Rèn luyện cho học sinh lớp 11 kỹ năng lập luận bác bỏ trong làm văn nghị luận

  • Số trang: 106 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 141 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27558 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC DƯƠNG THỊ HƯỜNG RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 11 KĨ NĂNG LẬP LUẬN BÁC BỎ TRONG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC (BỘ MÔN NGỮ VĂN) Mã số: 60 14 10 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN QUANG NINH HÀ NỘI – 2012 1 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài..........................................................................................1 2. Lịch sử vấn đề .............................................................................................5 3. Mục đích nghiên cứu...................................................................................11 4. Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................................13 5. Đối tượng nghiên cứu .................................................................................13 6. Phạm vi nghiên cứu....................................................................................14 7. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................14 8. Dự kiến đóng góp của luận văn ..................................................................15 9. Cấu trúc của luận văn .................................................................................16 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ................17 1.1. Cơ sở lí luận .............................................................................................17 1.1.1. Thao tác lập luận với tư cách là một hoạt động của tư duy ..................17 1.1.2. Bác bỏ với tư cách là một thao tác lập luận ..........................................20 1.1.3. Mối quan hệ giữa các thao tác lập luận trong văn nghị luận ................26 1.1.4. Lập luận bác bỏ với tư cách là một bộ phận trong kĩ năng làm văn nghị luận ...................................................................................................32 1.1.5. Hình thành kĩ năng lập luận bác bỏ trong làm văn nghị luận cho học sinh dựa trên các lí thuyết liên quan.........................................................34 1.2. Cơ sở thực tiễn .........................................................................................37 1.2.1. Khảo sát chương trình sách giáo khoa ngữ văn lớp 11 THPT về thao tác lập luận bác bỏ trong làm văn nghị luận ...........................................37 1.2.2. Thực trạng dạy học của giáo viên .........................................................39 1.2.3. Thực trạng học tập của học sinh ...........................................................42 Chƣơng 2: TỔ CHỨC RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LẬP LUẬN BÁC BỎ TRONG BÀI LÀM VĂN NGHỊ LUẬN .....................................45 2.1. Mục tiêu của việc rèn luyện kỹ năng lập luận bác bỏ cho học sinh lớp 11 trong bài làm văn nghị luận .................................................................45 2.2. Yêu cầu của việc rèn kĩ năng lập luận bác bỏ trong bài làm văn nghị luận ...........................................................................................45 3 2.3. Hệ thống bài tập rèn kĩ năng lập luận bác bỏ trong bài làm văn nghị luận ....................................................................................................47 2.3.1. Bài tập nhận diện .................................................................................47 2.3.2. Bài tập luyện tập vận dụng....................................................................52 2.3.3. Bài tập chữa lỗi ....................................................................................58 2.4. Tổ chức cho học sinh rèn luyện kĩ năng lập luận bác bỏ trong làm văn nghị luận ...................................................................................................60 2.4.1. Định hướng chung của việc rèn luyện kĩ năng lập luận bác bỏ trong làm văn nghị luận .................................................................................60 2.4.2. Cách thức luyện tập...............................................................................66 Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM....................................................75 3.1. Mô tả thực nghiệm ...................................................................................75 3.1.1. Mục đích thực nghiệm ..........................................................................75 3.1.