi chọn đề tài: Sinh kế hiện nay của người Dao Thanh y ở xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang làm đề tài nghiên cứu cho Báo cáo tập sự của mình. 2. Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở các tài liệu đã được công bố, nhất là nguồn tư liệu điền dã dân tộc học (nguồn tư liệu chính) mà bản tôi thân thu thập được tại địa bàn được chọn, mục tiêu nghiên cứu của đề tài tập sự này như sau: - Trình bày một cách tổng quan về bức tranh sinh kế của người Dao Thanh y ở xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang; 3 - Nêu lên những hoạt động sinh kế của người Dao Thanh y ở xã Xuân Vân trong bối cảnh hiện nay; - Khuyến nghị một số giải pháp cho việc phát triển sinh kế bền vững hơn trong khung cảnh mới đối với người Dao Thanh y ở xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tinh Tuyên Quang. Kết quả thực hiện mục tiêu nghiên cứu của đề tài đã được thể hiện rõ trong bản báo cáo tập sự. Cụ thể là nội dung của bản báo cáo này đã trả lời được các câu hỏi như sau: Thứ nhất: Sinh kế truyền thống của người Dao Thanh y ở xã Xuân Vân trước đây bao gồm những hoạt động như thế nào? Câu hỏi này được thể hiện ở Chương 2 của báo cáo với 2 nội dung chính: Một số khái niệm về sinh kế - sinh kế tộc người; các hoạt động sinh kế truyền thống của người Dao Thanh y. Thứ hai: Trong bối cảnh hiện nay, sinh kế của người Dao Thanh y thay đổi như thế nào? Dưới tác động của yếu tố nào? Đây là nội dung của Chương 3 trong báo cáo, cụ thể là đã giải quyết 2 vấn đề lớn: Bức tranh sinh kế của người Dao Thanh y hiện nay và yếu tố tác động tới sự biến đổi sinh kế. Thứ ba: Những giải pháp gì có thể đặt ra để các cấp các ngành trợ giúp người Dao Thanh y phát huy được các thế mạnh của mình cũng như biết nắm bắt cơ hội, đối mặt với thử thách mà tộc người sẽ phải lựa chọn? Qua đó, kết quả nghiên cứu của đề tài cũng muốn cung cấp thêm một số tư liệu nhằm góp phần cho việc hiểu biết và nghiên cứu về người Dao nói chung và người Dao Thanh y ở xã Xuân Vân nói riêng. Từ đó, có những chính sách giúp họ phát huy được thế mạnh sẵn có, tận dụng được nhiều hơn cơ hội làm giàu cho chính tộc người mình và làm giàu cho xã hội. 3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Người Dao ở nước ta có số lượng tương đối đông, đứng hàng thứ 9 sau các dân tộc Kinh, Tày, Thái, Mường, Khơ me, Hoa, Nùng và Hmông. Tính đến 4 tháng 4 năm 2009, dân số người Dao ở nước ta là 751.067 người, trong đó nam 377.185 người, nữ 373.882 người, được xếp vào nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao thuộc ngữ hệ Nam Á. Ngoài tên gọi chung là Dao, còn có tên gọi khác là: Mán, Động, Trại, Dìu miền, Kiềm miền, Kìm mùn... được phân bố ở hầu hết các tỉnh miền núi và trung du phía Bắc như: Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Cao Bằng... Trong đó Tuyên Quang có số lượng người Dao khá đông. Ngoài ra, người Dao còn có mặt ở một số tỉnh phía Nam và Tây Nguyên như Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Phước... Bởi vậy, người Dao ở nước ta đã từ lâu luôn là đối tượng được quan tâm của nhiều ngành khoa học và nhiều nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước. Người đầu tiên ở nước ta viết về người Dao là Lê Quý Đôn với tác phẩm Kiến văn tiểu lục đã phác họa một vài nét khái quát về đặc điểm hoạt động sinh kế, phong tục của người Dao xứ Tuyên Quang. Sau đó, các tác giả Hoàng Bình Chính với Hưng Hóa phong thổ lục, Phạm Thận Duật trong tác phẩm Hưng Hóa kí lược cũng đã đề cập tới một số nhóm người Mán như Mán Sừng (Dao Đỏ), Mán Đạn Tiên (Dao Làn Tiẻn), kể cả nhóm người Sơn Tạng và nhóm Mán ở châu Thủy Vĩ Văn Bàn (Lào Cai) Năm 1959, nhà dân tộc học Mạc Đường trong cuốn Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam (1959) đã tổng hợp rất nhiều tư liệu và thông tin về Người Dao trên lãnh thổ Việt Nam, từ khu vực cư trú, tên gọi, đặc điểm văn hóa - xã hội, phong tục tập quán cũng như hoạt động kinh tế tộc người. Năm 1968 Phan Hữu Dật viết chung với Hoàng Hoa Toàn Về vấn đề xác minh và phân loại nhóm