Rèn luyện kĩ năng làm việc với hệ thống kênh hình sgk lớp 10

  • Số trang: 24 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 11 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Së gi¸o dôc vµ ®µo t¹o lµo Cai TrƯêng THPT sè 2 b¶o Th¾ng -------@&?------- ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP KHAI THÁC SỐ LIỆU THỐNG KÊ ĐỊA LÍ KINH TẾ LỚP 12 Lĩnh vực/ Môn: Địa lí Tên tác giả:Đỗ Thị Tuyết Mai Giáo viên môn:Địa lí Chức vụ: Giáo viên Năm học 2013 -2014 MỤC LỤC Số TT Nội dung Trang 1 Phần I: Lí do chọn đề tài 2 2 Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu 3 3 I. Cơ sở lí luận. 3 4 II. Thực trạng của vấn đề. 6 5 III. Phương pháp sử dụng số liệu thống kê trong giảng dạy địa lí các ngành kinh tế 8 6 IV. Tổ chức thực hiện trong tiết dạy 13 7 Phần III. Kết luận và kiến nghị 20 8 Tài liệu tham khảo 21 PHẦN I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI - Xuất phát từ yêu cầu dạy học hiện nay – dạy học theo hướng đổi mới, phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong quá trình học tập. - Xuất phát từ thực tế dạy học Địa lý cấp THPT từ năm học 1995 đến nay tôi nhận thấy đa số học sinh còn chưa thuần thục về các kĩ năng địa lí cơ bản nói chung và kĩ năng khai thác số liệu thống kê trong học tập Địa li nói riêng.Do đó kết quả các bài kiểm tra thường xuyên, định kì hoặc kết quả thi tốt nghiệp phần kỹ năng thường có kết quả chưa cao. - Để giúp học sinh rèn luyện thành thạo kỹ năng khai thác bảng số liệu thống kê cũng như góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả học tập bộ môn Địa lý bậc THPT đặc biệt là việc học tập bộ môn Địa lí lớp 12 vì vậy tôi chọn đề tài : “ Sử dụng phương pháp khai thác số liệu thống kê Địa lí kinh tế lớp 12’’ PHẦN II. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI. 1.Khái niệm Số liệu thống kê: Theo tác giả Nguyễn Trọng Phúc: "Thống kê học là khoa học nghiên cứu mặt số lượng của hiện tượng, những quy luật của đời sống kinh tế xã hội trong mối quan hệ mật thiết với chất lượng, trong những điều kiện, địa điểm và thời gian nhất định" .& Những số liệu về tình hình sản xuất, sản phẩm, sản lượng, tài nguyên, dân cư, tình hình phát triển nông – công nghiệp... là những số liệu thống kê. 2. Tác dụng của các số liệu thống kê trong quá trình dạy học địa lí: - Dùng để minh họa nhằm soi sáng nội dung kiến thức địa lí. Có số liệu, những kiến thức trình bày sẽ có sức thuyết phục cao. - Giúp cho người nghiên cứu, học tập, lượng hoá các mô hình, kiến thức, quy luật, quan điểm, đặc biệt trong địa lí kinh tế. Các số liệu sẽ nêu lên được quá trình phát triển, cơ cấu ngành, giá trị sản phẩm... - Số liệu còn có khả năng cụ thể hoá khái niệm, quy luật địa lí thông qua phân tích, so sánh, đối chiếu sẽ làm cho đặc điểm địa lí của lãnh thổ được trình bày cụ thể, rõ ràng. - Qua nhận xét, phân tích số liệu thống kê và các hình thức biểu hiện trực quan (biểu, bản đồ) làm sáng tỏ mối quan hệ địa lí,qua đó học sinh tự tìm ra và giải thích được chúng. - Các số liệu lựa chọn, được phân tích, mang tính chất đặc trưng thể hiện được bản chất quy luật của các hiện tượng, thể hiện được bản chất và mối quan hệ trong sự phát triển kinh tế xã hội sẽ là những dữ liệu không thể thiếu trong khi trình bày một hiện tượng, vấn đề, quá trình phát triển kinh tế xã hội - Dùng để khai thác kiến thức, mối quan hệ...theo thời gian. - Dùng để phân tích, chứng minh, so sánh,,.. 3. Phân loại số liệu thống kê: a. Số liệu riêng biệt: - Số liệu dùng riêng rẽ để cụ thể hóa một số đối tượng địa lý nào đó về mặt số lượng Ví dụ: Khi trình bày diện tích lãnh thổ nước ta , với việc cung cấp số liệu diện tích nước ta = 331.212 km2 ( SGK Địa lí 12 – trang 13) sẽ làm cho học sinh nhận định bước đầu về qui mô lãnh thổ và diện tích của nước ta so với một số nước khác. b. Bảng số liệu: - Việc đưa các số liệu vào bảng là muốn đặt các số liệu có liên quan với nhau ở vị trí gần nhau để người đọc dễ dàng nhận xét, so sánh, từ đó rút ra được những kết luận có căn cứ về các hiện tượng và quá trình địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội. - Gồm 2 loại bảng: + Bảng số liệu đơn giản: Là bảng gồm có nhiều số liệu nhưng trong đó chỉ nói về một nội dung. Ví dụ: Bảng mật độ dân số một số vùng nước ta, năm 2006 ( SGK địa lý lớp 12, trang 69). ( Đơn vị: người/ km2) Vùng Mật độ dân số Đồng bằng sông Hồng 1.225 Đông Bắc 148 Tây Bắc 69 Bắc Trung Bộ 207 Duyên hải Nam Trung Bộ 200 Tây Nguyên 89 Đông Nam Bộ 551 Đồng bằng sông Cửu Long 429 . + Bảng số liệu phức tạp: Là bảng gồm có nhiều số liệu, chia ra nhiều đề mục có quan hệ với nhau