Rèn chữ viết cho học sinh lớp 1

  • Số trang: 11 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 21 |
  • Lượt tải: 0
nguyen-thanhbinh

Đã đăng 8358 tài liệu

Mô tả:

Sáng kiến kinh nghiệm lớp 1 Năm học 2014 - 2015 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài. Hiện nay học sinh ở trường tiểu học viết chữ rất xấu nhìn chung ở tất cả các khối lớp không riêng gì lớp 1. Với việc đổi mới công nghệ giáo dục hiện nay trước tiên đối với lớp 1 từ năm 2013 cho thấy chất lượng chữ viết đối với học sinh lớp 1có phần tiến triển hơn so với các năm học trước. Để tiến kịp với thời đại, phục vụ kịp thời cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, giáo dục tiểu học đã và đang trở thành mối quan tâm lớn của toàn xã hội. Cấp tiểu học được coi là bậc nền móng của hệ thống giáo dục quốc dân. Chất lượng giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào kết quả đào tạo ở cấp tiểu học. Vì thế, giáo dục tiểu học phải chuẩn bị thật tốt về mọi mặt để học sinh tiếp tục học tập ở các cấp học tiếp theo. Nếu người ta coi cấp tiểu học là nền thì lớp 1 được coi là móng. Bởi vậy, để học sinh tiếp thu được hệ thống kiến thức trong toàn cấp học này ngay từ ban đầu giáo viên cần trang bị cho học sinh vốn Tiếng Việt phong phú qua việc dạy và học môn Tiếng Việt ở lớp 1. Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở lớp 1 yêu cầu dạy cả 4 kĩ năng sử dụng Tiếng Việt ( nghe, nói, đọc, viết) dạy cả hai dạng ngôn ngữ (ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết). Tuy nhiên chương trình ưu tiên cho việc dạy ngôn ngữ viết nhằm giúp học sinh ở cuối lớp 1 có thể đọc viết được Tiếng Việt. Viết chữ đẹp không chỉ là điều mong muốn của giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh mà là nguyện vọng của toàn xã hội, bởi nó có một tầm quan trọng đặc biệt ở cấp Tiểu học nhất là đối với học sinh lớp 1; lớp đầu cấp là nền tảng cho các lớp trên. Ngoài ra tập viết chữ đẹp còn góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học sinh những phẩm chất đạo đức tốt như tính cẩn thận, tinh thần kỉ luật và khiếu thẩm mỹ. Đối với học sinh lớp 1 việc rèn chữ là một yêu cầu hết sức quan trọng và cấp thiết, vì nếu ngay từ lớp 1 các cô giáo không rèn luyện uốn nắn cho học sinh thì sau này học lên các lớp trên sẽ tạo thành thói quen khó sửa đối với học sinh. Là một giáo viên Tiểu học,nhiều năm tôi được phân công giảng dạy lớp 1, tôi nhận thấy việc rèn chữ cho học sinh là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của giáo viên. Chính vì vậy, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Rèn chữ viết cho học sinh lớp 1” để nghiên cứu. 1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài. Tìm hiểu thực trạng chữ viết của học sinh lớp 1A ở trường Tiểu học Thanh Tân, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Đề xuất một số kinh nghiệm trong việc dạy viết cho học sinh để nâng cao chất lượng rèn chữ viết của học sinh lớp 1. 