Dao ở Tuyên Quang in trong cuốn “Một số vấn đề Dân tộc học” đã trình bày các cơ sở khoa học phân loại các nhóm Dao ở Tuyên Quang nói chung, về sau phương pháp phân loại này cũng đã được nhiều công trình nghiên cứu tiếp thu. Trong lĩnh vực văn hóa vật chất không thể không kể tới Nguyễn Khắc Tụng đã có không ít công trình nghiên cứu về đặc điểm cư trú và nhà ở của người Dao ở Việt Nam. Đặc biệt, Ông là người đầu tiên tìm ra những tiêu chí 5 khá thuyết phục để phân chia tộc người Dao ở nước ta thành nhiều ngành nhóm địa phương khác nhau. Bên cạnh đó, Nguyễn Khắc Tụng cùng với tập thể tác giả Bế Viết Đẳng, Nông Trung và Nguyễn Nam Tiến đã viết và cho xuất bản cuốn sách Người Dao ở Việt Nam (1971). Cuốn sách này được coi như cẩm nang cho những ai bước đầu tìm hiểu và nghiên cứu về người Dao ở nước ta. Ngoài các vấn đề liên quan đến nguồn gốc lịch sử, địa vực cư trú, phong tục tập quán và sinh hoạt văn hóa của người Dao, cuốn sách đó còn đề cập khá sâu về hoạt động sinh kế của người Dao ở cả 3 vùng sinh thái trong những năm trước năm 1970, trong đó có tỉnh Tuyên Quang và huyện Yên Sơn. Đặc biệt, vào năm 1972, hai tác giả Hà Văn Viễn và Hà Văn Phụng đã cho ra mắt cuốn sách chuyên khảo với tiêu đề Các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang (1972). Trong đó, nội dung cuốn sách này cũng đã có nhiều tư liệu viết về tập quán hoạt động sinh kế của người Dao ở tỉnh Tuyên Quang nói chung, ở huyện Yên Sơn nói riêng. Một trong những tài liệu không thể không nhắc tới là cuốn Sự phát triển văn hóa xã hội người Dao: Hiện tại và tương lai do Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia xuất bản tại Hà Nội 1998. Đây là công trình tập hợp các bài viết, các bài nghiên cứu của các học giả trong nước và quốc tế trình bày tại Hội nghị Quốc tế lần thứ 7 về người Dao (tổ chức tại thành phố Thái Nguyên vào tháng 12 năm 1995). Nội dung các bài viết về người Dao trong công trình này đã thể hiện trên tất cả các khía cạnh từ nguồn gốc lịch sử, trang phục, phong tục tập quán... đến sự phát triển kinh tế xã hội của người Dao ở nước ta thời kỳ trước và sau đổi mới. Trong đó, nổi bật lên là các vấn đề về nhân học ứng dụng, nhân học phát triển như nghiên cứu về tri thức của người Dao với việc quản lí tài nguyên thiên nhiên. Hay như vấn đề phát triển nông thôn miền núi và dân tộc trong thời kì chuyển đổi kinh tế... Riêng các công trình và nghiên cứu đã được công bố viết về người Dao ở tỉnh Tuyên Quang, ngoài các cuốn sách như Các dân tộc thiểu số ở Tuyên 6 Quang (1972), Các dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu ở Tuyên Quang (2003)... trong nhiều năm trước đây cho đến nay cũng đã có nhiều luận văn, luận án, kể cả khóa luận tốt nghiệp của sinh viên các trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học văn hóa Hà Nội viết về người Dao ở Tuyên Quang dưới nhiều góc độ. Trong đó có một số đáng chú ý sau đây: + Những biến đổi của dân tộc Dao ở Tuyên Quang trong quá trình hợp tác hóa nông nghiệp (Luận văn tốt nghiệp Đại học của Nguyễn Văn Huy, 1967). Nội dung luận văn này đã đề cập đến các hoạt động sinh kế của người Dao ở Tuyên Quang trong thời kỳ làm ăn theo cơ chế hợp tác xã . + Vai trò phụ nữ dân tộc Dao ở xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang (Luận văn tốt nghiệp của Lý Thị Thanh Hà, 1999). + Văn hóa truyền thống người Dao Đỏ với dự án di dân tái định cư ở xã Hoàng Khai, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang (Khóa luận tốt nghiệp cử nhân văn hóa, 2008 của Triệu Thị Nhất). + Trang phục cổ truyền người Dao Đỏ ở Na Hang, Tuyên Quang (Luận văn thạc sĩ khoa học văn hóa, 2000 của Đặng Thị Quang)... Những nghiên cứu trên đã ghi lại những phong tục tập quán cũng như đặc điểm sinh kế của người Dao ở Tuyên Quang nói chung, có cả đối tượng là người Dao Thanh y. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu tập trung mô tả các yếu tố truyền thống như phong tục tập quán, trang phục, nghi lễ vòng đời... của người Dao trên cơ sở nhìn nhận dưới góc độ dân tộc học. Còn về khía cạnh sinh kế tộc người thì cũng đã thuộc thời kỳ trước đổi mới đất nước, sinh kế trong bối cảnh hiện nay của người Dao Thanh y thì chưa có nghiên cứu cụ thể. Đặc biệt, cho đến nay, hầu như chưa có nghiên cứu riêng và chuyên sâu về nhóm Dao Thanh y nói chung, ở Tuyên Quang và huyện Yên Sơn nói riêng. Vì vậy, rất cần những nghiên cứu tìm hiểu về sinh kế của nhóm người Dao này trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế hiện nay, để thấy được sự biến đổi, thích ứng với hoàn cảnh 7 môi trường, tinh thần vươn lên làm giàu cho bản thân người Dao Thanh y và tộc người Dao. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên là những tư liệu quý giá để giúp tôi hoàn thành tốt đề tài tập sự: Sinh kế hiện nay của người Dao Thanh y ở xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. 4. Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Người Dao Thanh y ở xã Xuân Vân thuộc huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. - Phạm vi nội dung nghiên cứu: Sinh kế của người Dao Thanh y trong giai đoạn hiện nay. Trong đó, có đề cập đến truyền thống và hiện tại dưới tác động của các yếu tố phát triển hiện nay. - Địa bàn nghiên cứu: Xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. 5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu Cơ sở lí luận - Cơ sở lý luận: Cơ sở lí luận của Luận văn chủ yếu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc. - Cách tiếp cận: + Tiếp cận từ góc nhìn Dân tộc học/Nhân học: Dân tộc là chủ thể của các hoạt động kinh tế - văn hóa - xã hội và các vấn đề đó đều mang tính tộc người. Trong đó, một trong những nghiên cứu quan trọng của nghành Dân tộc học/Nhân học là xem xét sự vật như nó vốn có từ con mắt của chủ thể, người trong cuộc, bởi vậy càng không được tìm cách áp đặt những đánh giá chủ quan của nhà khoa học. Có nghĩa là, mọi hoạt động sản xuất kinh tế cần được trao quyền và tiếng nói để người dân tộc thiểu số nói lên tâm sự, nguyện vọng của mình, đây cũng là lí do để người dân tộc thiểu số được lên tiếng. Ngoài ra, nhà 8 nghiên cứu cũng cần đặt các hoạt động sinh kế tộc người trong mối quan hệ biện chứng của chủ nghĩa duy vật lịch sử để thấy được quy luật của sự phát triển và mâu thuẫn là động lực của nó. Từ đó đưa ra những nhận xét chính xác và cụ thể về bức tranh sinh kế tộc người. Trong quá trình nghiên cứu về sinh kế của người Dao Thanh y ở xã Xuân Vân, chúng tôi luôn quán triệt quan điểm này, tức tiếp cận từ góc nhìn Dân tộc học/Nhân học. + Tiếp cận từ góc nhìn thực tiễn ở địa phương: Đó là việc tiến hành khảo sát và trực tiếp nghiên cứu các hình thức hoạt động sinh kế của người Dao Thanh y tại địa bàn được chọn là xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Trên cơ sở đó, đưa ra những nhận xét, kết luận từ kết quả nghiên cứu đã thu thập được tại địa phương. + Tiếp cận từ góc độ hệ thống: Trong quá trình nghiên cứu các hình thức hoạt động sinh kế của người Dao Thanh y, được xem xét mối quan hệ giữa các hình thức sinh kế với nhau và trong mối liên quan với các tộc người láng giềng như Tày, Kinh... Đồng thời, đặt trong bối cảnh vùng sinh thái của xã Xuân Vân và huyện Yên Sơn. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp luận: Luận văn quan tâm áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin để xem xét bức tranh hoạt động sinh kế truyền thống và biến đổi hiện nay của người Dao Thanh y ở xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn. Với phương pháp luận này, cần xem xét các hoạt động sinh kế của người Dao Thanh y nơi đây trong tương quan với các điều kiện cụ thể ở địa phương xã và huyện cũng như với các tộc người láng giềng. - Phương pháp nghiên cứu cụ thể: + Điền dã dân tộc học, trong đó sử dụng các công cụ: Khảo sát thu thập thông tin về hộ gia đình từ nguồn tài liệu thứ cấp như sổ hộ khẩu, sổ thống kê 9 diện tích đất đai, gia súc, gia cầm, số lượng hộ giàu nghèo, các chính sách đầu tư hỗ trợ mà xã Xuân Vân nhận được... Phỏng vấn sâu các đối tượng như trưởng thôn, chủ tịch xã, chủ tịch hội phụ nữ, người già... để có