hoặc bao gồm nhiều đề mục khác nhau tính theo thời gian. Ví dụ: Bảng cơ cấu GDP phân theo ngành kinh tế (giá thực tế) (SGK địa lý 12, trang 84). (Đơn vị %) Thành phần 1995 2000 2005 Kinh tế Nhà nước 40,2 38,5 38,4 Kinh tế ngoài Nhà nước 53,5 48,2 45,6 - Kinh tế tập thể 10,1 8,6 6,8 - Kinh tế tư nhân 7,4 7,3 8,9 - Kinh tế cá thể 36,0 32,3 29,9 Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 6,3 13,3 16,0 Trong đó: 4. Sử dụng các loại số liệu thống kê trong môn Địa lí bậc THPT: Các số liệu thống kê kinh tế có ý nghĩa nhất định trong việc hình thành các tri thức về Địa lí tự nhiên cũng như Địa lí kinh tế - xã hội. Chúng “soi sáng và giải thích được nhiều khái niệm và quy luật về địa lí”. Nhiều luận điểm, lí thuyết cũng có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn khi có số liệu chúng minh. Ví dụ: khi dạy về một lãnh thổ, các số liệu về diện tích, độ cao của núi, về nhiệt độ, lượng mưa, về chiều dài của các con sông, về dân số…làm cho các khái niệm về lãnh thổ, về kinh tế xã hội của lãnh thổ đó trở nên cụ thể, rõ ràng hơn. Trong Địa lí kinh tế - xã hội, nhờ những số liệu, học sinh có thể xác định được cơ cấu của các ngành kinh tế, giải thích được tốc độ tăng trưởng, trình độ phát triển của các nước v.v… Cho học sinh làm quen với phương pháp sử dụng và phân tích các số liệu là một trong những biện pháp làm tăng vốn hiểu biết về thực tiễn của các em, bởi vì các số liệu không chỉ có trong các tài liệu địa lí mà chúng còn được giới thiệu rộng rãi trên các báo, các tạp chí, các tài liệu thông tin đại chúng. Thông thường, trong quá trình dạy học Địa lí, giáo viên giới thiệu các số liệu, chủ yếu là để cùng với học sinh giải thích, làm sáng tỏ nội dung bài học hoặc cho học sinh phân tích để khai thác các tri thức địa lí mới. Tuy nhiên, có một điều cần lưu ý, số liệu chỉ có tác dụng làm rõ hoặc làm chỗ dựa để nêu bật ý nghĩa của những tri thức địa lí chứ bản thân chúng không phải là tri thức địa lí. Chính vì vậy, trong quá trình sử dụng các số liệu, giáo viên cần bồi dưỡng cho học sinh năng lực so sánh, đối chiếu, phân tích các số liệu. Ví dụ: khi dạy Địa lí kinh tế - xã hội, giáo viên có thể cho học sinh so sánh các số liệu về dân số các nước, về sản phẩm của các ngành kinh tế hoặc đối chiếu những số liệu giữa các năm, giữa các địa phương để tìm ra các mối quan hệ về số lượng dân cư, về sự phát triển kinh tế (giữa số lượng và thời gian), về sự phân hoá lãnh thổ (giữa số lượng và không gian)… Trong một số trường hợp, để tìm ra được những kiến thức mới cần phải xử lí các số liệu với các tính toán phức tạp. Ví dụ: khi nghiên cứu giao thông vận tải, cần phải tính toán các số liệu về chiều dài các loại đường, về số lượng các phương tiện giao thông, về tỉ trọng các loại hàng hoá vận chuyển để có thể rút ra được nhận xét về trình độ giao thông của một nước, một khu vực. Các số liệu trong Địa lí rất đa dạng, chúng được đưa vào hầu hết các bài trong sách giáo khoa với nhiều mục đích khác nhau. Có thể chia các số liệu ra làm hai loại chính: các số liệu riêng biệt và các số liệu xếp thành bảng. a. Việc sử dụng các số liệu thông kê riêng biệt: Trong SGK Địa lí bậc THPT , đặc biệt là SGK Địa lí lớp 12 số lượng các số liệu thống kê riêng biệt chiếm tỉ lệ khá lớn. chúng được phân bố rải rác trong từng phần, từng nội dung, từng bài cụ thể. Giáo viên có thể sử dụng số liệu thống kê riêng biệt theo các hướng sau: - Sử dụng số liệu thống kê riêng biệt để trình bày nội dung của các sự kiện, hiện tượng Địa lí đã xảy ra: Ví dụ : Qua phân tích, so sánh các số liệu về giá trị tổng sản phẩm của các ngành kinh tế quan trọng nhất của một vùng…học sinh dể nhận thức được đầy đủ về trình độ phát triển của ngành kinh tế mà giáo viên nêu. Trong một số nội dung khác, giáo viên có thể sử dụng số liệu riêng biệt để nói lên sự trái ngược , đối lập trong các hiện tượng KTXH để cho học sinh suy nghĩ, tìm ra bản chất vấn đề cơ bản cần nắm. - Số liệu thống kê riêng biệt có thể được sử dụng để làm nổi bật hiện tượng địa lí kinh tế xã hội phục vụ cho một mục đích nào đó. - Đặt số liệu thống kê riêng biệt trong mối quan hệ với các hiện tượng địa lí KTXH. Trong quá trình giảng dạy địa lí kinh tế,nếu số liệu được đưa ra riêng biệt, không có những mối quan hệ thì sẽ không nói lên điều gì, nó chỉ có ý nghĩa khi được đặt trong mối quan hệ với các hiện tượng địa lí kinh tế xã hội cụ thể. Vì vậy vấn đề chủ yếu ở đây không phải là quan tâm tới bản thân số liệu mà là đặt nó trong những mối quan hệ nhất định. Ví dụ : khi nêu diện tích cây cà phê của vùng Tây Nguyên khoảng 450.000ha ( năm 2006) thì