Sàng lọc tác dụng in vitro trên sỏi tiết niệu của một số loài thuộc chi Ficus L

  • Số trang: 61 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 125 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI ĐÀO HỒNG HẠNH SÀNG LỌC TÁC DỤNG IN VITRO TRÊN SỎI TIẾT NIỆU CỦA MỘT SỐ LOÀI THUỘC CHI FICUS L. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ HÀ NỘI - 2013 BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI ĐÀO HỒNG HẠNH SÀNG LỌC TÁC DỤNG IN VITRO TRÊN SỎI TIẾT NIỆU CỦA MỘT SỐ LOÀI THUỘC CHI FICUS L. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ Người hướng dẫn: ThS. Lê Thanh Bình Nơi thực hiện: 1. Bộ môn Dược liệu 2. Bộ môn Dược lực HÀ NỘI – 2013 LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến ThS. Lê Thanh Bình, TS. Nguyễn Quỳnh Chi, TS. Nguyễn Hoàng Anh những thầy cô đã trực tiếp hướng dẫn tôi tận tình trong quá trình thực hiện và hoàn thiện khóa luận này. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô, các anh chị kỹ thuật viên của Bộ môn Dược liệu và Bộ môn Dược lực đã giúp đỡ tôi trong thời gian làm thực nghiệm. Nhân dịp này tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu cùng toàn thể các thầy cô trường Đại học Dược Hà Nội đã tận tình dạy dỗ, trang bị kiến thức và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình tôi học tập tại trường. Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè, những người thường xuyên động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện khóa luận. Do thời gian làm thực nghiệm cũng như kiến thức của bản thân còn có hạn nên khóa luận này còn nhiều thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 21 tháng 5 năm 2013 Sinh viên Đào Hồng Hạnh MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU DANH MỤC CÁC BẢNG DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ Trang ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................ 1 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN ..................................................................................... 2 1.1. VÀI NÉT VỀ BỆNH SỎI TIẾT NIỆU ............................................................. 2 1.1.1. Khái niệm và phân loại............................................................................. 2 1.1.2. Đặc điểm dịch tễ ....................................................................................... 3 1.1.3. Nguyên nhân bệnh sinh và yếu tố nguy cơ .............................................. 4 1.1.4. Quá trình hình thành sỏi tiết niệu ............................................................. 5 1.1.5. Biến chứng................................................................................................ 7 1.1.6. Điều trị và dự phòng ................................................................................. 7 1.1.7. Bệnh sỏi tiết niệu theo quan điểm YHCT ................................................ 8 1.2. GIỚI THIỆU VỀ CHI FICUS L. .................................................................... 10 1.2.1. Đặc điểm chung của chi Đa (Ficus L.) .................................................. 10 1.2.2. Một số dược liệu thuộc chi Ficus L. được sử dụng trong điều trị một số bệnh lý đường tiết niệu .......................................................................... 12 CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................... 15 2.1. NGUYÊN LIỆU VÀ THIẾT BỊ ...................................................................... 15 2.1.1. Nguyên liệu ............................................................................................ 15 2.1.2. Thiết bị ................................................................................................... 16 2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ............................................................................ 