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm........................................................76 3.1.3. Nội dung và tiến trình thực nghiệm .....................................................78 3.2. Giáo án thực nghiệm ................................................................................79 3.4. Kết quả thực nghiệm ................................................................................92 3.4.1. Tiêu chí đánh giá ...................................................................................92 3.4.2. Kết quả thu được ...................................................................................92 3.4.3. Kết luận rút ra qua thực nghiệm ...........................................................94 KẾT LUẬN CHUNG ....................................................................................95 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................99 4 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Trong những năm gần đây, vấn đề giáo dục luôn được quan tâm và bàn tới, đặc biệt là vấn đề thay đổi và cải biến phương pháp dạy học Một xu hướng dạy học hiện đại và tiến bộ được đưa ra là thay đổi vị trí, vai trò của người thầy và người trò: người Thầy đóng vai trò chủ đạo, tổ chức và hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh tri thức, học sinh đóng vai trò chủ động, tích cực trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Ngoài ra còn có xu hướng khác như: đổi mới phương pháp dạy học mấu chốt là việc giáo viên dạy cho học sinh học phương pháp, cách thức, kĩ năng tiếp cận và giải quyết vấn đề; học sinh học phương pháp, cách thức làm công cụ hữu dụng trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Không nên sử dụng phương pháp cung cấp và đọc chép kiến thức mà tăng cường cung cấp phương pháp cho học sinh, vẽ cho học sinh con đường để chúng đi đến đích. Trao cho học sinh phương pháp là trao chìa khoá để học sinh tự mở những cánh cửa chứ không phải việc giáo viên mở sẵn những cánh cửa để học sinh bước vào. Điều đó có nghĩa là giáo viên sẽ là người hướng dẫn để học sinh chủ động trong quá trình học của mình. Nói như Phrit-mên trong cuốn "Thế giới phẳng" (NXB Trẻ, 2005) thì: "Kĩ năng đầu tiên và quan trọng nhất mà bạn cần có trong một thế giới hiện đại là khả năng học phương pháp học- nghĩa là thường xuyên tiếp thu và học hỏi những phương pháp mới để làm công việc cũ hay những phương pháp mới để làm những công việc mới...Trong một thế giới như vậy không chỉ kiến thức mà cả phương pháp học hỏi của bạn mới tạo ra giá trị riêng. Bởi những kiến thức bạn có ngày hôm nay sẽ trở nên lỗi thời nhanh hơn bạn tưởng nhiều". Mục tiêu quan trọng của dạy học Ngữ văn nói chung và dạy Làm văn nói riêng là dạy cho học sinh kĩ năng làm văn nghị luận. 1 1.2. Làm văn là một môn học có tính chất thực hành tổng hợp của các giờ Ngữ văn Nó được coi là bộ phận thực hành quan trọng nhất vì đó là phần luyện tập có tính chất tổng hợp và sáng tạo. Nhiều năm gần đây, nhà trường phổ thông chúng ta đã coi trọng việc nâng cao trình độ viết văn cho học sinh. Cố gắng thì nhiều nhưng hiệu quả chưa được như ý. Điều đó có nhiều nguyên nhân, trong đó việc rèn kĩ năng lập luận trong làm văn nghị luận là khâu cần được tập trung nghiên cứu. Làm văn là quá trình sáng tạo của cá nhân học sinh, là cơ hội để học sinh được bộc lộ rõ nét, tập trung vốn hiểu biết nhiều mặt cùng những phẩm chất và năng lực của mình, đặc biệt là tư duy sáng tạo, năng lực ngôn ngữ. Có thể nói, chỉ đến công đoạn làm văn, học sinh mới thực sự luyện tập được cả về kiến thức cũng như kĩ năng. Mỗi bài viết của học sinh là một tác phẩm nhỏ, qua đó các em thể hiện vốn sống, vốn văn hoá, nhân cách, khả năng tư duy, khả năng lập luận cũng như khả năng diễn đạt của mình. Trên thực tế, việc dạy và học làm văn chưa chú trọng tính chất tổng hợp, tính chất sáng tạo của phân môn, chưa chú trọng đúng mức việc rèn luyện kĩ năng làm văn cho học sinh, đặc biệt là kĩ năng lập luận. Nguyên nhân của vấn đề trên một phần là do sách giáo khoa còn nặng về cung cấp lí thuyết, chưa chú trọng đúng mức hệ thống bài tập luyện tập, hay cách thức, biện pháp, yêu cầu rèn luyện cụ thể. Mặt khác, do giáo viên chưa phân bố thời gian hợp lí cho việc luyện