1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu. Học sinh lớp 1A – Trường Tiểu học Thanh Tân, xã Thanh Tân, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Phương pháp, kĩ thuật dạy viết chữ trong nhà trường Tiểu học. Giáo viên: Đỗ Thị Hạnh 1 Sáng kiến kinh nghiệm lớp 1 Năm học 2014 - 2015 1.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Do thời gian không cho phép và khả năng còn hạn chế, bản thân tôi chỉ nghiên cứu đề tài trong phạm vi: "Hướng dẫn học sinh lớp 1A rèn viết chữ đúng kĩ thuật, đúng mẫu làm cơ sở cho việc rèn viết chữ đẹp.". 1.5. Phương pháp nghiên cứu. Nghiên cứu lý luận về các phương pháp dạy tập viết ở Tiểu học. Điều tra khảo sát tình hình chữ viết của học sinh lớp 1A, trường Tiểu học Thanh Tân, Thanh Liêm, Hà Nam. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm II. PHẦN NỘI DUNG 2.1. Cơ sở lí luận. Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu đối với giáo dục càng lớn. Giáo dục có một vị trí quốc sách hàng đầu, là hệ thống giáo dục mang tính chất văn hoá rộng rãi nhất được Đảng và Nhà Nước cùng toàn thể xã hội tạo điều kiện phát triển theo tinh thần này. Trong hệ thống giáo dục thì bậc Tiểu học được quy định là cấp học nền tảng có nhiệm vụ giáo dục và đào tạo con người phát triển hài hoà về nhân cách và tri thức. Hiện nay việc rèn chữ viết cho học sinh là một vấn đề mang tính cấp thiết được phổ biến rộng rãi trên toàn quốc với tinh thần đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học. Trước những yêu cầu của chương trình và sách giáo khoa tiểu học mới, cùng với quyết định của Bộ trưởng Bộ giáo dục – Đào tạo về việc ban hành mẫu chữ viết trong trường Tiểu học. Thì việc rèn chữ viết cho học sinh đặc biệt là những người đang uốn nắn cho trẻ những con chữ đầu tiên phải xác định rõ nhiệm vụ cơ bản được việc dạy tập viết ở trường Tiểu học. Phân môn Tập viết ở tiểu học cung cấp cho học sinh những khái niệm cơ bản về cỡ chữ (cỡ to, cỡ nhỡ, cỡ nhỏ), những kiến thức về dòng kẻ, về không gian trên, dưới, trong, ngoài, trái, phải, tên gọi các nét cơ bản, cấu tạo chữ cái, điểm đặt bút, vị trí đánh dấu thanh, dấu phụ,... cách liên kết các nét tạo thành chữ cái, cách liên kết các chữ cái,... đồng thời giúp các em xác định khoảng cách, vị trí cỡ chữ trên vở kẻ ô li để hình thành kĩ năng viết đúng mẫu, rõ ràng, và cao hơn là viết nhanh, viết đẹp. Dựa vào đặc điểm sinh lý của học sinh tiểu học cho thấy ở giai đoạn đầu của bậc tiểu học cơ thể học sinh đang phát triển, cơ, xương của các em phát triển chưa hoàn thiện do vậy giáo viên cần quan tâm đến học sinh, uốn nắn các em từ tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở, cách trình bày bài viết của học sinh, coi đây là một trong những kỹ năng đặc thù của việc dạy tập viết mà giáo viên cần thường xuyên vận dụng. Để dạy tốt phân môn tập viết giáo viên cần nắm và sử dụng linh hoạt các phương pháp sau: Giáo viên: Đỗ Thị Hạnh 2 Sáng kiến kinh nghiệm lớp 1 Năm học 2014 - 2015 Phương pháp trực quan: Phương pháp trực quan là phương pháp dạy học rất quan trọng nhằm