17 2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................... 17 2.3.1. Nguyên tắc ........................................................................................... 17 2.3.2. Cách tiến hành .................................................................................... 17 2.3.3. Đánh giá tác dụng ức chế hình thành tinh thể canxi oxalat của dược liệu thử ................................................................................................ 19 2.3.4. Xử lý số liệu ....................................................................................... 20 CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN ............................ 21 3.1. CHUẨN BỊ DỊCH CHIẾT DƯỢC LIỆU....................................................... 21 3.1.1. Quy trình chiết xuất .............................................................................. 21 3.1.2. Chuẩn bị trước khi thử ........................................................................ 21 3.2. KẾT QUẢ ......................................................................................................... 22 3.2.1. Ảnh hưởng của nồng độ dịch chiết nước của 7 loài thuộc chi Ficus L. trên sự hình thành tinh thể canxi oxalat................................................. 22 3.2.2. Ảnh hưởng của ethanol tới sự tạo thành tinh thể canxi oxalat ............... 30 3.2.3. Ảnh hưởng của cắn ethanol 70% của 7 loài chi Ficus L. trên sự hình thành tinh thể canxi oxalat ..................................................................... 32 3.2.4. Khảo sát IC50 của cắn ethanol 70% từ Trâu cổ ...................................... 40 3.3. BÀN LUẬN ....................................................................................................... 42 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT .................................................................................... 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU COM Canxi oxalat monohydrat COD Canxi oxalat dihydrat OD Mật độ quang OD620nm Mật độ quang đo ở bước sóng 620 nm YHCT Y học cổ truyền DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng Tên bảng Trang Danh mục các loài thuộc chi Ficus L. được sử dụng để điều trị 1.1 một số bệnh lý đường tiết niệu 12 2.1 Danh mục tên khoa học của 7 mẫu dược liệu nghiên cứu 15 2.2 Danh mục hóa chất sử dụng trong nghiên cứu 16 3.1 Ảnh hưởng trên sự hình thành tinh thể canxi oxalat của dịch chiết dược liệu từ 7 loài thuộc chi Ficus L. 22 3.2 Ảnh hưởng của ethanol trên sự hình thành tinh thể canxi oxalat 31 3.3 Ảnh hưởng trên sự hình thành tinh thể canxi oxalat của cắn ethanol 70% từ 7 loài chi Ficus L. 32 3.4 Các thông số dược lực học về tương quan nồng độ và tác dụng ức chế hình thành tinh thể canxi oxalat của cắn ethanol 70% từ Trâu cổ và natri citrat 41 DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ Hình Tên hình Trang 3.1 Quy trình chiết xuất dược liệu 21 3.2 Hình ảnh tinh thể canxi oxalat tạo thành trong điều kiện không có chất thử và trong điều kiện có mặt chứng dương natri citrat 15mM (độ phóng đại x40) 23 3.3 Hình ảnh tinh thể canxi oxalat tạo thành trong điều kiện không có chất thử và trong điều kiện có mặt dịch chiết nước dược liệu ở các độ pha loãng 1/16 – 1/2 (độ phóng đại x40) 24-27 3.4 Hình ảnh tinh thể canxi oxalat tạo thành khi có mặt ethanol ở các nồng độ khác nhau (độ phóng đại x40) 31 3.5 Hình ảnh tinh thể canxi oxalat tạo thành trong điều kiện không có chất thử và trong điều kiện có mặt cắn ethanol 70% từ 7 loài thuộc chi Ficus L. ở các nồng độ 1, 10 và 100µg/ml (độ phóng đại x40) 34-37 3.6 Đồ thị biểu diễn tác dụng ức chế tạo thành tinh thể canxi oxalat của natri citrat và cắn ethanol 70% từ Trâu cổ theo nồng độ 40 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Sỏi