tập, giáo án lên lớp còn nặng về đề mục, chưa chú trọng việc xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập cho học sinh. Phần nữa là do học sinh chưa ý thức được tầm quan trọng của phân môn, xem Làm văn là một phân môn tách biệt với hai phân môn Đọc văn và Tiếng Việt. Đề xuất các giải pháp thực hành môn Làm văn ở nhà trường phổ thông được xem là một vấn đề khoa học cấp thiết. Xét về phương diện lí thuyết, những kiến thức về làm văn không phải là vấn đề khó nắm bắt, song bước vào 2 thực tiễn dạy học lại là cả quá trình thử thách sự nỗ lực của cả người dạy lẫn người học. Trong khi đó, công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn về làm văn, về phương pháp dạy học, về rèn luyện kĩ năng, một phần còn ít, một phần chưa đến được với giáo viên và học sinh nên việc ứng dụng nó vào dạy học cũng còn hết sức hạn chế. Ngoài ra, việc có quá nhiều loại sách tham khảo, sách mẫu- những bài viết có sẵn, một kiểu tham khảo với mục đích đào tạo những người thợ chép bài cũng là một áp lực đối với cả người dạy lẫn người học. Dạy học Ngữ văn nói chung và Làm văn nói riêng hướng vào hoạt động, thực hành, vào rèn luyện kĩ năng là một việc làm khó những không thể không làm. Bởi vì mục đích cuối cùng của việc dạy học Làm văn không chỉ là cung cấp cho học sinh tri thức mà còn phải rèn luyện cho học sinh những kĩ năng, kĩ xảo làm văn cơ bản. 1.3. Văn nghị luận Là loại văn trong đó người viết đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng về một vấn đề nào đấy và thông qua cách thức bàn luận mà làm cho người đọc hiểu, tin, tán đồng những ý kiến của mình và hành động theo những gì mình đề xuất. Trong nhà trường, việc rèn luyện kĩ năng viết văn nghị luận là yêu cầu rất quan trọng trong quá trình học tập. Văn nghị luận giúp cho học sinh tập vận dụng tổng hợp các tri thức văn học, xã hội và trải nghiệm bản thân vào việc làm văn, rèn kĩ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ và đặc biệt góp phần vào việc phát triển tư duy cho học sinh, đồng thời xây dựng cho các em phương pháp, tư tưởng khoa học để có những nhận thức, thái độ đúng đắn trước những vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Để học sinh phổ thông tạo được những văn bản hay, sáng tạo, việc giúp các em có kĩ năng sử dụng tốt các thao tác lập luận là rất quan trọng. Sách giáo khoa Ngữ Văn từ THCS (Trung học cơ sở) đến THPT (Trung học phổ thông) đã đưa các thao tác lập luận thành từng nội dung cụ 3 thể (ở sách giáo khoa Làm văn trước đây các thao tác lập luận này chưa được học một cách rõ ràng, cụ thể), nhằm giúp học sinh hiểu sâu bản chất các thao tác cụ thể, từ đó vận dụng tốt các thao tác đó trong quá trình tạo lập văn bản. Sách giáo khoa Ngữ Văn THCS đã cung cấp cho học sinh hai thao tác lập luận là thao tác lập luận chứng minh, thao tác lập luận giải thích, đến sách giáo khoa Ngữ văn THPT - SGK Ngữ văn 11 - phần Làm văn giới thiệu thêm bốn thao tác lập luận: phân tích, so sánh, bác bỏ, và bình luận. Bốn thao tác lập luận này là trọng tâm phần Làm văn của sách Ngữ văn lớp 11. Trong đó thao tác lập luận bác bỏ là thao tác dùng lí lẽ và dẫn chứng để phê phán, gạt bỏ những quan điểm, ý kiến sai lệch hoặc thiếu chính xác... Từ đó, nêu ý kiến đúng của mình để thuyết phục người nghe. Lập luận bác bỏ là một bộ phận không thể thiếu trong kĩ năng làm văn nghị luận, nhưng lâu nay chưa đưa vào trong SGK (sách giáo khoa). Đây là lần đầu tiên được đưa vào trong SGK, cho nên giáo viên phần nhiều có thể cảm thấy lúng túng. Tuy nhiên, trong thực tế đời sống, nội dung này không hề xa lạ, bởi nó thường gặp trong báo chí, tranh luận. Hơn thế nữa, lập luận bác bỏ là một công việc khoa học, nó đòi hỏi khách quan, trung thực. Những cách bác bỏ bằng xuyên tạc, cắt xén, bịa đặt bằng chứng giả đều không có giá trị. Do đó, học thao tác lập luận bác bỏ cũng là bài học có ý nghĩa về đạo đức, rèn luyện trí tuệ và tính trung thực cho học sinh. Với tất cả những vướng mắc, lúng túng của người giáo viên gặp phải khi rèn kĩ năng lập luận bác bỏ cho học sinh và với những lợi ích không thể phủ nhận của thao tác lập luận này trong việc bồi dưỡng tư duy phê phán khoa học... Xuất phát từ thực trạng dạy học Làm văn hiện nay, cùng với mong muốn những bài làm văn của học sinh ngày càng được nâng cao về chất lượng, tránh đi những lỗi đáng có, chúng tôi chọn đề tài “Rèn luyện cho học sinh lớp 11 kĩ năng lập luận bác bỏ trong làm văn nghị luận”. Với đề tài này, chúng tôi sẽ tìm