bản thân con số đó chưa nói lên điều gì đặc biệt về vùng này, nhưng khi so sánh nó chiếm 4/5 diện tích trồng cà phê của cả nước thì rõ ràng đã nhấn mạnh được vị trí của vùng trong phát triển cây cà phê của cả nước. b. Việc sử dụng các số liệu thống kê được xếp thành bảng: - Có thể dùng bảng số liệu để chứng minh, minh họa trong quá trình giải thích các hiện tượng, quy luật kinh tế xã hội tương tự như cách dùng số liệu thống kê riêng biệt. Ví dụ: khi trình bày về sự phát triển ngành trồng cây lương thực, đặc biệt là cây lúa của nước ta, giáo viên có thể sử dụng bảng số liệu về diện tích, sản lượng lúa cả nước qua các năm để làm rõ vấn đề trên. Vùng 2000 2005 2007 Diện tích ( nghìn ha) 7666 7329 7207 Sản lượng ( nghìn tấn) 32530 35832 35942 - Tuy nhiên việc sử dụng bảng số liệu có tác dụng lớn hơn khi dùng chúng với mục đích làm phương tiện hướng dẫn cho học sinh khai thác tri thức.Thông qua các số liệu trong bảng, học sinh có thể vận dụng các thao tác tư duy để tìm ra các mối liên hệ, những nguyên nhân dẫn đến sự phát triển của các ngành kinh tế nước ta. - Trước khi sử dụng các bảng số liệu, giáo viên nên tiến hành phân loại chúng theo vấn đề, theo nội dung : bảng số liệu thể hiện cơ cấu ngành, bảng số liệu thể hiện tình hình phát triển ngành… II. THỰC TRẠNG RÈN LUYỆN KỸ NĂNG KHAI THÁC SỐ LIỆU THỐNG KÊ TẠI TRƯỜNG THPT SỐ 2 BẢO THẮNG 1. Nội dung và chương trình giảng dạy của chương trình Địa lý 12 Theo yêu cầu đổi mới về điều chỉnh nội dung dạy học môn Địa lý cấp THPT của Bộ Giáo dục đào tạo trong năm học 2012 - 2013 thì chương trình Địa lí lớp 12 ban cơ bản phần Địa lí các ngành kinh tế gồm các nội dung sau: Chia ra Các nội dung theo chương trình Số bài Lý thuyết Thực hành - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1 1 0 - Địa lí các ngành kinh tế 11 9 2 - Địa lí các vùng kinh tế 12 9 3 Như vậy thì số tiết thực hành là rất ít trong khi tiết tự chọn cho môn Địa lý tại trường là không có nên giáo viên ngoài giảng dạy phần lý thuyết phải dành thêm thời gian cuối tiết để hướng dẫn cho các em học sinh. 2. Hiện trạng dạy và học địa lí lớp 12 : Với nội dung và thời lượng như trên thì việc giảng dạy chủ yếu nghiêng về mặt lí thuyết và giảng dạy theo các phương pháp sau : + Nêu vấn đề . + Thuyết trình. + Trực quan. + Thảo luận nhóm… Vấn đề thực hành khai thác số liệu thống kê trong chương trình lớp 12 rất ít. Trong khi kiến thức lí thuyết của các bài học rất dài, giáo viên không còn nhiều thời gian hướng dẫn học sinh trên lớp. Tuy học sinh đã được học ở các lớp dưới nhưng những kỹ năng đó phần nào đã không còn nắm chắc, trong khi đến thời điểm này về phần thực hành kỹ năng đối với học sinh lớp 12 đã phải tương đối hoàn thiện. Để đảm bảo đạt được kết quả cao trong việc học tập bộ môn, các thầy cô giáo cần phải tự bố trí thời gian nhất định và phù hợp để hướng dẫn học sinh thực hành những kỹ năng cơ bản thường gặp trong các bài kiểm tra một tiết, kiểm tra học kỳ và thậm chí là thi tốt nghiệp bộ môn. 3. Thuận lợi và khó khăn khi thực hiện 3.1. Thuận lợi: - Bản thân luôn được Nhà trường tạo điều cho tham gia các lớp tập huấn do Sở GD - ĐT tổ chức để tiếp thu những vấn đề đổi mới, nâng cao trình độ chuyên môn. - Ban giám hiệu Nhà trường, Tổ chuyên môn tạo điều kiện tốt nhất cho hoạt động dạy và học, thường xuyên dự giờ góp ý, rút kinh nghiệm cho bản thân trong quá trình giảng dạy. - Bản thân giáo viên luôn cố gắng học hỏi đồng nghiệp trong công tác giảng dạy, tiếp thu được cơ bản những yêu cầu của quá trình đổi mới giáo dục nói chung và dạy học Địa lý nói riêng. - Cơ sở vật chất (máy tính, máy chiếu, tranh ảnh, bản đồ, …) phục vụ cho công tác giảng dạy môn Địa lí tương đối đầy đủ 3.2 Khó khăn: a. Về phía giáo viên: - Bản thân giáo viên đôi khi còn chủ quan trong việc chưa dành nhiều thời gian vào cuối các tiết dạy để rèn thêm kỹ năng cho học sinh, do phân phối thời gian tiết dạy nhiều khi còn chưa hợp lý. - Điều kiện học tập kinh nghiệm, giao lưu với các trường bạn còn hạn chế. b. Về phía học sinh: - Khả năng nhận dạng yêu cầu của đề bài còn yếu. - Cách thức tính toán, xử lý số liệu, phân chia tỷ lệ trục tung, trục hoành trong khi vẽ biểu đồ của học sinh rất hạn chế. - Đa số học sinh còn cẩu thả trong khi làm bài, trong cách trình bày khi làm bài thực hành hoặc trong các bài kiểm tra. - Một bộ phận không nhỏ học sinh còn lười học, không có động cơ học tập đúng đắn dẫn đến khó khăn cho giáo viên khi giảng dạy. III. PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG SỐ LIỆU THỐNG KÊ TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ CÁC NGÀNH KINH