tiết niệu là một bệnh thường gặp và hay tái phát do sự kết thạch của một số thành phần trong nước tiểu ở đường tiết niệu trên, trong những điều kiện lý hóa nhất định [9]. Sự hình thành sỏi ở đường tiết niệu gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Sỏi gây tắc nghẽn đường tiết niệu, gây nhiễm khuẩn, có thể dẫn tới suy thận và đe dọa tính mạng của người bệnh. Hiện có khoảng 2-12% dân số thế giới đang gặp phải các vấn đề về sỏi tiết niệu [6], [7]. Trước đây, điều trị sỏi tiết niệu chủ yếu bằng phương pháp phẫu thuật cổ điển. Ngày nay, nhờ tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhiều phương pháp điều trị hiện đại đã được nghiên cứu, phát triển và áp dụng như: tán sỏi ngoài cơ thể bằng sóng xung (ESWL), tán sỏi qua da (PCNL), lấy sỏi qua ống soi niệu quản… Tuy có thể áp dụng với hầu hết các loại sỏi nhưng các phương pháp này vẫn còn hạn chế như gây đi tiểu ra máu, nhiễm khuẩn máu, tổn thương niệu quản sau tán sỏi... làm giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau lấy sỏi. Mặt khác, tỷ lệ tái phát sỏi sau can thiệp ngoại khoa rất cao, hơn 50% trong vòng 10 năm [4]. Trong khi đó chưa có liệu pháp điều trị nội khoa tiêu chuẩn nào giúp ngăn ngừa tái phát bệnh. Vì vậy, việc tìm ra các biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế sự hình thành sỏi đường tiết niệu, không gây đau đớn cho người bệnh đã và đang thu hút được nhiều sự quan tâm. Từ xa xưa, dược liệu đã được coi như một nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng giúp dự phòng, điều trị nhiều loại bệnh khác nhau và là nguồn chủ yếu để phát triển thuốc mới. Chi Ficus L. là chi rất đa dạng về loài của họ Dâu tằm (Moraceae). Nhiều loài của chi này đã được sử dụng theo kinh nghiệm của nhân dân nhiều nước trong điều trị các bệnh của hệ tiết niệu, trong đó có sỏi tiết niệu [5], [12], [16], [17]. Với mục đích sàng lọc, từ đó xác định dược liệu có tiềm năng trong điều trị sỏi tiết niệu để nghiên cứu sâu hơn về dược lý và hóa học trong chi, chúng tôi thực hiện đề tài “Sàng lọc tác dụng in vitro trên sỏi tiết niệu của một số loài thuộc chi Ficus L.” với mục tiêu đánh giá tác dụng ức chế hình thành tinh thể canxi oxalat của một số loài thuộc chi Ficus L. 2 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN 1.1. VÀI NÉT VỀ BỆNH SỎI TIẾT NIỆU 1.1.1. Khái niệm và phân loại 1.1.1.1. Khái niệm: Sỏi tiết niệu là sự hình thành và hiện diện sỏi trong đường tiết niệu. Sỏi ở vị trí nào thì có tên gọi theo vị trí giải phẫu đó: sỏi thận, sỏi bàng quang, sỏi niệu quản... [3]. 1.1.1.2. Phân loại: Có thể phân loại sỏi tiết niệu theo nhiều cách khác nhau  Theo thành phần hóa học: chia thành 5 loại chính[7] • Sỏi canxi oxalat: đây là thành phần phổ biến nhất trong sỏi tiết niệu (khoảng 75%), gồm hai dạng Whewellite (canxi oxalat monohydrat) và Weddellite (canxi oxalat dihydrat) [34], [39]. + Whewellite (COM): hình que dài 6 cạnh hoặc bầu dục có nhân, có khả năng kết tụ cao và gắn chặt vào tế bào biểu mô ống thận, giữ lại tạo điều kiện hình thành sỏi [34]. + Weddellite (COD): hình vuông, góc kết nối bằng đường giao nhau, không kết tụ thành các khối bền vững, không gắn vào tế bào biểu mô ống thận, dễ dàng bị cuốn theo nước tiểu, khó tạo thành sỏi tiết niệu [34]. • Sỏi canxi phosphat: phổ biến nhất là dạng apatit. Sỏi apatit đơn thuần thường có hình tròn hoặc hình dạng bất thường, có màu từ trắng đến nâu. • Sỏi cystin: thường tròn, màu vàng lục, tính cản quang trung bình. • Sỏi acid uric: thường tròn, nhẵn, màu vàng cam, thường không cản quang. • Sỏi struvit: là chất kết tinh tạo từ magnesi amoni phosphat, thường hình san hô, kích thước lớn, màu trắng, có tính cản quang. Một số tài liệu chỉ chia thành hai loại chính là sỏi canxi và sỏi không canxi. Trong đó, sỏi canxi là phổ biến nhất, chiếm khoảng 75%, có thể là sỏi canxi oxalat (50%), canxi phosphat (5%) hoặc hỗn hợp cả hai loại (45%) [9], [39].  