tòi và đề xuất một số biện pháp, cách thức và hình thức cũng như hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng lập luận bác bỏ trong làm văn nghị 4 luận cho học sinh, từng bước trang bị cho học sinh kĩ năng làm văn khoa học và cũng từng bước trang bị cho các em những kiến thức, hành trang bước vào cuộc sống. 2. Lịch sử vấn đề Ở nhà trường phổ thông, trong tương quan với hai phân môn Đọc văn và Tiếng Việt thì Làm văn ít được chú trọng hơn. Điều này đã dẫn đến một thực tế là những vấn đề liên quan đến phân môn Làm văn chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức. Mặc dù vậy, những công trình khoa học đã công bố cũng đã phần nào giải quyết được những phương diện lí thuyết và thực hành của việc dạy học Làm văn. Để tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi tạm chia các công trình đã được nghiên cứu về lĩnh vực Làm văn thành cách nhóm sau đây: 2.1. Nhóm các công trình nghiên cứu các vấn đề lí luận chung về Làm văn và phương pháp dạy học môn Làm văn 1) Phương pháp dạy học Tập làm văn (một chương trong Phương pháp dạy học Tiếng Việt- Lê A- Nguyễn Quang Ninh- Bùi Minh Toán- NXB Giáo dục năm 1998). 2) Làm văn (tập 1 và tập 2)- Đình Cao, Lê A, NXB Giáo dục năm 1991). 3) Phương pháp dạy học môn Làm văn (một chương trong Phương pháp dạy học Văn- Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt, NXB ĐHQG Hà Nội năm 1999). 4) Môn Văn và Tiếng Việt, tập II (Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kì 1993-1996 cho giáo viên THPT)- Trần Thanh Đạm, Nguyễn Đăng Mạnh, Phương Lựu, Vụ giáo viên-1995. 5) Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 11 THPT môn Ngữ văn, NXB Giáo dục năm 2006. Với tầm nhìn của các nhà sư phạm, các công trình nghiên cứu và giáo trình ở nhóm thức nhất rất quan tâm tới việc dạy lí thuyết và thực hành làm 5 văn. Đứng ở góc độ lí thuyết dạy học và phương pháp bộ môn, các tác giả Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt đã xuất phát từ tình hình dạy học Làm văn ở nhà trường THPT còn nhiều thiếu sót mà báo động: Sự đơn giản trong tư duy, sự nghèo nàn trong tình cảm và sự phiến diện trong nhân cách học sinh là điều không thể chấp nhận trong nền giáo dục của chúng ta. Làm văn mà chỉ biết sao chép kiến thức và phát ngôn theo những khuôn sáo có sẵn, chắc chắn đó là tình trạng không bình thường trong giáo dục và giảng dạy văn chương [18, 219]. Không chỉ là những lo ngại về tình hình học sinh mà vấn đề dạy học của giáo viên cũng đáng lo ngại: Giáo viên chưa ý thức được đầy đủ yêu cầu của việc rèn luyện kĩ năng cho học sinh qua môn Làm văn gắn liền với việc hình thành những phẩm chất cần có của một người lao động như tác phong cẩn thận, đức tính cần cù, bền bỉ cũng như tinh thần trách nhiệm và tính mực thước trong lao động và trong đời sống. Do lối dạy văn khuôn mẫu, xơ cứng, do quan niệm làm văn nặng về thi cử, do yêu cầu chủ yếu đối với học sinh ở nhà trường phổ thông vẫn là sao chép kiến thức, giáo viên không ý thức được hết nguy hại lâu dài sâu xa của lối dạy làm văn lâu nay [18, 130]. Với thực trạng ấy, các tác giả đã xác định lại vị trí của Làm văn trong chương trình Ngữ văn ở THPT, ở những việc cụ thể như dạy lí thuyết, luyện tập thực hành rèn kĩ năng, việc ra đề kiểm tra, việc chấm và trả bài cho học sinh. Bên cạnh đó, trong những giáo trình dạy học phương pháp dạy phân môn Làm văn, các tác giả như Lê A, Nguyễn Quang ninh, Bùi Minh Toán đã đi vào xác định vị trí và mục tiêu chương trình của sách giáo khoa cũng như phân môn làm văn trong trường THPT, chỉ ra những tiền đề lí thuyết của việc dạy học làm văn từ góc độ ngôn ngữ học văn bản, lí thuyết giao tiếp, lôgic học, lí luận văn học. Các tác giả khẳng định: Trên con đường xác định một lí thuyết thực sự khoa học cho môn làm văn, ta lại gặp nhiều vấn đề của làm văn gắn liền với lôgic. Từ khâu ra đề, chấm bài, rèn luyện kĩ năng, giảng dạy 6 lí thuyết của giáo viên, đến việc lập ý, dựng đoạn, viết bài của học sinh. Ở đâu cũng cần sử dụng những hiểu biết về lôgic học. Các thao tác về tư duy được nghiên cứu trong lôgic học như: Suy diễn, chứng minh, bác bỏ và đang được sử dụng triệt để trong làm văn. Không nắm được các thao tác tư duy, không nắm được những quy luật cơ bản của lôgic học không thể tạo dựng được những bài văn chặt chẽ, mạch lạc về nội dung và rõ ràng trong sáng về diễn đạt [4, 197]. Về phương pháp dạy học, các tác giả đã nêu những vấn đề khá cụ thể về phương pháp dạy học lí thuyết, truyền