khắc sâu biểu tượng về chữ cái cho các em bằng nhiều con đường kết hợp mắt nhìn tai nghe, tay luyện tập. Điều này giúp các em chủ động phân tích hình dáng, kích thước và cấu tạo theo mẫu chữ, tìm ra sự giống nhau và khác nhau của chữ cái đang học với chữ cái đã học trước đó. Chữ mẫu là hình thức trực quan ở tất cả các bài tập viết. Đây là điều kiện đầu tiên để các em viết đúng. Có các hình thức chữ mẫu như mẫu in sẵn, chữ mẫu phóng to trên bảng, chữ mẫu trong vở tập viết, chữ mẫu của giáo viên khi chấm bài. Phương pháp đàm thoại gợi mở: Phương pháp đàm thoại, gợi mở giúp giáo viên dẫn dắt học sinh tiếp xúc với các chữ cái đã học bằng một hệ thống câu hỏi, từ việc đặt câu hỏi về các nét cấu tạo chữ cái, độ cao kích thước chữ cái đã được học với các chữ cái đang phân tích. Phương pháp luyện tập: Phương pháp luyện tập giúp học sinh tập viết các chữ cái, chữ số, từ, câu trên bảng lớp. Tập viết chữ vào bảng con của học sinh. Luyện viết trong vở em tập viết. Luyện viết chữ trong các môn học khác. Đối với lớp 1 nói riêng, cấp Tiểu học nói chung, sự nghiêm khắc của giáo viên về chất lượng chữ viết ở tất cả các môn học là cần thiết. Có như thế, việc luyện tập chữ viết mới được củng cố đồng bộ thường xuyên. Việc làm này đòi hỏi ở người giáo viên ngoài những hiểu biết về chuyên môn còn cần có sự kiên trì, cẩn thận và lòng yêu nghề mến trẻ 2.2 .Thực trạng 2.2.1 Thuận lợi, khó khăn. 1.1. Thuận lợi: Trường Tiểu học Thanh Tân là trường thuộc xã Thanh Tân, trường nằm bên cạnh con đường trục chính của xã. Nhà trường thường xuyên nhận được sự quan tâm của các cấp, các ngành và chính quyền địa phương. Ban giám hiệu nhà trường - tổ khối thường xuyên dự giờ thăm lớp đánh giá xếp loại. Tổ chức sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề để xem có gì vướng mắc thì cùng nhau khắc phục. Số lượng HS vừa phải , cơ sở vật chất tương đối đầy đủ , nhất là bảng viết đã được đầu tư kẻ ô ly sẵn . Bên cạnh những thuận lợi trên còn có một số khó khăn ảnh hưởng không nhỏ tới việc luyện tập viết cho học sinh đó là: 1.2. Khó khăn. - Trường Tiểu học Thanh Tân thuộc xã miền núi, đời sống nhân dân còn gặp khó khăn. Cha mẹ các em hầu hết là làm nghề nông nên sự quan tâm đến việc học tập của con em còn hạn chế, nhiều em đến trường còn thiếu dụng cụ học tập. - Do quan điểm của một số người chỉ cần viết đúng chính tả và đọc được là đạt yêu cầu, còn chữ xấu hay đẹp không cần thiết. - Sự phối kết hợp luyện viết cho học sinh ở lớp và ở nhà chưa đồng bộ, đôi khi còn trái ngược nhau. Giáo viên: Đỗ Thị Hạnh 3 Sáng kiến kinh nghiệm lớp 1 Năm học 2014 - 2015 - Bộ hướng dẫn mẫu chữ tập viết của GV chưa có , nhất là mẫu chữ viết hoa 2.22. Thành công, hạn chế: Qua một thời gian áp dụng, tôi thấy học sinh lớp có những chuyển biến rõ rệt về chữ viết. Viết nắn nót, cẩn thận đã thành thói quen của học sinh. Các em luôn tự giác trong học tập, sách vở luôn giữ sạch đẹp. Phong trào “vở sạch - chữ đẹp” của lớp luôn được Ban thi đua đánh giá cao. Vở viết của học sinh đảm bảo chất lượng, chữ viết đúng mẫu, tốc độ viết đúng quy định. Bản thân giáo viên khi dạy cũng thấy hứng thú, say sưa nâng cao chất lượng giờ dạy tốt hơn. Tuy nhiên, quá trình áp dụng kinh nghiệm “Rèn chữ viết cho học sinh lớp 1” của tôi còn có những hạn chế nhất định:- Về phía giáo viên: Tài liệu tôi tham khảo không nhiều, thời gian dành cho việc nghiên cứu còn hạn chế. Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi còn gặp không ít những khó khăn. - Về phía học sinh: Các em còn nhỏ, mau nhớ, mau quên, tính tự giác chưa cao, chưa thực sự say mê. 2.2.3. MÆt m¹nh, mÆt yÕu: Lµ gi¸o viªn ®îc ph©n c«ng trùc tiÕp gi¶ng d¹y líp 1, t«i thÊy häc sinh líp 1 nh tê giÊy tr¾ng, gi¸o viªn lµ ngêi h×nh thµnh nh©n c¸ch cho c¸c em. H¬n n÷a, häc sinh líp 1 rÊt hiÕu ®éng, hay b¾t chíc viÖc lµm cña ngêi kh¸c, cho nªn nÕu ch÷ viÕt b¶ng cña c« xÊu, th× ch÷ viÕt vë cña häc sinh sÏ kh«ng ®Ñp. MÆt kh¸c, tû lÖ häc sinh viÕt ch÷ ®Ñp, cha ®óng kü thuËt cßn cao. Nguyªn nh©n lµ do häc sinh cha n¾m ch¾c c¸ch viÕt theo kü thuËt, cÈu th¶ khi viÕt bµi. §éi ngò gi¸o viªn d¹y líp 1 cã tr×nh ®é chuyªn m«n t¬ng ®èi ®ång ®Òu, ®îc ®µo t¹o chÝnh quy, cã nhiÒu kinh nghiÖm trong gi¶ng d¹y, t©m huyÕt víi nghÒ. Tuy nhiªn, ch÷ viÕt cña gi¸o viªn míi chØ dõng l¹i ë møc ®é râ rµng chø cha thËt sù ®Ñp, cha thu hót ®îc sù chó ý cña häc sinh. C¸c nhµ trêng TiÓu häc ®· ®Çu t båi dìng ®éi ngò gi¸o viªn d¹y líp 1, chó träng tíi ch÷ viÕt cña gi¸o viªn, nh»m n©ng cao chÊt lîng d¹y häc, n©ng cao ch÷ viÕt cho häc sinh ngay tõ n¨m ®Çu cÊp. §Ó kh¾c phôc t×nh tr¹ng trªn, ngay tõ líp 1 gi¸o viªn cÇn chó ý rÌn ch÷ viÕt cho häc sinh qua 3 giai ®o¹n sau: Giai ®o¹n 1: Gióp häc sinh n¾m ®îc c¸c thao t¸c ®óng cña qu¸ tr×nh tËp viÕt, luyÖn ®éng t¸c cÇm bót, c¸ch ®Ó vë, t thÕ ngåi, c¸ch x¸c ®Þnh dßng kÎ trªn, dßng kÎ díi vë em tËp viÕt Giai ®o¹n 2: LuyÖn viÕt c¸c ch÷ c¸i viÕt thêng, viÕt ch÷ sè theo ®óng quy tr×nh. Khi viÕt c¸c tõ øng dông, häc sinh ghÐp c¸c phô ©m ®Çu, vÇn ®óng, kho¶ng c¸ch vµ ®é cao qui ®Þnh Giai ®o¹n 3: Häc sinh nh×n bµi trªn b¶ng ®Ó ghi chÐp l¹i, kÕt hîp nghe gi¸o viªn ®äc tõng tiÕng. Bªn c¹nh ®ã, gi¸o viªn cÇn chó ý rÌn ch÷ viÕt cho häc sinh ë c¸c m«n häc kh¸c, t¹o cho häc sinh cã thãi quen viÕt ch÷ ®óng kü thuËt. 2.2.4 Các nguyên nhân , các yếu tố tác động : Nguyên nhân: Các dạng sai lầm của học sinh. Giáo viên: Đỗ Thị Hạnh 4 Sáng kiến kinh nghiệm lớp 1 Năm học 2014 - 2015 - Chữ viết chưa đúng cỡ, độ cao, độ rộng , điểm đặt bút, dừng bút chưa đúng. - Chữ viết chưa liền mạch. - Dấu thanh, dấu phụ ghi chưa đúng vị trí đa số viết dấu quá to, dấu đặt xa chữ, có em dấu chạm vào chữ, dấu không đúng chữ ghi âm chính. - Chữ viết xấu, các nét nghiêng ngả, méo, khoảng cách các chữ không đều. - Tư thế ngồi, cách cầm bút sai đa số các em ngồi cúi mặt với vở, người cong vẹo, vai thấp vai cao. Nguyên nhân: Thứ nhất: Do học sinh chưa nắm các nét cơ bản và cấu tạo các chữ ghi âm, vần, tiếng, dấu thanh; chưa nắm vững quy trình viết chữ cái, quy trình