Theo vị trí giải phẫu sỏi khu trú: sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang…[6] 3  Theo nguyên nhân hình thành sỏi [6]: • Sỏi cơ quan (thứ phát) hình thành do các bệnh lý bẩm sinh hay mắc phải của hệ tiết niệu. • Sỏi cơ thể (nguyên phát) hình thành do rối loạn chuyển hóa hoặc do điều kiện ăn, ở hay khí hậu gây ra. 1.1.2. Đặc điểm dịch tễ Sỏi tiết niệu là bệnh phổ biến, tuy nhiên lại phân bố không đồng đều trên thế giới. Bệnh ít gặp ở Châu Phi, còn ở Châu Mỹ có tỷ lệ trung bình 20/10000 người/năm. Tỷ lệ mắc bệnh trên thế giới nói chung dao động từ 2-12% dân số [6]. Có những vùng có tỷ lệ mắc bệnh cao được gọi là vành đai sỏi như Anh và bán đảo Scandinavian, trung Âu, phía bắc Australia, phía bắc Ấn Độ, Pakistan và các nước thuộc vùng Địa Trung hải [23], [39]. Tại các nước công nghiệp phát triển, sỏi urat có chiều hướng nhiều hơn ở các nước đang phát triển; ngược lại ở các nước đang phát triển, sỏi amoni-magnesi phosphat do nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ cao hơn. Đa số sỏi tiết niệu hình thành tại thận, sau đó theo dòng nước tiểu xuống khu trú tại bất kỳ vị trí nào trên đường tiết niệu. Một phần trong số đó đi xuống niệu quản và tự đào thải theo con đường tự nhiên. Sỏi tiết niệu có kích thước nhỏ dưới 5mm có khả năng tự đào thải rất cao. Khả năng tự đào thải sỏi phụ thuộc vào kích thước sỏi và bản chất sỏi (sỏi acid uric dễ đào thải hơn cystin và brushit...) [6]. Xét về thành phần hóa học của sỏi, canxi oxalat là thành phần phổ biến nhất chiếm khoảng 75% số sỏi, sau đó là canxi phosphat (13,6%) [6]. Tuổi mắc bệnh thường là 35-55. Tuy nhiên, tùy theo loại sỏi mà thời điểm mắc bệnh khác nhau (với sỏi canxi độ tuổi mắc bệnh trung bình là 48,7, với sỏi amoni-magnesi phosphat là 46,7, thời gian này với sỏi urat là 59,4 và sỏi cystin là 27,9) [1]. Sự phân bố sỏi ở bệnh nhân cũng phụ thuộc theo giới nhưng tỷ lệ này rất khác tùy theo thành phần sỏi: sỏi canxi nam mắc nhiều hơn (88,4% so với 58% ở nữ), nữ giới bị sỏi amoni-magnesi phosphat nhiều hơn (38% so với 8,8% ở nam giới) [6]. 4 Việt Nam là một nước nằm trong vành đai sỏi của thế giới [6], [9], [19]. Theo Ngô Gia Hy, sỏi thận chiếm 40%, sỏi niệu quản 28,2%, sỏi bàng quang 28,31% và sỏi niệu đạo 5,34% [10]. Tỷ lệ sỏi ở nam giới là 59,39%, nữ giới là 30,61%. Ở Việt Nam, tất cả các mẫu sỏi được phân tích đều có từ hai thành phần trở lên, hay gặp nhất là canxi oxalat (90,7%). Thành phần hóa học của sỏi trên bệnh nhân ở miền Bắc Việt Nam như sau: sỏi canxi oxalat kết hợp canxi phosphat chiếm 80%, sỏi amoni-magnesi phosphat chiếm 17% , sỏi urat và cystin chiếm 3% [6]. 1.1.3. Nguyên nhân bệnh sinh và yếu tố nguy cơ 1.1.3.1. Nguyên nhân: Nguyên nhân gây sỏi tiết niệu có thể rất khác nhau, tùy từng loại sỏi. Nhưng có một số nguyên nhân chung sau [7]:  Tăng cô đặc nước tiểu do giảm bài niệu.  Vượt quá ngưỡng bão hòa các chất hòa tan trong nước tiểu như: canxi, oxalat, phosphat, acid uric, cystin … (nồng độ trong nước tiểu cao hơn nồng độ hòa tan).  Toan hóa hoặc kiềm hóa pH nước tiểu: toan hóa (pH < 6) thì dễ gây kết tinh sỏi urat và sỏi acid uric; ngược lại kiềm hóa (pH > 6,5) thì dễ gây kết tinh sỏi oxalat và phosphat.  Yếu tố di truyền: có vai trò trong sỏi cystin và sỏi uric.  Giảm citrat niệu dễ tạo sỏi canxi oxalat. 1.1.3.2. Các yếu tố nguy cơ gồm hai nhóm nội sinh và ngoại sinh [7]:  Yếu tố nội sinh: Tuổi, giới, chủng tộc, di truyền cùng các yếu tố nội sinh khác: dị tật bẩm sinh đường tiết niệu (bệnh Cacchi-Ricci, thận đa nang, thận móng ngựa...), bệnh lý gây tắc nghẽn đường niệu ...  