đạt trực tiếp các khái niệm, các vấn đề lí thuyết, phân tích mẫu, phương pháp thực hành, phương pháp ra đề, phương pháp chấm và trả bài cùng một số kĩ năng cần rèn luyện cho học sinh. Các tác giả Lê A và Đình Cao đã có bộ giáo trình Làm văn hai tập dùng trong các trường Đại học và Cao đẳng sư phạm. Đây là một công trình lớn đề cập đến lí luận và thực hành của môn Làm văn nói chung nhằm mục đích “vừa cung cấp cho sinh viên tri thức lí thuyết, vừa rèn luyện kĩ năng, vừa khắc phục những thiếu sót về nói và viết, vừa nâng cao trình độ ngôn ngữ phù hợp với bậc Đại học”(Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán- Phương pháp dạy học Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội-1998, tr. 8). Trong bộ sách Làm văn 10, 11, 12 do tác giả Trần Thanh Đạm làm chủ biên đã đưa ra qua niệm: “Tập làm văn là tập viết thành câu, thành đoạn, thành bài về những cảm xúc, kinh nghiệm, suy nghĩ, nhận xét… của mình để cho người khác cảm được, hiểu được một cách đầy đủ, đúng đắn. Do đó Làm văn là rèn luyện ngôn ngữ, ngôn từ. Đồng thời, tập làm văn là phát triển các năng lực trí tuệ, tâm hồn, góp phần phát triển nhân cách của con người. Cũng trong những bộ sách này, các tác giả đã trình bày một cách nhất quán những vấn đề về lí thuyết làm văn và làm văn nghị luận, xây dựng bài văn nghị luận đến các kiểu bài làm văn nghị luận xã hội, nghị luận văn học, các bài làm văn tự do, sáng tạo phù hợp với đối tượng học sinh THPT. 7 2.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về việc nâng cao chất lượng dạy học môn Làm văn 1) Phương pháp làm văn nghị luận- Lê Thanh Thông, Nguyễn Lệ Thu, NXB Đà Nẵng. 2) Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh- Nguyễn Quang Ninh, Nguyễn Thị Bàn, Trần Hữu Phong, NXB ĐHQG, 2000. 3) Rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm văn nghị luận- Nguyễn Ngọc Phúc (NCGD- Số 11/1980). 4) Muốn viết được bài văn hay- Nguyễn Đăng Mạnh, Đỗ Ngọc Thống, Lưu Đức Hạnh, NXB Giáo dục, 1995. 5) Mấy vấn đề lí luận và thực hành Làm văn- Phan Trọng Luận (Vụ Giáo viên Bộ Giáo dục, 1993) 6) 150 bài tập rèn kĩ năng dựng đoạn văn- Nguyễn Quang Ninh, NXB Giáo dục, 1997. Tác giả Nguyễn Ngọc Phúc trong bài “rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm văn nghị luận” đã đưa ra vấn đề: rèn kĩ năng làm văn nghị luận phải được tiến hành một cách toàn diện, công phu và kiên trì và phải được quan tâm đúng mức. Tác giả đề xuất việc rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận phải rèn kĩ năng suy nghĩ, phải coi trọng cả hai mặt: cung cấp kiến thức và giúp học sinh rèn luyện thành thạo kĩ năng làm bài qua tất cả các khâu, trong tất cả các phân môn của môn Ngữ văn, đồng thời tích hợp với các môn học khác và trong các hoạt động của nhà trường. Có thể nói, các công trình nghiên cứu trên đã tập trung nghiên cứu vấn đề rèn luyện kĩ năng lập luận cho học sinh, cũng như chỉ ra một số vấn đề dạy học Làm văn trong nhà trường. Những công trình ấy đã xây dựng được một hệ thống tri thức cơ bản về qui trình tổ chức một bài văn, tuy nhiên lại thiếu đi những bài tập rèn luyện kĩ năng cụ thể, thiết thực. 8 Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của người đi trước, học hỏi trao đổi kinh nghiệm với thầy cô, bạn bè đồng nghiệp, chúng tôi đi sâu nghiên cứu vấn đề rèn luyện cho học sinh lớp 11 kĩ năng lập luận bác bỏ trong làm văn nghị luận, đặc biệt là xây dựng hệ thống bài tập giúp học sinh rèn luyện kĩ năng lập luận bác bỏ một cách hiệu quả. 2.3. Nhóm các công trình nghiên cứu về lập luận bác bỏ và kĩ năng lập luận bác bỏ Lập luận bác bỏ là thao tác dùng lí lẽ và dẫn chứng để phê phán, gạt bỏ những quan điểm, ý kiến sai lệch hoặc thiếu chính xác...Từ đó, nêu ý kiến đúng của mình để thuyết phục người nghe. Trong đời sống cũng như trong sách báo, ta có thể bắt gặp những ý kiến sai lầm, những lời nói, bài viết lệch lạc, thiếu chính xác, trái ngược với thực tế, với đạo lí, không phù hợp với chân lí,...hoặc sử dụng cách lập luận không lôgic, phản khoa học... Trước những tình huống ấy, ta thường trao đổi lại, tranh luận để bác bỏ ý kiến sai trái đó. Theo Từ điển tiếng Việt giải thích: "Bác bỏ (đg): bác đi, gạt đi, không chấp nhận". Ví dụ: Bác bỏ ý kiến. Bác bỏ luận điệu vu khống. Dự án bị bác bỏ. Về bản chất, nghị luận là tranh luận để bác bỏ những quan điểm, ý kiến không đúng; bày tỏ và bênh vực những quan điểm, ý kiến đúng đắn. Về vấn đề này, từ rất xa xưa con người trong những cuộc