nối các nét trong chữ cái, nối các chữ cái trong chữ ghi tiếng nên chữ viết mới sai độ cao, dộ rộng, các nét chữ rời rạc, không đều. Thứ hai: Do nhận thức hạn chế của đa số các bậc phụ huynh học sinh về mẫu chữ và tầm quan trọng của môn Tập viết, sự thiếu quan tâm kèm cặp các em trong thời gian học ở nhà cũng như chuẩn bị dụng cụ học tập cho các em. Thứ ba: Do học sinh chưa được hướng dẫn, uốn nắn một cách tỉ mỉ, kịp thời thường xuyên từ việc cầm bút, ngồi viết và cách viết theo đúng quy định ngay từ khi các em mới bắt đầu đi học. Thứ tư: Do tâm lý lứa tuổi học sinh lớp 1, các em chóng nhớ nhưng lại nhanh quên, các em còn phải chuyển từ hoạt động chính là vui chơi sang hoạt động chính là học tập nên các em nhanh chán, không luyện tập theo đúng yêu cầu của giáo viên. Tốc độ viết nhanh, viết ngoáy cũng là hạn chế để các em viết xấu, viết sai. Từ những nguyên nhân, tôi nghĩ nó đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy – học tập viết cho học sinh lớp 1. Trên cơ sở đó tôi đã nghiên cứu đưa ra biện pháp khắc phục trong quá trình giảng dạy tại lớp của mình. 2.3 Giải pháp biện pháp : 2.3.1 Mục tiêu của giải pháp ,biện pháp ; Mục tiêu: §a néi dung vµ ph¬ng ph¸p rÌn ch÷ vµo ®Ó d¹y thùc nghiÖm, nh»m kiÓm tra hiÖu qu¶ cña viÖc ®a ph¬ng ph¸p ®æi míi vÒ viÖc rÌn ch÷ viÕt cho häc sinh. Nh»m n©ng cao chÊt lîng ch÷ viÕt cho häc sinh líp 1. 2.3.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp , biện pháp : 2.1. Giáo viên nắm chắc kiến thức, viết tốt mẫu chữ quy định để dạy học sinh. Trước hết, giáo viên phải nắm chắc cấu tạo, quy trình chữ viết theo đúng mẫu chữ viết trong trường Tiểu học theo Quyết đinh của Bộ GD & ĐT số 31/2002/QĐ – BGD & ĐT ra ngày 14/6/2002. Cụ thể: Về mẫu chữ - mẫu chữ cái viết thường. - Các chữ cái được viết với độ cao 2,5 đơn vị: b, l, h, k, g, y. - Các chữ cái được viết với độ cao 2 đơn vị: d, đ, q, p. - Các chữ cái được viết với độ cao 1,5 đơn vị: t. Giáo viên: Đỗ Thị Hạnh 5 Sáng kiến kinh nghiệm lớp 1 Năm học 2014 - 2015 - Các chữ cái được viết với độ cao 1,25 đơn vị: r, s. - Các chữ cái còn lại được viết với độ cao 1 đơn vị: o, ô, ơ, a, ă, â, u, ư, i, c, e, ê, n, m. - Các dấu thanh được viết trong phạm vi 1 ô vuông có cạnh 0,5 đơn vị. - Mẫu chữ cái viết hoa: Các chữ cái được viết với độ cao 2,5 đơn vị - Mẫu chữ số được viết với độ cao 2 đơn vị. 2.2 . Dạy học sinh có cách cầm bút và tư thế ngồi viết đúng. Để học sinh có thể tránh được bệnh cong vẹo cột sống, bệnh cận thị thì giáo viên phải luyện cho học sinh có được một tư thế ngồi thật đúng, thật thoải mái. Muốn vậy, người giáo viên cũng phải có tư thế ngồi thật đúng để học sinh bắt trước. Ngay mỗi giờ đầu tập viết tôi đều cho học sinh ngồi đúng tư thế, lưng thẳng, ngực không áp vào bàn, hai chân đặt song song, vuông góc với mặt đất, tay phải cầm bút, tay trái giữ mép vở, vai ngang bằng, đầu hơi cúi để cách mắt với vở khoảng 20 – 30cm (tôi cho học sinh chống cùi chỏ tay trên mặt bàn, ngửa bàn tay ra, áp trán vào sát lòng bàn