Yếu tố ngoại sinh: Yếu tố địa dư, khí hậu và mùa, chế độ ăn uống (uống ít nước, ăn nhiều đạm động vật, ăn mặn ...), yếu tố nghề nghiệp, stress và các yếu tố khác. 1.1.4. Quá trình hình thành sỏi tiết niệu Cơ chế hình thành sỏi tiết niệu chưa được biết đến thật rõ ràng. Sỏi niệu là kết quả của một quá trình phức tạp, gồm nhiều giai đoạn, trong đó có 4 giai đoạn chính: 5 (i) sự tạo nhân tinh thể, (ii) sự lớn lên của nhân, (iii) sự kết tụ tinh thể và (iv) tinh thể bị giữ lại trong đường tiết niệu [42]. Khởi nguồn của quá trình ấy là sự quá bão hòa nước tiểu, điều kiện tiên quyết để bắt đầu quá trình kết tinh tạo sỏi [36]. Tuy nhiên, sự quá bão hòa nước tiểu không phải là nguyên nhân chính dẫn tới hình thành và gắn kết sỏi vì đã có những nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ bão hòa nước tiểu ở người bệnh và người thường là như nhau [28], [43]. 1.1.4.1. Sự quá bão hòa chất có khả năng kết tinh trong nước tiểu Là hiện tượng nồng độ một chất nào đó trong nước tiểu vượt quá độ tan của nó (độ tan của tinh thể là nồng độ các tinh thể ở giá trị vừa đủ cao để các tinh thể không bị hòa tan nhưng không quá cao đến mức làm cho các tinh thể lớn lên). Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng quá bão hòa nước tiểu: do thay đổi pH nước tiểu, do giảm thể tích nước tiểu hoặc do một rối loạn chuyển hóa làm tăng đào thải một hoặc một số chất qua thận [45], mất cân bằng trong đào thải canxi, tăng canxi niệu mang tính chất gia đình hoặc tự phát, mất cân bằng trong đào thải oxalat, giảm citrat niệu, tăng uric niệu do đưa vào thức ăn chứa nhiều purin [46]. Ở người bình thường, nước tiểu cũng có thể trở thành bão hòa với một số chất như canxi oxalat, canxi phosphat, hydroxyapatit…nhưng không xuất hiện tinh thể do sự có mặt của những chất ức chế quá trình tạo sỏi như citrat, pyrophosphat, magnesi, acid ribonucleic, glycosaminoglycan [29], [32]. 1.1.4.2. Sự tạo nhân tinh thể Trong nước tiểu quá bão hòa, các ion tự do có xu hướng kết hợp lại với nhau thành các tiểu phân rất nhỏ. Kết quả của quá trình này là hình thành các nhân tinh thể. Nhân tinh thể có thể là đơn thành phần hoặc đa thành phần. Trong nước tiểu, nhân tinh thể có thể hình thành ở trên những cấu trúc những mảnh vụn tế bào, tinh thể niệu, trụ niệu ... nên thường gặp loại đa nhân dẫn đến đa số sỏi tiết niệu là sự pha trộn của hai hay nhiều thành phần [24], [27], [45]. Nếu nước tiểu đạt bão hòa canxi và oxalat khi đi qua ống thận sẽ tạo nhân để hình thành dạng COD (hay gặp trong nước tiểu của người khỏe mạnh) và dạng COM (hay gặp nhất trong sỏi tiết niệu) [39]. 6 1.1.4.3. Sự lớn lên của nhân Là quá trình các nhân được tạo thành với kích thước rất nhỏ tiếp tục lớn lên trong quá trình di chuyển trong đường niệu, thông qua việc các ion tự do trong dung dịch được chuyển vào tinh thể. Quá trình này không gây ra hiện tượng gì nếu chúng có thể dễ dàng được đào thải ra ngoài (ví dụ: sỏi có đường kính dưới 5mm). Sỏi có đường kính lớn hơn gặp khó khăn trong việc đào thải, gây tắc nghẽn, gây đau, tổn thương và chảy máu trong quá trình di chuyển trong đường niệu [19]. Tuy nhiên, quá trình này cần một thời gian khá dài, nên trong quá trình di chuyển qua nephron (5-7 phút) sự lớn lên của tinh thể không thể nào đạt được kích thước đủ lớn gây ra tắc nghẽn ống thận [25]. Khi đó, sự lớn lên của tinh thể được giải thích bằng quá trình kết tập các tinh thể nhỏ hoặc quá trình tạo các nhân thứ cấp trên bề mặt tinh thể ban đầu [24], [32]. 1.1.4.4. Sự kết tụ tinh thể Đây là quá trình liên kết các tinh thể nhỏ với nhau bằng lực hóa học hoặc tĩnh điện để tạo thành các tinh thể lớn. Sự kết tập các tinh thể đóng vai trò rất quan trọng trong cơ chế hình thành sỏi tiết niệu, bởi vì một tinh thể đơn độc không bao giờ đạt được kích thước đủ lớn để được giữ lại ở thận bằng quá trình lớn lên đơn thuần [32], [45]. Đối với sỏi oxalat, việc tạo thành sỏi tiết niệu từ tinh thể COD là rất khó vì các tinh thể COD không kết tụ với nhau thành các khối bền vững, không gắn vào tế bào biểu mô ống thận nên dễ dàng bị cuốn theo nước tiểu. Tinh thể dạng COM có khả năng kết tụ với nhau cao và có khả năng gắn chặt vào tế bào biểu mô ống thận, bị giữ lại tạo điều kiện cho quá trình hình thành sỏi [34]. 