tranh luận cũng đã có những cách bác bỏ ý kiến sai lầm rất thú vị. Trong cuốn Phương pháp biện luận- Thuật hùng biện của tác giả Triệu Truyền Đống, dịch Nguyễn Quốc Siêu đã tổng kết và trình bày có hệ thống những cách thức, chiến thuật và mưu mẹo giành chiến thắng trong tranh luận, với gần 280 bài. Sách dẫn những ví dụ trong sử sách và đời thường của các nước trên thế giới, chia làm bốn phần: Thắng bằng lôgic; Thắng bằng nghệ thuật ngôn từ; Thắng bằng mưu chước; Thắng bằng vạch trần nguỵ biện. Tranh luận là quá trình giao lưu ngôn ngữ đòi hỏi cả hai bên phải chứng minh được quan điểm của mình là 9 đúng đắn, bằng những lí lẽ cần thiết. Đồng thời vạch trần sai lầm trong quan điểm của đối phương, nhằm đi đến một nhận thức chung. Tranh luận là tinh hoa nghệ thuật của năng lực hành động ngôn ngữ, là cách thức phát triển trí tuệ, là hòn đá mài sắc tư duy, là vũ khí đánh đổ mọi sai lầm. Thời xưa, tranh luận đã từng lưu lại nhiều tấm gương sáng chói. Trần Chuẩn nói rõ lí lẽ mà quân địch phải lui, Tô Tần du thuyết mà sáu nước được an, Gia Cát Lượng thiệt chiến quần nho mà Ngô- Thục kết liên minh, đánh cho quân Tào Tháo thất điên bát đảo. Ngày nay, cũng đã có biết bao cuộc tranh luận đã thu hút và làm nức lòng người. Bên cạnh những công trình nghiên cứu về lí thuyết làm văn nghị luận, đặc biệt là lí thuyết về lập luận bác bỏ như trên, còn có khá nhiều những công trình nghiên cứu về thao tác lập luận trong làm văn nghị luận cho học sinh THPT. Trong cuốn “Rèn kĩ năng làm văn tốt nghiệp THPT và thi đại học môn Ngữ văn- nghị luận xã hội”, NXB ĐHQG, năm 2009 có viết: Do đặc trưng của việc bàn luận, làm sáng rõ một vấn đề xã hội nào đó, cũng giống như các bài văn nghị luận nói chung, một bài văn nghị luận xã hội cần có sự kết hợp thành thạo giữa các thao tác nghị luận, lập luận chặt chẽ, thuyết phục, bố cục lôgic. Và mỗi thao tác lập luận ứng với một mục tiêu cụ thể: Giải thích để làm rõ và giới hạn khái niệm; phân tích để đi sâu vào những khía cạnh cụ thể; chứng minh và so sánh để làm sáng tỏ vấn đề; bác bỏ để làm nổi bật sự đúng đắn của vấn đề; bình luận để đánh giá nâng cao và mở rộng vấn đề. Thao tác lập luận bác bỏ lần đầu tiên được đưa vào chương trình sách giáo khoa lớp 11, tập 2 cũng với mục đích là rèn luyện cho học sinh đầu óc phê phán, phân tích, biết nhận ra chỗ đúng, chỗ sai và biết cách phê phán, bác bỏ cái sai. Nếu một người mà thiếu đầu óc phê phán thì dễ dàng rơi vào tình trạng ba phải, dễ dãi, không có năng lực phân biệt đúng sai. Thao tác lập luận bác bỏ có thể giúp học sinh mài sắc tư duy phê phán của mình. Bác bỏ không phải là việc cao xa, khó khăn, ngoài tầm của học sinh. Chỉ cần biết rèn luyện, 10 tuân theo các chỉ dẫn, có tri thức phong phú là có thể thực hiện được việc bác bỏ các quan điểm, tư tưởng sai trái. Việc rèn luyện kĩ năng viết văn, đặc biệt là kĩ năng làm văn nghị luận đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, đề cập tới. Tuy nhiên, việc rèn kĩ năng lập luận bác bỏ trong văn nghị luận là một vấn đề khá mới. Trong quá trình dạy học đa số các giáo viên chú ý tới việc vận dụng kết hợp các thao tác lập luận trong làm văn nghị luận chứ chưa chú ý sâu sắc tới việc rèn một kĩ năng lập luận cho học sinh. Căn cứ vào những công trình đã nghiên cứu và đặc biệt là thông qua thực tế giảng dạy và khả năng nhận thức của học sinh, luận văn xin đề xuất một số những cách thức rèn luyện cho học sinh lớp 11 kỹ năng lập luận bác bỏ trong làm văn nghị luận. 3. Mục đích nghiên cứu 3.1. Rèn luyện kĩ năng lập luận bác bỏ trong làm văn nghị luận Khi triển khai vấn đề này chúng tôi có mong muốn lớn nhất là rèn luyện cho học sinh lớp 11 kĩ năng lập luận bác bỏ trong bài làm văn nghị luận một cách linh hoạt, thuần thục và hiệu quả nhất. Để từ đó giúp học sinh nâng cao và hoàn thiện kĩ năng lập luận nói chung và kĩ năng lập luận bác bỏ nói riêng. Hơn nữa, học sinh biết cách sử dụng tổng hợp các thao tác và các kĩ năng riêng lẻ đã được học tập để viết được một bài làm văn hoàn thiện. Việc rèn kĩ năng lập luận bác bỏ giúp học sinh nâng cao năng lực tư duy. Từ đó, học sinh phát huy được năng lực cá nhân, óc tư duy phê phán, khả năng sáng tạo cũng như sự tự tin bộc lộ ý kiến riêng trước những vấn đề văn học hay những vấn đề của đời sống xã hội. Đề tài của chúng tôi cũng có mong muốn biến động lực học tập môn Ngữ văn thành động lực thực sự từ bên trong của mỗi cá nhân học sinh để học sinh cảm thấy thực sự hứng thú và say mê. 