được những thông tin cần thiết và cụ thể nhất về hoạt động kinh tế trước kia và hiện nay của người Dao Thanh y. Quan sát tham dự: Được sử dụng tối đa kết hợp với chụp ảnh, ghi chép hàng ngày, nhất là thảo luận trực tiếp với người dân Dao Thanh y tại các xóm thuộc xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn... + Phương pháp chuyên gia: Tranh thủ ý kiến đóng góp của các chuyên gia và đồng nghiệp nghiên cứu về người Dao. + Phương pháp hệ thống, phân tích, so sánh đối chiếu: Hệ thống, phân tích, so sánh các tư liệu, tài liệu thu thập được khi viết Luận văn. 6. Nguồn tài liệu Nguồn tài liệu chính của Luận văn là các tư liệu điền dã thu thập được qua các đợt khảo sát nghiên cứu từ tháng 9 năm 2010 đến tháng 4 năm 2011 tại xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Ngoài ra, việc tham khảo các công trình nghiên cứu đã được công bố, các bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành, khóa luận tốt nghiệp, các cuốn sách viết về người Dao... và nguồn tài liệu thứ cấp của địa phương cũng được xử lý tối đa nhằm đem lại những thông tin cần thiết và cụ thể nhất cho Luận văn. 7. Đóng góp của Luận văn - Đây là công trình đầu tiên phản ánh một cách rõ nét và chuyên sâu về các hình thức hoạt động sinh kế (Bức tranh sinh kế) của người Dao thanh y. - Cho thấy được những tích cực trong sự vươn lên cũng như những hạn chế của chính bản thân tộc người thiểu số trong xu thế hội nhập và phát triển bền vững như hiện nay. - Cung cấp luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc đề xuất kiến nghị và giải pháp nhằm hỗ trợ và thúc đẩy phát huy thế mạnh tộc người tạo sinh kế bền vững 10 góp phần phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của người Dao nói chung và người Dao Thanh y ở Tuyên Quang nói riêng. - Đóng góp thêm tư liệu cho sự hiểu biết về người Dao nói chung, người Dao Thanh y nói riêng. 8. Bố cục của Luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, nội dung chính của Luận văn được bố cục thành 3 chương: Chương 1: Khái quát về người Dao Thanh y ở xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang Chương 2: Bức tranh sinh kế truyền thống của người Dao Thanh y ở xã Xuân Vân Chương 3: Hoạt động sinh kế của người DaoThanh y ở xã Xuân Vân trong bối cảnh hiện nay Đây chỉ là Luận văn nặng về mô tả bức tranh sinh kế và sự biến đổi của người Dao Thanh y tại một địa phương cụ thể. Tôi hy vọng bản Luận văn này sẽ cung cấp những tư liệu thiết thực về sinh kế của người Dao Thanh y. Trong điều kiện thời gian có hạn, cùng với năng lực bản thân còn nhiều hạn chế, Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các nhà nghiên cứu đi trước cùng các bạn đồng nghiệp. Trong quá trình thực hiện bản luận văn này, bản thân tôi đã nhận được sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của cán bộ hướng dẫn khoa học TS. Lý Hành Sơn; sự ủng hộ khuyến khích của lãnh đạo Viện Dân tộc học và tập thể cán bộ Phòng Nghiên cứu các dân tộc thuộc ngôn ngữ Hmông-Dao và Hán-Tạng; cùng với sự cộng tác, giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo và nhân dân Dao Thanh y ở xã Xuân Vân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Nhân đây, tôi xin trân trọng cảm ơn những sự giúp đỡ nhiệt tình và quý báu đó. 11 CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DAO THANH Y Ở XÃ XUÂN VÂN, HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG 1.1. TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1.1. Huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang Đôi nét về Tuyên Quang Tuyên Quang nằm trong vùng Đông Bắc nước ta, trở lại lịch sử xa xôi thì trước đây Tuyên Quang thuộc khu vực cư trú của bộ lạc Mê Linh thời Hùng Vương và bộ lạc Tây Vu thời Thục Phán. Trấn Tuyên Quang có từ thời Trần và Hồ, tỉnh Tuyên Quang có từ thời Nguyễn. Trong cách mạng tháng Tám, Tuyên Quang thuộc căn cứ địa Việt Bắc, là hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhắc tới Tuyên Quang thì mọi người dân Việt Nam ai cũng biết, bởi nơi đây là quê hương cách mạng với mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào đã đi vào lịch sử. Năm 1976, Hà Giang sáp nhập với Tuyên Quang thành tỉnh Hà Tuyên; đến năm 1991, Hà Giang và Tuyên Quang tách thành hai đơn vị hành chính riêng. Do vậy, tỉnh lỵ Tuyên Quang thời đó bao gồm 5 huyện thị: Chiêm Hóa, Hàm Yên, Na Hang, Sơn Dương, Yên Sơn và thị xã Tuyên Quang. Tới năm 2008, theo Nghị định số 99/2008/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Yên Sơn, mở rộng thị xã Tuyên Quang, thành lập một số phường thuộc thị xã Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. Và Nghị định số 27/NQ-CP ngày 2/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Quyết định thành lập thành phố Tuyên Quang thuộc tỉnh Tuyên Quang. Do đó, đơn vị hành chính hiện nay của tỉnh Tuyên Quang gồm 1 thành phố và 5 huyện: thành phố Tuyên Quang, gồm có 7 phường, 6 xã; Chiêm Hóa, có 1 thị trấn và 28 xã; 12 Hàm Yên với 1 thị trấn, 17 xã; Na Hang có 1 thị trấn, 16 xã; Sơn Dương, gồm 1 thị trấn, 32 xã; Yên Sơn có 1 thị trấn, 30 xã. Diện tích toàn tỉnh Tuyên Quang là 5.868 km 2; dân số có 724.821 người, trong đó 363.108 người là nam, 361.713 người là nữ, số người trong độ tuổi lao động là 377.314 người (chiếm 55,80% dân số toàn tỉnh, mật độ dân số 124 người/km2. Tuyên Quang hiện nay có 22 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Kinh chiếm 48,22%, dân tộc Tày chiếm 25,45%, các dân tộc khác chiếm 16,33%. Nằm trong tọa độ địa lí 21030’ - 22020’ vĩ độ bắc, 104053’- 105040’ kinh độ đông, Tuyên Quang cách thủ đô Hà Nội 165km về phía Nam. Phía Bắc Tuyên Quang giáp tỉnh Hà Giang; phía Đông Bắc tiếp giáp tỉnh Cao Bằng; phía Đông giáp ranh với tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên; phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Phúc; phía Tây Nam giáp tỉnh Phú Thọ; và phía Tây giáp với tỉnh Yên Bái. Địa hình Tuyên Quang nhiều sông suối, đồi núi trùng điệp, thung lũng sâu, nơi cao nhất là 600m so với mực nước biển. Sông ngòi cũng dày đặc, với các sông lớn như sông Lô và sông Gâm, sông nhỏ có sông Năng (Na Hang), sông Phó Đáy (Sơn Dương)... cùng với hàng trăm ngòi lạch lớn nhỏ. Sông ngòi ở đây có giá trị kinh tế cao, là bộ phận quan trọng của hệ thống giao thông, cung cấp nước thủy sản, phục vụ đời sống sản xuất, chứa đựng tiềm năng lớn về thủy điện. Năm 2002, thủy điện Tuyên Quang được khởi công xây dựng trên hệ thống sông Gâm tại huyện Na Hang với tổng vốn đầu tư 7.500 tỉ đồng. Đây là nhà máy công suất lớn thứ 3 miền Bắc sau nhà máy thủy điện Sơn La và Hòa Bình, đã khánh thành năm 2007 với 3 tổ máy hoạt động công suất lên tới 343mw, sản lượng điện hàng năm 1.295 triệu kw/h, dung tích hồ chứa 1.500 triệu m3 nước có tác dụng chống lũ cho thành phố Tuyên Quang, nhất là phân lũ cung cấp nước mùa kiệt cho vùng trung du và hạ lưu đồng bằng Sông Hồng. Cùng với hệ thống sông ngòi, đồi núi ở Tuyên Quang chiếm 72,3% diện tích toàn tỉnh, với dãy núi cao như Tam Đảo ở phía nam, Cao Khánh ở phía bắc 13 và dãy Ba Xứ, tạo cho Tuyên Quang nguồn tài nguyên khá phong phú. Rừng và khoáng sản là hai thế mạnh mà thiên nhiên tạo cho tỉnh này. Trong lòng đất chứa nhiều khoáng sản như vàng, thiếc, kẽm, pi sit, ăng ti moan, măng gan, cao lanh... cũng như các vật liệu xây dựng như cát, sỏi, đá vôi, đất chịu lửa... Rừng ở Tuyên Quang nhiều gỗ quý và dược liệu như: Đinh, lim, sến, táu, nghiến, lát, pơmu, tre, nứa, song mây, sa nhân, ba kích, thục sâm... cùng nhiều loài thú quý hiếm, nhất là Voọc mũi hếch (loài thú có tên trong danh mục bảo vệ động vật quý hiếm thế giới). Tuy nhiên, hiện nay số lượng gỗ quý cũng như một số loài động vật quý hiếm còn ít do sự chặt phá rừng quá mức. Vì vậy cần phải bảo vệ và phát triển rừng nguyên sinh, rừng đầu nguồn và bảo tồn một số loài động vật quý hiếm. Tuyên Quang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng khí hậu lục địa bắc á Trung Hoa với 2 mùa rõ rệt: mùa đông lạnh, khô hạn; mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, lượng mưa trung bình năm khoảng 1500 - 1700mm. Nhiệt độ trung bình hàng năm 22 - 240c, thấp