1.1.4.5. Sự gắn kết tinh thể vào tế bào thận Cơ chế của quá trình này còn chưa sáng tỏ và được giải thích theo nhiều giả thuyết khác nhau: Thuyết thứ nhất cho rằng các tinh thể sỏi được hình thành tại lòng ống thận (lumen), tại đó chúng kết tập, lớn lên đến kích thước đủ để làm tắc ống thận và bị giữ lại ở đó. Thuyết thứ hai cũng cho rằng các tinh thể sỏi được hình thành ở ống thận nhưng cho rằng tinh thể được hình thành từ sự phát triển trên các mảng apatit và gắn chặt vào một vị trí nào đó tại bề mặt tế bào biểu mô ống thận hoặc tại cấu trúc nằm trên bề mặt của nhú thận (còn gọi là mảng Randall). Các 7 nghiên cứu gần đây xác nhận vai trò quan trọng của những tổn thương vi thể tại thận đối với cơ chế hình thành sỏi thận. Các tổn thương này đã được phát hiện khi gây sỏi tiết niệu bằng mô hình gây tăng bài tiết oxalat niệu [18], [31]. 1.1.5. Biến chứng Sỏi tác động tới hệ tiết niệu theo ba cơ chế chính: chèn ép và tắc nghẽn đường dẫn niệu; kích thích cọ sát; nhiễm khuẩn. Theo đó, sỏi có thể gây ra các biến chứng sau [6]: • Tắc nghẽn đường niệu nói chung, sỏi thận và sỏi niệu quản gây giãn đài bể thận và ứ nước tiểu. • Gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu: viêm bể thận, viêm khe thận, ... kết hợp với ứ niệu gây thận ứ mủ. Trường hợp nặng hơn có thể gây nhiễm khuẩn huyết. • Gây tình trạng viêm khe thận mạn tính kéo dài dẫn tới tình trạng xơ teo thận, tăng huyết áp. • Gây suy thận. • Gây viêm loét và xơ hóa tại vị trí sỏi là nguyên nhân gây chít hẹp đường niệu sau khi đã phẫu thuật lấy sỏi. 1.1.6. Điều trị và dự phòng Sỏi tiết niệu là một trong các bệnh có nhiều phương pháp điều trị nhất. Tuy nhiên, bệnh có khả năng tái phát cao (khoảng 50% bệnh nhân có tiền sử sỏi tiết niệu bị tái phát sỏi trong vòng 10 năm sau khi đã can thiệp lấy sỏi [4]). Vì vậy, biện pháp điều trị sỏi tiết niệu bao gồm: điều trị tan sỏi, điều trị tống sỏi, điều trị triệu chứng và biến chứng, phòng chống tái phát sỏi [6]. 1.1.6.1. Điều trị nội khoa Là biện pháp điều trị sỏi tiết niệu bằng cách sử dụng thuốc đi cùng chế độ ăn uống hợp lý. Tùy từng loại sỏi với thành phần hóa học cụ thể và mục đích điều trị mà sử dụng những loại thuốc khác nhau.  Điều trị nội khoa tan sỏi: natri citrat, bicarbitol, piperazin ... (sỏi urat); prien ... (sỏi oxalat) [6]. 8  Điều trị tống sỏi được chỉ định khi sỏi nhỏ có đường kính dưới 7mm, nhẵn, thuôn, nằm ở vị trí thuận lợi, sỏi chưa gây biến chứng, chức năng thận còn tốt, thể trạng bệnh nhân tốt. Các thuốc thường sử dụng: giãn cơ trơn, kháng cholinegic chống ứ niệu, thuốc chẹn canxi, chẹn β... [6].  Điều trị biến chứng được chỉ định khi chưa có chỉ định can thiệp, chuẩn bị can thiệp, không có chỉ định điều trị nội khoa tống sỏi. Tùy triệu chứng cụ thể mà lựa chọn biện pháp điều trị thích hợp, bao gồm: sử dụng kháng sinh chống nhiễm khuẩn, thuốc lợi tiểu nhẹ, thuốc giãn cơ trơn hoặc kháng cholinergic... [6]. 1.1.6.2. Điều trị ngoại khoa Điều trị ngoại khoa được chỉ định khi sỏi có kích thước đường kính > 7mm; không kiểm soát được cơn đau do sỏi hoặc sỏi gây tắc nghẽn kèm theo nhiễm khuẩn, nhằm giải quyết biến chứng sỏi thận và niệu quản gây ra, mục đích là cứu vãn chức năng thận và trong một số trường hợp cứu tính mệnh của bệnh nhân (như vô niệu, nhiễm khuẩn huyết). Điều trị ngoại khoa bao gồm các phẫu thuật kinh điển và các kỹ thuật tiên tiến như tán sỏi qua da, tán sỏi qua nội soi niệu quản (thực hiện từ những năm 1980) [6]. 1.1.6.3. Dự phòng tái phát sỏi  Chế độ ăn uống: uống đủ khoảng 2-3 lít nước mỗi ngày, hạn chế ăn uống các chất góp phần tạo sỏi.  