11 3.2. Nâng cao ý thức trách nhiệm cũng như khắc phục những hạn chế, thiếu sót của giáo viên khi dạy học phần Làm văn Quá trình dạy học là sự tương tác giữa người dạy và người học. Muốn cho việc học của học sinh đạt được những hiệu quả như ý muốn, đòi hỏi người thầy cũng phải nâng cao ý thức và trách nhiệm nghề nghiệp. Mỗi giáo viên phải tự trau dồi chuyên môn, suy nghĩ tìm tòi những hướng đi, cách làm có hiệu quả trong việc giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức Làm văn cũng như giúp học sinh rèn luyện hình thành các kĩ năng làm văn một cách hiệu qủa nhất. Việc thực hiện đề tài này cũng nhằm giúp giáo viên tự chuẩn hoá lại kiến thức làm văn, có thể giúp giáo viên khắc phục những hạn chế, thiếu xót trong công tác giảng dạy của mình. Từ đó, giúp giáo viên có ý thức đầy đủ hơn về yêu cầu của việc rèn kĩ năng lập luận bác bỏ trong làm văn nghị luận của học sinh. Và mục đích cao nhất mà mỗi người giáo viên luôn hướng tới là đào tạo ra những con người có tri thức, có phương pháp, kĩ năng làm việc, thực sự bản lĩnh, tự tin, sáng tạo làm chủ tương lai của mình. 3.3. Nâng cao hiệu quả giảng dạy của giáo viên cũng như chất lượng học tập của học sinh trong việc dạy và học làm văn nghị luận Việc rèn kĩ năng lập luận bác bỏ là một phần rất quan trọng trong rèn kĩ năng làm văn nghị luận. Công việc này giúp thêm một phần vào việc nâng cao hiệu quả dạy học của giáo viên và chất lượng học tập của học sinh đối với phân môn làm văn. Từ đó, giúp bước đầu xoá bỏ tình trạng thờ ơ, chán ghét của một bộ phận học sinh đối với bộ môn này. Giúp cho học sinh và cả bản thân giáo viên có thể nối liền khoảng cách văn chương và đời sống, biến những kiến thức sách vở trở nên sinh động trong cuộc sống đời thường, khả năng ứng dụng trong thực tế sinh động và linh hoạt hơn. Ví như kĩ năng lập luận bác bỏ ứng dụng trong những cuộc tranh luận, thảo luận về những vấn đề văn học hay những vấn đề của cuộc sống xã hội. Học sinh có khả năng 12 ứng biến linh hoạt, khả năng tư duy ngôn ngữ nhanh nhạy và hùng biện thông minh. Đó cũng là mục đích cao nhất của mọi hoạt động giáo dục trong nhà trường. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu Với đề tài này, luận văn của chúng tôi mong muốn thực những nhiệm vụ quan trọng sau: - Hệ thống hoá cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài. - Đề xuất một số cách rèn luyện kỹ năng lập luận bác bỏ trong làm văn nghị luận ở lớp 11 THPT. - Xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng lập luận bác bỏ trong làm văn nghị luận. - Tổ chức dạy thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của các biện pháp đề xuất. 5. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tượng của những điều tra dạy học thực nghiệm được tiến hành ở một số lớp 11 tại trường THPT Kinh Môn II, Hải Dương. Đây là đối tượng khá thuận lợi cho việc tiến hành thực nghiệm sư phạm với đề tài rèn luyện cho học sinh lớp 11 kĩ năng lập luận bác bỏ cho học sinh trong làm văn nghị luận. Ở lứa tuổi này tuy các em chưa trưởng thành như những học sinh khối lớp 12 nhưng các em cũng không còn non nớt , bỡ ngỡ như học sinh lớp 10. Các em đã có thể có những suy nghĩ khá thấu đáo về những vấn đề văn học hay những vấn đề về đời sống xã hội, từ đó các em tự tin thể hiện những suy nghĩ của riêng mình hay phát biểu những ý kiến mang tính cá nhân độc lập và có chính kiến. Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu còn tập trung vào việc dạy học một số giờ lí thuyết và thực hành về thao tác lập luận bác bỏ, giờ trả bài, hay các giờ đọc văn. Để từ đó giúp học sinh hình thành những kĩ năng lập luận bác bỏ cơ bản và vận dụng kĩ năng đó vào việc hoàn thiện bài làm văn cụ thể. 13 Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi còn chú ý tới năng lực viết văn của học sinh được nhìn trên khả năng viết đoạn văn nghị luận có sử dụng thao tác lập luận bác bỏ. Đó là kĩ năng vận dụng cao của học sinh để tiến tới hoàn thiện kĩ năng lập luận bác bỏ nói riêng và kĩ năng làm văn nghị luận nói chung. 6. Phạm vi nghiên cứu Để viết được bài nghị luận có chất lượng người học sinh cần phải rèn luyện rất nhiều các kỹ năng. Luận văn này tập trung vào vấn đề rèn luyện cho học sinh lớp 11 kỹ năng lập luận bác bỏ trong làm văn nghị luận. Đây được coi là một bộ phận không thể thiếu trong kĩ năng làm văn nghị luận. 7. Phƣơng pháp nghiên cứu Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng tổ hợp các phương pháp nghiên cứu có nhiều thuận lợi và hiệu quả sau đây: 7.