tay để ước lượng khoảng cách mặt với vở). Cách cầm bút tôi cũng làm mẫu và hướng dẫn tỉ mỉ: Ngón cái và ngón trỏ đặt ở phái trên, ngón giữa ở phía dưới đỡ đầu bút cách đầu bút khoảng 1đốt ngón tay, cán bút nghiêng về bên phải cổ tay; khi viết đưa bút khoảng 1 đốt ngón tay, nhẹ nhàng không ấn mạnh. Khi học sinh nắm các cách cầm bút, cách ngồi thì trước lúc viết tôi thường cho học sinh nhắc lại và thực hiện theo đúng quy định: “Tay phải cầm bút bằng 3 ngón tay, tay trái giữ mép vở, lưng thẳng, đầu hơi cúi, ngực không tì vào bàn”. Trong quá trình học sinh viết rất hay quên, thay đổi tư thế ngồi đúng, lúc đó tôi lại phải kiên nhẫn chỉnh sửa cho từng em. Lặp đi lặp lại nhiều lần, các em cũng dần dần ngồi đúng, cầm bút đúng. Để viết dễ, chữ đẹp tôi còn hướng dẫn các em cách để vở hơi chếch bên trái, khi viết xuống những dòng dưới, các em tự đẩy vở lên trên để cánh tay luôn tì lên mặt bàn làm điểm tựa khi viết. 2.3. Dạy cho học sinh có kỹ thuật viết đúng, viết đẹp. Ngay từ đầu, giáo viên hướng dẫn cho học sinh nắm chắc, viết tốt các nét cơ bản của chữ viết về tên gọi, điểm đặt bút, điểm dừng bút. Tôi cho học sinh nắm được các thuật ngữ: “Dòng kẻ ngang 1, dòng kẻ ngang 2, …. dòng kẻ ngang 5; Dòng kẻ dọc 1, dòng kẻ dọc 2, … dòng kẻ dọc 5”. Học sinh nắm chắc cách viết các nét sẽ nắm được cấu tạo của từng chữ cái và việc nối chữ cái thành chữ sẽ dễ dàng hơn. Để học sinh viết không bị rời rạc, đứt nét phải nhấn mạnh hơn chỗ nối nét, nối chữ nhất là chỗ rê bút, nhắc các em viết liền mạch đến đâu mới được nhấc bút, ở phần đầu học chữ ghi âm, học âm nào học sinh nắm chắc độ cao, độ rộng, từng nét từng chữ. Khi dạy sang phần vần tuy không cần hướng dẫn quy trình viết từng chữ song tôi vẫn thường xuyên cho học sinh nhắc lại độ cao các chữ cái, những chữ cái nào có độ cao bằng nhau, khoảng cách giữa các chữ cái trong một chữ, giữa chữ với chữ. 2.4. Khắc sâu những chi tiết học sinh thường gặp khó khăn. Đó là, giáo viên cần nhấn mạnh chỗ ghi dấu thanh với vần, từng loại vần, cái khó với học sinh là không biết ghi dấu thanh ở vị trí nào nhất là những chữ có từ 2,3 Giáo viên: Đỗ Thị Hạnh 6 Sáng kiến kinh nghiệm lớp 1 Năm học 2014 - 2015 chữ cái trở lên. Khi dạy mỗi vần mới, cuối cùng tôi đều cho học sinh nhận xét chốt lại những chữ ghi vần đó thì viết dấu thanh ở chữ cái ghi âm gì. Đặc biệt ở bài ôn tập mỗi loại vần tôi đều khắc sâu vị trí ghi dấu thanh.Với chữ có dấu phụ là dấu mũ như ô, ơ, ê, thì thanh sắc, huyền, hỏi phải ghi ở bên phải dấu mũ còn thanh ngã thì ghi ở giữa, phía trên của dấu mũ, các dấu thanh phải ngay ngắn, cân đối nằm đúng dòng li quy định và không được chạm vào chữ cái hay dấu phụ. 2.5. Xây dựng chương trình và phương pháp dạy học cụ thể cho mỗi phần học, mỗi tiết học tập viết cũng như mỗi phần luyện tập. Với mỗi giờ Tập viết, tôi đều thực hiện đầy đủ các bước hướng dẫn học sinh quan sát, nhận xét; giáo viên viết mẫu; học sinh tập viết bảng con, bảng lớp; hướng dẫn học sinh viết vào vở đến bước chấm bài