Chế độ lao động và luyện tập: vận động nhiều, tăng cường thể lực, hạn chế làm việc lâu dưới ánh nắng mặt trời, nóng bức...  Chế độ dùng thuốc: dùng thuốc lợi tiểu nhẹ nhóm thiazid, điều trị triệt để các bệnh gây sỏi hoặc tạo điều kiện gây sỏi, sử dụng thuốc YHCT [6]. 1.1.7. Bệnh sỏi tiết niệu theo quan điểm y học cổ truyền Sỏi tiết niệu trong đông y gọi là “Thạch lâm”, “Sa lâm”, tuy nhiên một số trường hợp đái máu do sỏi tiết niệu gây ra gọi là “Xích lâm” [6]. YHCT cho rằng sỏi thận đa phần do thận khí hư nhược, thận dương hư tổn, thấp nhiệt chưng đốt hạ tiêu, khí trệ, huyết ứ mà kết tinh thành sỏi. Trong đó thận hư, thấp nhiệt, khí trệ, ứ trở là trọng tâm. Dựa trên cơ sở yếu tố thấp nhiệt xuyên 9 suốt quá trình bệnh, cần chú ý đến khí huyết trở trệ và việc tống sỏi ra ngoài phải dựa trên sự tác động của khí huyết. Vì vậy việc điều lý khí huyết cũng là gốc rễ trong điều trị bệnh này [6]. Trên lâm sàng, đông y chia sỏi tiết niệu thành các thể: thể thấp nhiệt hạ tiêu, thể can kinh khí trệ, thể ứ huyết nội trở, thể tỳ thận khuy hư, thể khí âm bất túc. Trong điều trị, theo Tuệ Tĩnh, cơ chế bệnh sinh chủ yếu là do thấp nhiệt hạ chú lâu ngày hóa hỏa thiêu đốt phần âm, cô đặc nước tiểu kết thành xa thạch, ứ tích thủy đạo. Điều trị cần thanh nhiệt giải độc, bài thạch thông lâm, cùng với đó cần phải hóa khí hành thủy, hoạt huyết thông mạch. Sỏi thận lâu ngày sẽ ảnh hưởng tới chức năng thận, nên điều trị cần phải bổ thận [6]. Trong điều trị bệnh sỏi tiết niệu bằng thuốc đông y, cần phân biệt rõ các thể: thấp nhiệt, khí hư, ứ trở, can uất hay tỳ thận bất túc, để nâng cao hiệu quả điều trị và xác định được phương pháp điều trị thích hợp: • Thể thấp nhiệt hạ tiêu: sử dụng thanh nhiệt lợi thấp, thông lâm bài thạch • Thể can kinh khí trệ: sử dụng sơ can lý khí, thông lâm bài thạch • Thể ứ huyết nội trở: sử dụng hoạt huyết hóa ứ, đạo thạch lâm • Thể tỳ thận khuy hư: sử dụng kiện tỳ ích thận, bổ hư bài thạch • Thể khí âm bất túc: sử dụng ích khí dưỡng âm, thông lâm tiêu thạch Ngoài ra, có thể dùng các phương pháp châm cứu như hào châm, điện châm, thủy châm hiệu quả tương đối tốt, tác dụng phụ ít, không tốn kém [6]. Ngày nay, việc sử dụng dược liệu trong điều trị đang ngày càng được quan tâm, nghiên cứu và phát triển vì những ưu điểm như an toàn, hiệu quả, ít tác dụng phụ, giảm tái phát, phổ biến, dễ sử dụng và phù hợp với đa số người dân. 10 1.2. GIỚI THIỆU VỀ CHI FICUS L. 1.2.1. Đặc điểm chung của chi Đa (Ficus L.) 1.2.1.1. Đặc điểm thực vật Chi Đa (Ficus L.) còn được gọi là Sung, Si, Đề ... Các loài trong chi Đa là cây xanh quanh năm hay rụng theo mùa. Có thể là cây gỗ lớn, gỗ trung bình hay gỗ nhỏ, cây bụi, dây leo gỗ phụ sinh hay dây leo “bóp cổ”, dây leo bò hoặc trườn. Vỏ ngoài thường nhẵn, màu xám nhạt, đôi khi nâu hoặc trắng nhạt. Hầu hết các loài đều có nhựa mủ trắng hoặc vàng. Lá thường sắp xếp xoắn ốc, mọc cách hoặc mọc đối. Phiến lá đơn nguyên hoặc xẻ thùy chân vịt, đối xứng hoặc không đối xứng, mép lá nguyên hoặc có răng cưa, lá kèm rời hoặc hợp sinh. Cụm hoa mọc ở nách lá hoặc trên cành, thân, đôi khi ở dưới đất. Hoa mọc đơn độc thành chùm, đơn tính hoặc lưỡng tính. Bao hoa 2-8 mảnh rời hoặc hợp, nhị 1-7, vòi nhị 1, bầu 1 ô và 1 noãn. “Quả” thường hình cầu hoặc hình trứng. Cây tự thụ phấn hoặc thụ phấn chéo [8]. 1.2.1.2. Phân bố và sinh thái Chi Đa là một trong những chi lớn và đa dạng nhất của họ Dâu tằm (Moraceae), gồm rất nhiều loài. Hiện nay, ước tính trên thế giới có khoảng 1000 loài [17]. Hầu hết các loài thuộc chi Ficus L. phân bố ở các khu vực thuộc vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, chỉ rất ít loài sinh trưởng ở vùng ôn đới. Tuy nhiên, Malaysia được coi là trung tâm phân bố lớn nhất, bởi sự có mặt của 50% tổng số loài [26]. Ở Việt Nam, Phạm Hoàng Hộ đã thống kê mô tả tóm tắt cho 75 loài (species), 2 phân loài (subspecies) cùng 46 thứ (varieties) [8]. Đến nay đã xác định được tên khoa học khoảng 133 loài và thứ có ở Việt Nam [13]. 