nhất 120c - 130c, cao nhất 33 350c. Độ ẩm cao tạo điều kiện thuận lợi cho thực vật phát triển, nhất là rừng. Tuy nhiên, do ảnh hưởng gió mùa nên thường có lũ to, lốc mạnh, sương muối, gây khó khăn cho hoạt động sản xuất của các dân tộc trên địa bàn. Mạng lưới giao thông phát triển cả đường thủy và đường bộ, riêng đường sắt thì Tuyên Quang chưa có. Đường bộ có tuyến quốc lộ 2 là con đường huyết mạch nối liền thủ đô Hà Nội, Phú Thọ với Tuyên Quang và tỉnh Hà Giang; quốc lộ 37 từ Thái Nguyên qua huyện Sơn Dương, Yên Sơn đi Yên Bái; quốc lộ 2C nối Vĩnh Yên với Sơn Dương và thành phố Tuyên Quang. Chính mạng lưới giao thông đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu tất cả các mặt về kinh tế - văn hóa - xã hội của tỉnh. Huyện Yên Sơn Yên Sơn là huyện nằm phía nam tỉnh Tuyên Quang. Trước đây khi Hà Giang sát nhập với Tuyên Quang, Yên Sơn là một huyện của tỉnh Hà Tuyên. 14 Sau năm 1991 tách tỉnh thì Yên Sơn thành huyện của Tuyên Quang. Huyện tiếp giáp với các đơn vị hành chính của tỉnh và các tỉnh lân cận như sau: + Phía Bắc: giáp 2 huyện Hàm Yên và Chiêm Hóa; + Phía Đông: giáp huyện Định Hóa (Thái Nguyên); + Phía Tây: giáp huyện Yên Bình (Yên Bái); + Phía Nam: giáp Sơn Dương thuộc tỉnh; Đoan Hùng (Phú Thọ). Trước năm 2008, diện tích của huyện là 1.210km 2, dân số 167.200 người, 36 đơn vị hành chính. Đến ngày 3/9/2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2008/NĐ-CP đã cắt toàn bộ diện tích các xã An Khang, An Tường, Lưỡng Vượng, Đội Cấn, Thái Long của huyện để mở rộng thị xã Tuyên Quang. Hiện nay, Yên Sơn chỉ còn 31 đơn vị hành chính, gồm 1 thị trấn và 30 xã: thị trấn Tân Bình và các xã Tứ Quận, Kim Phú, Hùng Lợi, Xuân Vân, Tân Tiến, Kiến Thiết, Thắng Quân, Công Đa, Đội Bình, Trung Môn, Lang Quán, Chân Sơn, Chiêu Yên, Phúc Ninh, Lực Hành, Quý Quân, Thái Bình, Tiến Bộ, Trung Sơn, Đạo Viện, Kim Quan, Phú Thịnh, Trung Minh, Nhữ Hán, Nhữ Khê, Mỹ Bằng, Hoàng Khai, Trung Trực, Tân Long, Phú Lâm. Trong đó, có 8 xã và 26 thôn bản thuộc các xã khu vực II đặc biệt khó khăn (được hưởng chương trình 135). Toàn huyện có số dân là 154.610 người, gồm 23 dân tộc anh em, đông nhất là dân tộc Kinh, Tày, Dao, Cao Lan, sau đó mới tới các dân tộc khác (xem bảng 1.1); (Phòng thống kê huyện Yên Sơn, 2009). Bảng 1.1: Tình hình dân tộc huyện Yên Sơn Stt 1 2 3 4 Dân tộc Số lượng Tỉ lệ (người) (%) Kinh 85.746 Dao Tày Cao Lan 54,1 22.065 21.127 16.940 15 13,9 13,3 10,7 5 6 Tổng Hmông Các dân tộc khác 7.074 5.537 158.589 4,5 3,5 100 (Nguồn: Tài liệu điền dã vào tháng 1/2011) 1.1.2. Xã Xuân Vân Vị trí địa lí Xuân Vân nằm ở phía Bắc huyện Yên Sơn với tổng diện tích 3.987,15ha (số liệu kiểm kê 2010 của xã); số dân là 7.921 người (tính đến ngày 1/4/2009), mật độ dân số 198 người/km2 với 8 dân tộc anh em là Kinh, Tày, Hoa, Nùng, Dao, Cao Lan, Hmông, Mường. Vì thuộc vùng thượng huyện Yên Sơn mà Xuân Vân có 4 mặt tiếp giáp với các đơn vị hành chính cấp xã trong huyện như: phía Bắc giáp xã Quý Quân, phía Nam giáp 2 xã Tân Long và Tân Tiến, phía Đông giáp xã Trung Trực, phía Tây giáp 2 xã Phúc Ninh và Lực Hành. Do dân cư phân bố tập trung theo mỗi khu vực được phân cách về mặt địa lí như sông, suối hay cánh đồng, đường xá mà xã Xuân Vân được chia thành 25 thôn bản: Xóm Sơn Hạ (Sơn Hạ 1, 2 ,3 ,4, vông Vàng 1, 2, Đèo Mủng), xóm Đô Thượng( Đô Thượng 1, 2, 3, 4, 5, 6), Tân Sơn (Tân Sơn 1, 2), An Lạc (An Lạc 1, 2) Soi Đen, Vân Giang, Đồng Tầy, Khuôn Khán, Lương Trung, Soi Hà và Soi Đát, Đồng Dài... Các xóm cách trung tâm xã và chợ phiên Xuân Vân trung bình khoảng 5-6km. Trong đó, các xóm Tân Sơn, An Lạc và Vân Giang ngăn cách với trung tâm xã và các xóm khác bởi dòng sông Gâm. Tên gọi các thôn xóm gắn với địa hình của thôn xóm đó, ví dụ xóm Sơn Hạ hay Đô Thượng có cánh đồng rộng là cánh đồng Lịch và cánh đồng Quải; còn các xóm như Soi Đen, Soi Đát, Soi Hà, Tân Sơn, An Lạc... là những xóm có diện tích soi bãi rộng chiếm phần lớn; còn Đồng Tầy, Khuôn Khán hay Lương Trung là những xóm mà chủ yếu có diện tích đất đồi chiếm ưu thế. 16 Dân cư hầu