TẾ: 1.Sử dụng số liệu thống kê trong khâu chuẩn bị bài. a. Lựa chọn số liệu: - Tìm số liệu điển hình, đúng trọng tâm, cần thiết và phù hợp với mục đích của bài, của một nội dung… - Việc lựa chọn số liệu có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng sử dụng chính số liệu đó và gián tiếp là chất lượng bài giảng mà giáo viên tiến hành. - Để nâng cao hiệu quả các số liệu sử dụng trong khâu chuẩn bị bài thì vấn đề đặt ra là : cần phải lựa chọn số liệu như thế nào? Theo kinh nghiệm thì dựa trên những cơ sở sau: + Nội dung và nhiệm vụ cụ thể của các bài, các chương. Chúng giúp người giáo viên định ra được dạng số liệu cần sử dụng cho phù hợp. + Khi lựa chọn phải chú ý tới tính đồng bộ của số liệu nếu không sẽ dẫn đến những phân tích và kết luận kéo theo sai lệch, không phản ánh đúng thực chất hiện tượng địa lí. + Các số liệu lựa chọn phải đúng trọng tâm bài, đúng với nội dung kiến thức như vậy mới tăng được giá trị sử dụng số liệu khi dạy học. b.Hình dung trước cách sử dụng số liệu - Đây là bước thiết kế cụ thể giờ lên lớp và việc sử dụng số liệu đối với từng đơn vị kiến thức và kĩ năng. Cần sử dụng chúng một cách hợp lí phù hợp với logic của bài học và đặc điểm lĩnh hội của học sinh. - Để làm được việc trên đòi hỏi giáo viên phải lựa chọn và xác định đúng những số liệu, bảng số liệu, bản đồ thống kê nào dùng vào mục đích gì. Ví dụ: Khi nghiên cứu về ngành thủy sản của nước ta, nếu chỉ minh họa cho tình hình ngành thủy sản hiện nay thì chỉ cần đưa số liệu tổng sản lượng thủy sản năm 2007 = 4197.8 nghìn tấn. Nếu muốn để học sinh thấy được tình hình phát triển của ngành qua thời gian, giáo viên cần đưa ra một vài số liệu các năm như: năm 2000 = 2250.5 nghìn tấn ; năm 2005 = 3474.9 nghìn tấn ; năm 2007 = 4197.8 nghìn tấn. c. Dự kiến trước các phương tiện dạy học có số liệu thống kê (biểu, bảng, băng video, chương trình trên máy tính) - Để chủ động khi sử dụng số liệu thống kê và các hình thức trực quan của số liệu, giáo viên cần vẽ trước các bảng số liệu và biểu đồ định sử dụng khi lên lớp phù hợp với nội dung bài và đối tượng học sinh. - Chuẩn bị trước các bảng số liệu, biểu đồ…à Chủ động khi sử dụng ; Tránh được sai sót ; Giúp giải quyết đúng trọng tâm nêu ra. 2. Sử dụng số liệu thống kê trong khi tiến hành bài trên lớp. Bài học trên lớp là biểu hiện cụ thể của trình độ nắm kiến thức cũng như khả năng vận dụng phương pháp và cách thức tổ chức hoạt động của giáo viên. Để đạt được hiệu quả trong giờ lên lớp, giáo viên có thể sử dụng số liệu theo các cách sau: a. Ghi các số liệu trên bảng hoặc vẽ trước trên giấy (bảng số, biểu đồ, bản đồ…). - Việc ghi số liệu trên bẳng nhằm khắc sâu những số liệu cần ghi nhớ hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh so sánh đối chiếu phân tích để tìm ra những kiến thức mới. Đối với các số liệu riêng biệt cần nhớ, giáo viên có thể ghi bằng phấn màu để phân biệt với số liệu minh họa lí giải. - Các biểu đồ, bản đồ: giáo viên vừa vẽ vừa hướng dẫn cách thể hiện để rèn luyện kĩ năng và quy trình thực hiện, tốt nhất là chuẩn bị trước ở nhà. - Việc sử dụng các số liệu trên bảng hay vẽ trước phải kết hợp với các phương pháp: thuyết trình, đàm thoại, gợi mở… Việc này có thể thực hiện bất cứ lúc nào trong suốt giờ học( nếu thấy cần thiết). Mục đích chủ yếu là để minh họa, lý giải hoặc để phân tích so sánh nhằm rút ra những nhận xét, kết luận về một vấn đề, một nội dung của bài học. b. Sử dụng số liệu trong bài giảng với mục đích khác nhau - Số liệu dùng để minh họa. - Số liệu cần khắc sâu cho học sinh. Để học sinh hiểu rõ sự vật hiện tượng : giáo viên à mở rộng khái niệm theo sơ đồ : Số liệu cơ bản - Số liệu nêu mối quan hệ với số liệu cơ bản - Số liệu so sánh các chỉ tiêu - Số liệu dùng cho học sinh tư duy: loại số liệu này thường là các bảng số hoặc số liệu đã được trực quan hóa. Trong các giờ học địa lí , cần đẩy mạnh hình thức này vì nó sẽ nâng cao chất lượng và hứng thú học tập cho học sinh, phát triển năng lực tự nhận thức, tự khai thác tri thức ở các em. c. Sử dụng số liệu với các phương pháp giảng dạy khác nhau: - Phương pháp đàm thoại – gợi mở: giáo viên nêu câu hỏi để học sinh suy nghĩ, giải đáp & đi sâu vào vấn đề. - Trong 1 số trường hợp có thể kết hợp với phương pháp nêu vấn đề: Đặt ra tình huống & dẫn dắt học sinh giải quyết vấn đề, những mâu thuẫn có trong các số liệu & kích thích học sinh suy nghĩ, tìm cách giải quyết.Phần lớn các bài học trên lớp có nhiệm vụ chủ yếu là tạo điều kiện cho học sinh lĩnh hội kiến thức ( nói chung ) và thông qua việc sử dụng số liệu( nói riêng) nhưng nhiệm vụ hướng