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp Chúng tôi sử dụng nhóm phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp để nghiên cứu phân tích những vấn đề như phân tích tâm lí học sinh, phân tích năng lực cá nhân của học sinh lớp 11, phân tích những đặc trưng của văn nghị luận, đặc biệt là phân tích thao tác lập luận bác bỏ và tác dụng của nó trong làm văn nghị luận cũng như những ứng dụng vào thực tế cuộc sống. 7.2. Phương pháp điều tra, khảo sát Phương pháp điều tra, khảo sát là một phương pháp quan trọng trong việc tiến hành nghiên cứu đề tài này. Bởi lẽ, phương pháp điều tra khảo sát giúp cho chúng ta có những số liệu cụ thể mang tính khoa học và thuyết phục dẫu rằng chúng ta đã tiến hành những thực nghiệm sư phạm hiệu quả trước đó. Ví như khi điều tra thực tế về khả năng vận dụng kĩ năng lập luận bác bỏ vào trong bài văn nghị luận của học sinh, có tới 90% học sinh có sử dụng lập luận bác bỏ vào trong bài làm của mình, con số đó rõ ràng đã nói lên rất nhiều về tính hiệu quả của việc rèn kĩ năng lập luận bác bỏ cho học sinh làm văn nghị luận. 14 7.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm Bất cứ một công trình nghiên cứu nào cũng nên sử dụng phương pháp thực nghiệm này, bởi vì thực nghiệm sẽ là phương pháp giúp kiểm tra hướng đi, hay những đề xuất trong đề tài một cách chính xác và hiệu quả nhất. Kĩ năng lập luận bác bỏ được tiến hành theo các bước cụ thể như thế nào và kĩ năng đó có tác dụng ra sao đối với việc tạo lập văn bản, với việc phát biểu ý kiến của học sinh,… Tất cả những vấn đề đó phải được thể hiện qua những thực nghiệm sư phạm thì mới có tác dụng kiểm chứng. 7.4. Phương pháp thống kê Ngoài những phương pháp kê trên, chúng tôi còn sử dụng phương pháp thống kê so sánh. Đây là phương pháp khá quan trọng trong quá trình nghiên cứu đề tài bởi lẽ việc thống kê so sánh đã đem lại những cứ liệu, dẫn chứng. Và đó là những cơ sở cho chúng tôi đi sâu tìm hiểu, phát hiện ra những cách thức con đường, gợi mở giải pháp giúp học sinh thuận lợi hơn khi sử dụng thao tác lập luận bác bỏ. 8. Dự kiến đóng góp của luận văn 8.1. Về lý luận - Hệ thống hoá những tiền đề về lí luận bác bỏ. - Góp thêm cơ sở khoa học cho việc đổi mới phương pháp dạy và học Làm văn THPT. 8.2. Về thực tiễn - Đề xuất các cách thức rèn luyện kỹ năng lập luận bác bỏ trong làm văn nghị luận cho học sinh THPT. - Giúp giáo viên và học sinh thuận lợi hơn trong quá trình dạy và học Làm văn nghị luận. 15 9. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận chung, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài. Chương 2: Tổ chức rèn luyện kỹ năng lập luận bác bỏ trong bài làm văn nghị luận ở lớp 11 trung học phổ thông Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. 16 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1. Cơ sở lí luận 1.1.1. Thao tác lập luận với tư cách là một hoạt động của tư duy 1.1.1.1. Về tư duy * Tư duy: Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí. Tư duy là phạm trù triết học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, đem những cảm giác của con người sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạt động vật chất, làm cho con người có nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xử tích cực với nó. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, tập 4 (NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2005): Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt - bộ não người. Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lí luận .v.v... Tư duy là một hoạt động nhận thức không thể thiếu trong sự tồn tại và phát triến của xã hội loài người. Trong quá trình phát triển của mình con người không chỉ tư duy nhằm giải quyết các vấn đề do thực tiễn cuộc sống đặt ra mà còn tiến hành tư duy nhằm lĩnh hội tri thức và phát triển nhân cách của mình, trên cơ sở đó đóng góp kết quả hoạt động của mình vào kho tàng văn hoá xã hội của nhận loại. theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, hoạt động nhận thức của con người diễn ra theo một quá trình đi từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lí tính: "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến hoạt động thực tiễn là một quá trình nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực khách quan" (Lê-nin). Tâm lí học cho rằng: "Tư duy là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối quan hệ 17
- Xem thêm -