hết phân bố tập trung theo đơn vị xóm, khoảng cách giữa các nhà không xa. Các dân tộc cư trú xen kẽ, nhưng số lượng dân tộc ở các xóm không đồng đều. Cụ thể trong từng xóm, các dân tộc tập trung thành từng khu riêng. Chẳng hạn xóm Sơn Hạ, tại khu chợ thuộc xóm chủ yếu tập trung người Kinh hoạt động buôn bán và kinh doanh; khu Sơn Hạ 1, 2, 3 và 4 người Tày chiếm đa số; còn khu Vông Vàng 1, 2 và Khu Đèo Mủng tập trung đông đúc người Dao Thanh y. Còn các xóm Tân Sơn, An Lạc, Soi Hà, Soi Đát, Soi Đen chủ yếu người Kinh từ các tỉnh như Nam Định, Thái Bình, Hà Đông Hà Tây cũ, Hưng Yên... di chuyển lên chưa lâu. Địa hình của xã chủ yếu là đồi núi thấp, nhiều khe suối nhỏ, địa thế nghiêng dần theo hướng tây bắc - đông nam, độ cao trung bình từ 50-300m so với mực nước biển. Trên địa bàn xã có sông Gâm chảy qua cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và là tuyến đường thủy quan trọng cho tàu bè qua lại, cung cấp nguồn thủy sản cho người dân, chứa đựng tiềm năng thủy điện. Tuyến đường 185 chạy qua nên giao thông thuận tiện với trung tâm thành phố và tạo điều kiện cho giao thương hàng hóa phát triển kinh tế - xã hội. Về khí hậu nhân văn, Xuân Vân mang tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm của xã là từ 22-240c, mùa đông nhiệt độ trung bình 160c, mùa hè trung bình 280c. Trong những ngày rét đậm nhiệt độ tối thấp tuyệt đối là 60c, ngày nắng nóng có thể vượt ngưỡng 38 0c. Lượng mưa trung bình hằng năm 1600-1800mm, số ngày mưa trung bình 150 ngày/năm tập trung nhiều vào mùa hè (tháng 7, tháng 8) có lúc mưa đạt trên 300mm/tháng. Mùa đông thời thiết khô hạn lượng mưa ít chỉ đạt 10-15mm/tháng. Tổng số giờ nắng trung bình năm là 1500 giờ. Mùa đông số giờ nắng chỉ đạt 10-15h/tháng, mùa hè số giờ nắng cao 140-160h/tháng. Độ ẩm không khí trung bình năm từ 80-82%, biến động độ ẩm không khí trong năm không lớn. Ngoài ra, hiện tượng thời tiết khác cũng thường xuyên xảy ra như giông, mưa 17 phùn, sương mù, sương muối nhưng nhìn chung không gây thiệt hại lớn cho sản xuất, vì người dân hoàn toàn có thể chủ động phòng tránh và khắc phục. Tình hình kinh tế, văn hóa và xã hội xã Xuân Vân Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, Xuân Vân đã đẩy mạnh tập trung phát triển nông - lâm nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Trong đó phát triển nông - lâm là thế mạnh và cũng là ngành kinh tế chủ đạo của xã. Trong đó, trồng trọt giữ vai trò quan trọng đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu lương thực phục vụ đời sống của nhân dân trong xã. Theo kết quả thống kê năm 2010 của xã, diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn xã là 886,59ha (trong đó 585,38ha là đất trồng lúa; 301,21ha đất trồng màu và cây hàng năm khác (ngô, đậu tương, mía...). Hiện nay, xã Xuân Vân cũng đầu tư và mở rộng diện tích cây ăn quả theo hướng sản xuất hàng hóa thành vùng chuyên canh tập trung như bưởi, lúa, mía, chè, ngô, đậu tương, lạc, sắn, khoai lang, cây rau, cây ăn quả, đạt năng suất cao. Tổng sản lượng lương thực năm 2010 của xã đạt 2.715,6 tấn. Do tính chất đất tơi xốp, cộng với diện tích 2 cánh đồng Lịch và Quải, diện tích soi bãi tương đối rộng mà lại nhiều suối khe nhỏ cung cấp nước cho đồng ruộng nên hầu hết cây lúa được canh tác 2 vụ/năm. Sự luân canh cây ngô, đậu tương, lạc, khoai lang, rau... và diện tích trồng cây ăn quả cũng tương đối nhiều, đã hình thành các vùng chuyên canh như xóm Tân Sơn, An Lạc, Vân Giang chuyên canh mía, lạc; xóm Soi Hà chuyên canh bưởi, mía và na trên diện tích soi bãi và đất vườn đồi. Tuy nhiên, hầu hết đều ở mức độ cấp hộ gia đình. Chăn nuôi tại xã Xuân Vân cũng khá phát triển. Do đa dạng chủng loại vật nuôi gia súc và gia cầm như: trâu, bò, dê, lợn, gà, vịt, ngan, ngỗng, nuôi thả cá... nên không những phục vụ nhu cầu về thực phẩm cho gia đình mà còn là hàng hóa tiêu thụ đi các nơi khác ngoài địa bàn xã. Trồng và khai thác, chế biến lâm thổ sản tại xã Xuân Vân hiện nay cũng đã và đang được đẩy mạnh với các sản phẩm chủ yếu là tre, gỗ, nứa. Theo số liệu 18 