dẫn cách làm việc với số liệu thống kê cũng là việc làm không thể thiếu như : hướng dẫn chọn số liệu cơ bản để minh họa, chứng minh cho kiến thức ở sách giáo khoa ; Hướng dẫn làm tròn số liệu, biết phân tích, đối chiếu , so sánh các số liệu để rút ra kết luận; Biết sử dụng các biểu đồ và cao hơn cả là biết khai thác các tri thức địa lí trên bản đồ biểu đồ…. - Ngoài ra còn có thể sử dụng phương pháp sơ đồ hóa. d. Sử dụng số liệu thống kê trong hướng dẫn làm bài tập và bài thực hành: Trong việc giảng dạy địa lí kinh tế, việc sử dụng số liệu thống kê trong khâu ra bài tập hoặc thông qua thực hành dù ở các mức độ khác nhau nhưng đều nhằm củng cố kiến thức, quan trọng hơn cả là hình thành ở học sinh các kĩ năng cần thiết để tự học, tự nghiên cứu. Như vậy muốn sử dụng số liệu đạt hiệu quả, trước hết phải làm cho học sinh nắm được kiến thức cơ bản về các số liệu để làm cơ sở rồi sau đó mới đến những kiến thức thực hành về cách xử lí chung. Để tiến hành hướng dẫn bài tập và bài thực hành, giáo viên cần thực hiện các bước sau: Bước 1: Xác định mục đích và ý nghĩa của số liệu thống kê: đưa ra làm gì? Công dụng ? Nếu nhận xét phân tích chúng sẽ tìm được nguyên nhân nào để chứng minh cho hiện tượng… Bước 2: Nêu những kiến thức lý thuyết và hành động có liên quan đến bài thực hành và bài tập : số liệu có mấy loại, ưu điểm nhược điểm của từng loại, tìm mối liên hệ của số liệu trong bảng như thế nào? Trình tự sử dụng bảng số liệu ra sao? Bước 3: Thực hiện mẫu và trình tự công việc làm : giáo viên có thể tự làm hoặc cho học sinh làm dưới sự gợi ý của mình. Bước 4: Học sinh nhắc lại cách làm và ghi quy trình vào vở. Tiếp tục cho học sinh thực hiện mẫu một bài theo hướng dẫn. Bước 5: Giáo viên kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện của học sinh. e. Sử dụng số liệu thống kê để đánh giá, kiểm tra kiến thức và kỹ năng của học sinh - Đánh giá kết quả nắm kiến thức của học sinh là một khâu quan trọng trong quá trình dạy học và chỉ thông qua khâu này mới có thể đánh giá chính xác hiệu quả học tập của học sinh. - Giáo viên có thể sử dụng các dạng câu hỏi khác nhau hoặc những tình huống khác nhau để kiểm tra.Cụ thể, giáo viên có thể sử dụng số liệu để kiểm tra theo các hướng sau: + Nêu câu hỏi có sử dụng số liệu + Sử dụng số liệu để kiểm tra mức độ hiểu các biểu đồ, bản đồ thống kê… khả năng vận dụng của học sinh để tự xây dựng, tự vẽ các biểu đồ. (bài tập và bài thực hành) 3. Quy trình hướng dẫn học sinh khai thác số liệu thống kê: a. Quy trình hướng dẫn học sinh khai thác bảng số liệu: - Khi hướng dẫn học sinh phân tích số liệu để rút ra kết luận, tìm những kiến thức mới, cần theo quy trình sau: + Xác định mục đích của việc phân tích số liệu + Đánh giá số liệu + Phân tích, so sánh và đối chiếu các số liệu (sử dụng một số phép tính đơn giản để rút ra những nhận xét cần thiết, kể cả việc sử dụng máy tính); + Thể hiện các số liệu (lập bảng, xây dụng biểu đồ); + Nêu kết luận và giá trị của số liệu trong việc nắm kiến thức và mở rộng kiến thức. Trong các tài liệu địa lí, các số liệu nhiều khi còn được tập hợp thành các biểu, bảng. Việc hướng dẫn học sinh đọc số liệu trong các biểu, bảng cũng cần thiết cho việc khai thác tri thức. Trước hết, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh chú ý đọc tiêu đề của bảng, đề mục của các cột, đọc đơn vị và thời gian đi kèm với các số liệu, cả những phần chú thích ở cuối bảng. Trong khi phân tích nội dung các bảng số liệu, giáo viên cần hướng dẫn học sinh tìm ra những mối quan hệ giữa các số liệu, phân tích chúng theo nội dung từng vấn đề thể hiện trong các cột số, các hàng. Việc so sánh, đối chiếu các số liệu theo hang dọc, hang ngang là hết sức cần thiết, để rút ra những nhận xét và kết luận. Tất nhiên học sinh cũng phải suy nghĩ, vận dụng những tri thức địa lí đã có, kết hợp với kĩ năng phân tích các số liệu thì mới tìm ra được những tri thức địa lí mới. - Quy trình hướng dẫn khai thác bảng số liệu có thể theo các bước sau: Bước 1: Đọc tên bảng số liệu và xác định mục đích của bảng nhằm giải quyết nội dung gì? vấn đề gì? của bài, của chương. Bước 2: Đọc đề mục, cột ngang, cột dọc. Bước 3: Giải thích số liệu trong bảng (đơn vị nào, năm nào). Bước 4: Đưa ra nhận xét về đặc điểm hiện tượng được biểu thị qua số liệu. Bước 5: Các số liệu được sử dụng vào nội dung nào? phần nào của bài?