1.2.1.3. Thành phần hóa học Thành phần hóa học của một số loài Ficus L. dùng trong y học cổ truyền đã được nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Theo tra cứu, đến nay có khoảng 200 chất được phân lập và xác định cấu trúc, chủ yếu thuộc ba nhóm: phenolic, terpenoid và alcaloid [11]. Các hợp chất phenolic chiếm tỷ lệ cao nhất (65%) và có mặt ở hầu hết các loài với cấu trúc khung đa dạng như flavonoid (F. hirta Vahl., F. benghalensis L., ...), 11 coumarin (F. sycomorus L., F. thonnigii Blume, ...), lignan (F. microcarpa L.), các phenolic dạng C6-C1 và C6-C3 (F. eptica Burn.) [37]. Các hợp chất terpenoid chủ yếu bao gồm các terpenoid khung lupan và taraxastan có nhiều trong các loài F. microcarpa L. và F. fistulosa Reinw. ex Blume [15], [37], [44]. Các hợp chất alcaloid chỉ tìm thấy ở một số ít loài chủ yếu là F. septica Burn. [37]. Các alcaloid hầu hết có cấu trúc khung phenanthroindolizidin. Ngoài ra còn có nhiều hợp chất thuộc các nhóm: lipid, steroid, amino acid ... được phân lập hoặc nhận biết bằng các phương pháp GC-MS và HPLC-MS [37]. 1.2.1.4. Bộ phận dùng và công dụng Không chỉ đa dạng về loài mà bộ phận dùng và công dụng của các loài thuộc chi Ficus L. cũng rất phong phú, đem lại nhiều giá trị kinh tế. Từ lâu, chúng đã được biết đến như là thực phẩm trong đời sống hàng ngày như: quả của các loài Sung (F. racemosa L.), Vả ngọt (F. carica L.) ... Đặc biệt, các loài của chi này còn được sử dụng rất nhiều trong y học cổ truyền. Ở Ấn Độ, Trung Quốc và Hàn Quốc, nhiều loài thuộc chi Ficus L. đã được dùng điều trị nhiều loại bệnh khác nhau: điều trị ngoài da cho các bệnh eczema, bệnh phong, thấp khớp, viêm loét; bệnh lỵ, bệnh lậu, tiểu đường, rối loạn lipid máu ... với bộ phận dùng rất phong phú đa dạng, có khi là quả, là lá, cũng có khi là vỏ thân, rễ phụ, có khi còn là nhựa mủ [8]. Ngày nay, một số loài còn được trồng làm cây bóng mát, cây cảnh được ưa chuộng như Si (F. microcarpa L.), Sanh (F. benjamia L.), Trâu cổ (F. pumila L.), Đa lông (F. pubilimba Merr.) ... 1.2.2. Một số dược liệu thuộc chi Ficus L. đã được sử dụng trong điều trị các bệnh đường tiết niệu Theo thống kê từ các tài liệu [2], [5], [12], [16], [17], có 24 loài thuộc chi Ficus L. đã được sử dụng để điều trị các bệnh trên đường tiết niệu. Danh sách cụ thể được trình bày ở bảng 1.1. 12 Bảng 1.1: Danh mục các loài thuộc chi Ficus L. được sử dụng để điều trị một số bệnh lý đường tiết niệu Stt 1 2 Tên khoa học[2] F. auriculata Lour. F. benghalensis L. Tên Việt Nam[2] Bộ phận dùng và công dụng • Quả có tác dụng lợi tiểu [12], [17] Vả, Ngõa, Cọ • Rễ và lá có tác dụng tiêu thũng ngõa, Vô hoa quả [17] Đa benghal, Đa xoan, Đa lá tròn • Rễ và lá lợi tiểu [12] • Dùng tua rễ làm thuốc lợi tiểu dùng trong trường hợp xơ gan kèm theo cổ trướng [5] • Tua rễ (cả vỏ lẫn lõi) được dùng trị phù nề cổ trướng do xơ gan; làm tăng bài tiết nước tiểu, làm hết hoặc giảm phù nề cổ trướng. Liều Đa hạch, Sung cao có tác dụng mạnh; dạng bột có hạch, Sung nhân, tác dụng hơn dạng nước sắc [5] • Lá và búp lá có tác dụng lợi tiểu. Đa lông Ngoài ra tua rễ phối hợp với Rau dừa nước, Tỳ giải mỗi vị 15g, sắc nước uống chữa tiểu tiện không thông, đái ra dưỡng trấp [17] 3 F. drupacea Thunb. 4 F. elastica Roxb. ex Đa búp đỏ, Đa cao Horn. su, Đa dai 5 F. fistulosa Reinw. Ex Blume • Dùng tua rễ làm thuốc lợi tiểu dùng trong những trường hợp xơ gan kèm theo cổ trướng [5], [12] Sung bộng, Sung • Rễ, vỏ, lá có tác dụng lợi niệu [5] rừng • Rễ, lá, vỏ và quả có tác dụng trừ 6 F. hispida L. f. Ngái thấp, tiêu tích hóa đàm [5] • Vỏ, thân, lá, quả xanh chữa phù thũng, rễ chữa bí tiểu tiện [17]
- Xem thêm -