của xã, năm 2010, trồng được 125ha rừng mới, khai thác 378,3m 3 gỗ, bảo vệ 1,173ha rừng tự nhiên và rừng trồng. Bên cạnh đó, việc thúc đẩy và khuyến khích mở các cơ sở sản xuất như chiếu tre, đũa xuất khẩu, thu mua lâm sản, chế biến phụ phẩm lá tre, gỗ ván ép, rất nhiều cơ sở tư nhân thu mua lá tre, sấy và đem xuất khẩu sang Trung Quốc. Hệ thống giáo dục của xã đã có đầy đủ các cấp: 1 trường Trung học phổ thông (THPT) và 1 trường Trung học cơ sở (THCS), 3 cụm trường Tiểu học, trường mầm non trung tâm xã và 25 lớp mầm non ở 25 thôn xóm tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em tuổi mẫu giáo được sinh hoạt và vui chơi. Năm học 2009 -2010 số lượng trẻ em mầm non là 484 cháu với 7 nhóm trẻ và 16 lớp mẫu giáo; khối Tiểu học 39 lớp với 617 học sinh; khối THCS có 14 lớp, 469 học sinh; khối THPT 20 lớp, 846 học sinh. Sở dĩ số lượng học sinh khối THPT đông đúc bởi xã Xuân Vân là điểm trường cấp 3 của 8 xã vùng thượng huyện. Tuy nhiên, do giao thông trên địa bàn còn khó khăn, xa trường, hoàn cảnh gia đình đông con, kinh tế thấp, nên số lượng học sinh bỏ học vẫn còn khá nhiều. Mặt khác, chất lượng dạy và học còn chưa thật đảm bảo, cơ sở vật chất thiếu thốn. Mục đích dạy và học còn chưa được quan tâm đúng mức, nên số học sinh đỗ tốt nghiệp THPT thấp, tỷ lệ thi đỗ Đại học và Cao đẳng chưa cao. Một trạm y tế xã khám chữa bệnh và điều trị nội trú, ngoại trú cho nhân dân, không có cơ sở y tế thôn bản. Theo lãnh đạo Y tế xã, riêng năm 2010, khám chữa bệnh cho 11.254 lượt người, điều trị nội trú 603 lượt người, điều trị 6.445 bệnh nhân, chuyển tuyến 33 bệnh nhân. Hầu hết 100% các dân tộc trên địa bàn ốm đau đều tới trạm xã hoặc bệnh viện khám và điều trị, không có hiện tượng mê tín. Tuy nhiên, vẫn có số lượng nhỏ chủ quan với bệnh tật, khâu vệ sinh phòng bệnh chưa cao, nhất là hệ thống nhà vệ sinh chưa hợp phù hợp, nguồn nước uống còn kém chất lượng... Chợ phiên tại trung tâm xã Xuân Vân họp tuần 3 buổi vào các ngày thứ 3, 5 và chủ nhật. Đây là chợ trung tâm xã với đầy đủ các mặt hàng thịt, cá, rau, củ, 19 quả... Mùa nào thức nấy, chợ này còn là nơi giao lưu buôn bán cố định. Chợ được quy hoạch lại vào năm 2005, góp phần thúc đẩy giao thương đưa hàng hóa đặc sản của xã Xuân Vân đến với địa phương khác. Bên cạnh đó, vấn đề xã hội và an ninh quốc phòng tại xã vẫn luôn được đảm bảo, đang từng bước hạn chế các tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông, vi phạm luật giao thông... Gần đây, lãnh đạo, các đoan thể ở xã Xuân Vân cũng thường xuyên đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, tuyên truyền pháp luật và đời sống văn hóa cho nhân dân trong xã, đã tạo nên sự chuyển biến tích cực và ngày càng củng cố phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cộng đồng dân cư trong các xóm. Hoạt động đầu tư xây dựng và thu hút đầu tư được đẩy mạnh như Dự án Ridp hay chương trình 135 giai đoạn 2 nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng cho các thôn xóm còn khó khăn. Ngoài ra, các hộ nghèo còn được tạo điều kiện vay vốn phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo từ nguồn vốn của ngân hàng chính sách xã hội. Tổ chức làm mới và nghiệm thu 56 nhà cho hộ nghèo năm 2010 (số hộ nghèo theo tiêu chí mới là 712 hộ, chiếm 36%). Năm 2010, xã có 441 lao động làm việc trong nước, 6 lao động xuất khẩu nước ngoài, mở lớp đào tạo nghề hàn cho 30 học viên. Đặc biệt là đã thi công và đưa vào sử dụng đường giao thông bê tông nông thôn Vông Vàng 2 và Đô Thượng 4, thi công đường giao thông thôn Lương Trung từ nguồn vốn dự án 135 giai đoạn 2. Xã quản lí và sử dụng có hiệu quả 56 công trình thủy lợi, nạo vét kênh mương tưới tiêu cho 89% diện tích lúa, 98% hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia, hệ thống thông tin liên lạc khá phát triển, mật độ sử dụng điện thoại cố định đạt 11/100 dân, không kể di động (Ủy ban nhân dân xã Xuân Vân, 2010). 1.2. KHÁI QUÁT NGƯỜI DAO THANH Y Ở XÃ XUÂN VÂN 1.2.1. Đôi nét về người Dao ở Tuyên Quang Vài đặc điểm về người Dao ở Việt Nam 20
- Xem thêm -