( phân tích tìm ra mối liên hệ giữa các số liệu trong bảng). Bước 6: Rút ra nhận xét (kết luận) khi khai thác bảng số liệu. b. Quy trình hướng dẫn học sinh khai thác biểu đồ: - Một biện pháp thường được sử dụng trong các môn địa lí là chuyển các số liệu thành biểu đồ. - Biểu đồ là sự biểu hiện các mối quan hệ giữa các số liệu bằng hình vẽ trực quan. Nếu dựa vào bản chất của biểu đồ trong dạy học thì biểu đồ có thể phân ra các loại sau: + Biểu đồ cơ cấu: Biểu hiện những số liệu của các bộ phận trong tổng thể hoặc tỷ trọng của một hoặc nhiều thành phần so với tổng thể. Cách thể hiện có thể trình bày bằng hình tròn, hình vuông… + Biểu đồ so sánh: Dùng để so sánh những số liệu đã trực quan hoá của hiện tượng này với hiện tượng khác. Cách thể hiện có thể là hình tròn, hình cột… + Biểu đồ động thái: Dùng để nêu quá trình phát triển của các hiện tượng qua các số liệu đã được trực quan hoá. Cách thể hiện có thể là đường, cột… Hiện nay, dựa vào cơ sở toán học, người ta có thể phân ra các loại: biểu đồ đường biểu diễn, biểu đồ hình cột, biểu đồ hình tròn và biểu đồ hình vuông, biểu đồ hình khối v.v…Tuy có nhiều loại, nhưng đối với học sinh phổ thông, các biểu đồ được dùng phổ biến hơn cả là: biểu đồ đường biểu diễn, biểu đồ hình tròn và biểu đồ hình cột. Mỗi loại biểu đồ đều có công dụng riêng. Ví dụ: để biểu hiện sự phát triển của một ngành kinh tế, người ta có thể lấy các số liệu về số lượng sản phẩm trong từng thời gian, vẽ thành một biểu đồ hình cột hay thành một biểu đồ đường biểu diễn. Hai biểu đồ này đều đạt được mục đích là biểu hiện được tình hình phát triển của ngành kinh tế đó. Tuy nhiên, giữa hai biểu đồ vẫn có sự khác nhau. Biểu đồ cột có ưu điểm chính là làm nổi bật được mối tương quan về mặt số lượng sản phẩm trong từng thời gian, nhưng lại không làm rõ được đặc điểm của quá trình phát triển ngành kinh tế đó như biểu đồ đường biểu diễn. Những số liệu, khi được thể hiện thành biểu đồ, bao giờ cũng có tính trực quan làm cho học sinh tiếp thu tri thức được dễ dàng, tạo nên hứng thú trong học tập. Trong dạy học Địa lí, việc yêu cầu học sinh vẽ các biểu đồ là một nội dung không thể thiếu được khi làm các bài tập và bài thực hành. Có vẽ được biểu đồ thì các em mới hình thành được kĩ năng, hiểu rõ được công dụng của từng loại biểu đồ và từ đó nắm vững các phân tích, khai thác những tri thức địa lí. Việc phân tích các biểu đồ cũng tương tự như cách phân tích các số liệu nhưng có khó hơn. Ở đây, học sinh vừa phải có kĩ năng đọc biểu đồ, vừa phải có những tri thức về các số liệu thống kê cũng như các tri thức về địa lí. Quy trình phân tích biểu đồ có thể theo các bước sau: + Xác định biểu đồ thuộc loại nào? Được thể hiện bằng hình thức nào? + Xác định nội dung thể hiện của biểu đồ. + Phân tích các số liệu được thể hiện trên biểu đồ. + Xác định vị trí, vai trò của từng thành phần trong biểu đồ. + Nêu nhận xét phục vụ cho việc tìm hiểu, mở rộng tư thức địa lí. c. Quy trình hướng dẫn học sinh khai thác số liệu trên bản đồ: - Các mức độ khai thác các số liệu thống kê trên bản đồ: + Để khai thác được giáo viên cần phải hướng dẫn học sinh hiểu ý nghĩa và cả những kĩ năng ban đầu khai thác. + Luyện cho học sinh đọc được các dạng số liệu trên bản đồ. Có 3 mức độ: Mức độ 1 : học sinh đọc được các số liệu đã ghi rõ ràng trên bản đồ. Mức độ 2 : đòi hỏi học sinh phải dựa vào các số liệu và hiểu biết kết hợp kiến thức đã học. Mức độ 3 : đòi hỏi học sinh khi sử dụng số liệu và các hình thức biểu hiện số liệu bằng ngôn ngữ bản đồ để tìm ra kiến thức thông qua thao tác tư duy : so sánh, phân tích, đối chiếu , xác lập mối quan hệ giữa các đối tượng địa lí được thể hiện trên bản đồ. - Để rèn luyện kĩ năng khai thác và sử dụng số liệu trên bản đồ, giáo viên cần phài có các bài tập và bài thực hành giao cho học sinh với các dạng cụ thể: + Bài tập giúp cho học sinh hiểu số liệu + Bài tập để học sinh vận dụng theo phương pháp của bản đồ. - Việc hướng dẫn cần thực hiện theo tiến trình sau: + Xác định nội dung bản đồ. + Đọc hệ thống chú giải để hiểu:  Phương pháp thể hiện các hiện tượng địa lí trên bản đồ dựa trên số liệu thống kê.  Tìm hiểu đặc tính số lượng và đặc tính chất lượng của đối tượng được thể hiện.  Tìm hiểu nội dung, quy mô và cường độ cụ thể của đối tượng.  Sự phân bố của đối tượng. + Xác định ý nghĩa của các số liệu được thể hiện đối với việc nhận thức và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng. 5. Cách làm cho học sinh ghi nhớ những số liệu cần thiết - Giáo viên hướng dẫn học sinh cách ghi phiếu tư liệu về các số liệu theo cách: + Ghi theo bảng và đánh dấu các số liệu cần nhớ. + Ghi theo địa danh. - Nhắc nhở học sinh ghi những số liệu trên các báo thường ngày có liên quan đến bài học - Hướng dẫn cách làm tròn số liệu - Hướng dẫn học sinh sử dụng nhiều lần các số liệu cần ghi nhớ bằng cách so sánh, cụ thể hóa hoặc trả lời những số liệu đó. - Trong quá trình giảng dạy Địa lí, người giáo viên cần hướng dẫn học sinh bổ sung phân tích và xử lí các số liệu. IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN TRONG TIẾT DẠY 1. Các bước thực hiện 1.1. Đối với các tiết dạy thực hành ở trên lớp Bước 1: Giáo viên sưu tầm tài liệu liên quan,biên soạn nội dung tài liệu về rèn kỹ năng thực hành khai thác số liệu thống kê cho học sinh. Bước 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu phần lí thuyết về phương pháp khai thác số liệu thống kê sẽ thực hiện trong tiết dạy thực hành . Bước 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh cách khai thác. Bước 4: Tổ chức cho học sinh thực hành ngay trên lớp. Bước 5: Đánh giá kết quả làm việc của học sinh sau khi hoàn thiện kỹ năng. Bước 6: Chỉnh sửa các lỗi sai thường gặp của học sinh trong quá trình làm bài. Bước 7: Thu thập thông tin của học sinh về kỹ năng thực hành, đánh giá kết quả đạt được sau mỗi tiết. Trong các bước trên thì bước 1, 2 và bước 3 là quan trọng nhất đòi hỏi giáo viên phải hướng dẫn tỷ mỉ, chính xác, dễ hiểu để học sinh nắm rõ được quy trình thực hiện các kĩ năng cơ bản. Sau đó giáo viên phải tiến hành kiểm tra thu thập các lỗi sai, các kĩ năng còn yếu ở các em học sinh để tiến hành điều chỉnh nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong dạy học. 1.2. Đối với các bài tập thực hành ở cuối bài, bài tập về nhà,… Giáo viên hướng dẫn ngắn gọn cho học sinh về nhà làm theo các bước đã nêu sau đó kiểm tra, điều chỉnh vào đầu tiết học tiếp theo. Trong quá trình dạy học ở chương trình lớp 12, tôi tiến hành thực nghiệm trên 2 lớp 12A1, 12A2. Kết quả khảo sát chất lượng bộ môn đầu năm học 2013 - 2014 (Khi chưa tiến hành thực nghiệm) Kết quả STT Lớp Tổng số học sinh Giỏi SL (hs) Khá Tỷ lệ SL (hs) (%) Tỷ lệ Trung bình SL (hs) (%) Tỷ lệ Yếu SL (hs) (%) Kém Tỷ lệ SL (hs) (%) 1 12A1 36 2 5,6 17 47,2 12 33,3 5 13,9 2 12A2 35 0 0 13 37,1 15 42,9 7 20,0 Tỷ lệ (%) 2. Ứng dụng soạn giảng tiết thực hành vận dụng kĩ năng khai thác số liệu thống kê phần Địa lí kinh tế lớp 12: Tiết 25 – Bài 23 THỰC HÀNH: PHÂN TÍCH SỰ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH TRỒNG TRỌT I. MỤC TIÊU BÀI HỌC 1. Kiến thức - Củng cố khắc sâu các kiến thức đã học về ngành trồng trọt nước ta. 2. Kĩ năng - Rèn luyện kĩ năng tính toán, xử lí số liệu - Phân tích bảng số liệu và biểu đồ để nhận xét về sự biến động trong cơ cấu giá trị của ngành trồng trọt nói chung và của cây công nghiệp nói riêng. 3. Thái độ - Nghiêm túc, hợp tác trong học tập II. PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC - Bảng số liệu kết quả: Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành trồng trọt theo từng nhóm cây trồng. III. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC GIỜ HỌC 1. Ổn định tổ chức 2. Kiểm tra bài cũ (5’) a.Bài tập số 3 trang 97 SGK b.Bài tập số 4 trang 97 SGK 3. Bài mới Khởi động bài (2’):Xác định yêu cầu bài thực hành - HS nghiên cứu nội dung SGK và phần chuẩn bị ở nhà, xác định các yêu cầu của bài thực hành - GV chuẩn xác yêu cầu và nêu ngắn gọn mục tiêu bài học Nội dung Hoạt động 1: Thời gian : 5 phút Giáo viên nhắc lại quy trình khai thác bảng số liệu – biểu đồ cho học sinh nắm được: 1. Quy trình hướng dẫn khai thác bảng số liệu có thể theo các bước sau: Bước 1: Đọc tên bảng số liệu và xác định mục đích của bảng nhằm giải quyết nội dung gì? vấn đề gì? của bài, của chương. Bước 2: Đọc đề mục, cột ngang, cột dọc. Bước 3: Giải thích số liệu trong bảng (đơn vị nào, năm nào). Bước 4: Đưa ra nhận xét về đặc điểm hiện tượng được biểu thị qua số liệu. Bước 5: Các số liệu được sử dụng vào nội dung nào? phần nào của bài?( phân tích tìm ra mối liên hệ giữa các số liệu trong bảng). Bước 6: Rút ra nhận xét (kết luận) khi khai thác bảng số liệu. 2. Quy trình phân tích biểu đồ có thể theo các bước sau: Bước 1: Xác định biểu đồ thuộc loại nào? Được thể hiện bằng hình thức nào? Bước 2: Xác định nội dung thể hiện của biểu đồ. Bước 3: Phân tích các số liệu được thể hiện trên biểu đồ. Bước 4: Xác định vị trí, vai trò của từng thành phần trong biểu đồ. Bước 5: Nêu nhận xét phục vụ cho việc tìm hiểu, mở rộng tri thức địa lí. Hoạt động 2: Làm bài tập số 1 - Thời gian: 20 phút - Phương tiện: Bảng số liệu kết quả - Phương pháp: Đàm thoại gợi mở, hướng dẫn làm mẫu, cặp/nhóm - Các bước tiến hành: Bước 1: Tính tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành trồng trọt - HS nghiên cứu yêu cầu, nêu cách tính - GV chuẩn xác về cách tính: Coi năm 1990 = 100%. Hướng dẫn học sinh lập bảng số liệu kết quả. - HS làm việc theo từng cặp tính toán và điền kết quả vào bảng: + Nhóm 1: Tổng số, cây lương thực + Nhóm 2: Cây rau đậu và cây công nghiệp + Nhóm 3: Cây ăn quả và cây khác - GV treo bảng kết quả, HS đối chiếu và chuẩn xác số liệu vào bảng. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành trồng trọt theo từng nhóm cây trồng (%) Năm Tổng số Lương thực Rau đậu Công nghiệp Ăn quả Cây khác 1990 100 100 100 100 100 100 1995 133.4 126.5 143.3 181.5 110.9 122.0 2000 183.2 165.7 182.1 325.5 121.4 132.1 2005 217.5 191.8 256.8 382.3 158.0 142.3 Bước 2: Nhận xét - HS dựa vào biểu đồ đã vẽ và bảng số liệu, trình bày: Nhận xét về tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành trồng trọt phân theo các nhóm cây trống Tốc độ tăng trưởng của từng nhóm cây trồng có mối quan hệ như thế nào với sự thay đổi tỉ trọng của nó trong cơ cấu ngành trồng trọt. - HS trình bày. Các HS nhận xét và bổ sung cho nhau - GV chuẩn xác nội dung. Nhận xét: - Từ năm 1990 đến 2005, giá trị sản xuất của các ngành trồng trọt theo các nhóm cây trồng tăng một cách ổn định: + Cây công nghiệp có tốc độ tăng nhanh nhất. Trong vòng 15 năm đã tăng 382,2%, tăng nhanh nhất ở giai đoạn 1995 – 2000( tăng 144%). Tiếp theo là ray đậu. hai cây này có tốc độ tăng trưởng cao hơn mức chung. + Cây lương thực, cây ăn quả, cây khác có tốc độ tăng trưởng thấp hơn mức chung. - Giữa tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế có mối quan hệ rất chặt chẽ. Cây công nghiệp và rau đậu có tốc độ tăng trưởng cao hơn mức tăng chung , nên tỷ trọng có xu hướng tăng. Còn cây ăn quả, cây lương thực, cây khác có tốc độ tăng thấp hơn mức chung nên tỷ trọng có xu hướng giảm. - Sự thay đổi cơ cấu giá trị sản xuất ngành trồng trọt chứng tỏ: + Trong sản xuất lương thực, thực phẩm có xu hướng đa dạng hóa, các loại rau đậu được đẩy mạnh sản xuất. + Các thế mạnh của nông nghiệp nhiệt đới đang được phát huy ngày càng có hiệu quả. Hoạt động 3: Làm bài tập số 2 - Thời gian: 15 phút - Phương tiện: Bảng số liệu kết quả. - Phương pháp: Đàm thoại gợi mở, hướng dẫn làm mẫu - Các bước tiến hành: Bước 1: Phân tích xu hướng biến động diện tích gieo trồng cây công nghiệp - HS nghiên cứu bảng số liệu 23.2, trao đổi theo từng bàn, phân tích sự biến động về diện tích cây công nghiệp nước ta qua các năm theo những gợi ý sau: * Diện tích cây công nghiệp nước ta có sự thay đổi như thế nào qua các năm? * Coi tổng diện tích cây công nghiệp =100%, tính tỉ trọng cơ cấu cây công nghiệp phân theo loại cây. Nhận xét về cơ cấu diện tích cây công nghiệp nước ta có sự chuyển dịch theo xu hướng nào? - HS trình bày nội dung. Các cặp khác bổ sung kiến thức cho nhau. - GV chuẩn xác kiến thức. Nhận xét: Cơ cấu diện tích gieo trồng cây công nghiệp ( 1975 – 2005) ( Đơn vị : %) Năm Tỉ trọng cây CN hàng năm Tỉ trọng cây CN lâu năm 1975 54.9 45.1 1980 59.2 40.8 1985 56.1 43.9 1990 45.2 54.8 1995 44.3 55.7 2000 34.9 65.1 2005 34.5 65.5 Phân tích xu hướng biến động diện tích gieo trồng cây công nghiệp nước ta từ 1975 – 2005: - Diện tích cây công nghiệp hàng năm và cây công nghiệp lâu năm đều tăng. - Diện tích cây công nghiệp lâu năm tăng mạnh( từ 1975 – 2005 tăng gần 9,5 lần ) đặc biệt tăng mạnh trong giai đoạn từ 1995 – 2000( tăng gần 1,6 lần) - Diện tích cây công nghiệp hàng năm tăng chậm hơn ( từ 1975 – 2005 tăng gấp 4,1 lần; từ 1985 – 1990 giảm sau đó tăng mạnh (giai đoạn từ 1990 – 2005 : tăng 1,32 lần) Bước 2: Phân tích mối quan hệ giữa sự thay đổi trong cơ cấu diện tích cây công nghiệp và sự thay đổi trong phân bố sản xuất cây công nghiệp - HS dựa vào bảng số liệu và kiến thức đã học trả lời câu hỏi sau: * Sự thay đổi trong cơ cấu diện tích cây công nghiệp có liên quan như thế nào đến sự thay đổi trong phân bố sản xuất cây công nghiệp? -> HS trả lời. -> GV chuẩn xác kiến thức. Nhận xét: - Sự thay đổi trong cơ cấu diện tích cây công nghiệp ( đặc biệt là sự tăng nhanh tỷ trọng cây công nghiệp lâu năm trong cơ cấu diện tích cây công nghiệp) có liên quan chặt chẽ đến sự thay đổi trong phân bố sản xuất cây công nghiệp, chủ yếu là các cây công nghiệp lâu năm( cà phê, chè, điều, hồ tiêu mở rộng sự phân bố) và sự hình thành phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp ( chủ yếu là Tây Nguyên và Đông Nam Bộ). 4. Củng cố, đánh giá (3’) - HS tự đánh giá kết quả học tập của bản thân - GV nhận xét, đánh giá kết quả học tập của học sinh, chấm điểm cho các học sinh tích cực. 5. Hướng dẫn học bài ở nhà.( 1’) - Hoàn thành bài thực hành - Chuẩn bị nội dung bài 24 3. Kết quả thực hiện: a. Kết quả khảo sát thực tế:
- Xem thêm -