và chữa bài. Khi hướng dẫn học sinh thực hành luyện viết tôi luôn quan tâm theo dõi hoạt động viết chữ của học sinh để kịp thời nhắc nhở và uốn nắn, giúp đỡ để học sinh viết đúng hoặc biểu dương những học sinh viết đẹp; giúp học sinh thấy rõ thành công hay hạn chế trong bài tập viết của các em. Trong quá trình dạy viết, tôi còn để học sinh tự nhận xét chữ viết, tự sửa chữa cho nhau khi cần thiết. Những em viết yếu, ngoài sự kèm cặp của cô giáo còn được sự giúp đỡ của các bạn trong nhóm, trong lớp. Tốc độ viết cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng chữ viết. Thời gian đầu tôi cho các em viết chậm. Khi viết đẹp tôi mới cho tăng dẫn tốc độ viết, tạo cho các em thói quen khi viết song mỗi chữ, mỗi từ, phải nhẩm lại kiểm tra độ chính xác Một phương pháp không thể thiếu khi rèn chữ viết là phương pháp luyện tập, mỗi học sinh ngoài vở em tập viết bắt buộc ra tôi còn cho các em chuẩn bị 2 loại vở nữa là vở ô li (loại giấy đẹp) và vở thực hành luyện viết để hướng dẫn tập viết ở nhà và luyện tập vào giờ học tăng (buổi sáng). Mỗi loại vở tôi đều thường xuyên, nêu ưu khuyết điểm cho từng em. Việc luyện viết theo nhóm nét tôi thấy rất hiệu quả để các em viết đẹp, nắm chắc mẫu chữ. Tôi chia chữ viết thành các nhóm để rèn luyện như sau: - Nhóm nét cong gồm các chữ: o, ô, ơ, c, x. - Nhóm nét móc gồm: m, n, u, ư, i, t, v. - Nhóm nét khuyết gồm: b, l, h, k, g, y. - Nhóm nét thắt gồm: r, s, e, ê. - Nhóm nét cong và nét móc gồm: a, ă, â, d, đ. - Nhóm nét cong và nét sổ gồm: p, q. Khi dạy học sinh cỡ chữ nhỏ tôi cũng thường xuyên luyện theo cách đó giúp các em nhớ lâu viết đều nét, đúng độ cao các chữ cái. 2.6. Chuẩn bị cơ sở vật chất đầy đủ phục vụ cho dạy – học Tập viết. Ở lớp ngoài sự trang bị sẵn có như bàn, ghế đúng quy cách, các bóng điện phục vụ ánh sáng đầy đủ, tủ đựng đồ dùng dạy – học; tôi còn treo thêm mẫu chữ viết và số quy định trong trường Tiểu học,: có bảng kẻ các dòng li phóng to như vở Tập viết để viết mẫu và hướng dẫn viết vở. Giáo viên: Đỗ Thị Hạnh 7 Sáng kiến kinh nghiệm lớp 1 Năm học 2014 - 2015 Tôi thường xuyên phối hợp với phụ huynh học sinh của lớp để giúp đỡ các em. Ngay từ buổi họp phụ huynh đầu năm tôi đã bàn bạc, thống nhất về sự chuẩn bị và cách dạy kèm cặp các cháu ở nhà. Mỗi học sinh đều được cha mẹ chuẩn bị cho bàn học, góc học tập đủ ánh sáng, vở 48 trang ô ly 4 dòng kẻ có bìa bọc, bảng kẻ ô vuông 1 mặt, ô li 1 mặt, phấn không bụi, hộp đựng giẻ lau, bút chì mềm, bút luyện viết chữ đẹp, thước kẻ. Ngoài ra, tôi còn phô tô phóng to mẫu chữ và số viết thường cho mỗi em một bản để treo ở góc học tập, thuận tiện cho cha mẹ hướng dẫn ở nhà. 2.7. Tổ chức các trò chơi và phong trào thi đua “ Giữ vở sạch, viết chữ đẹp” Để dạy – học tập viết thành công phải có sự hướng dẫn tỉ mỉ, từng li, từng tí của giáo viên. Mặt khác, giáo viên còn phải hiểu tâm lý lứa tuổi học sinh. Không nên cho các em ngồi viết liền trong một thời gian dài dễ gây mỏi tay và chán. Cần thường xuyên tổ chức các trò chơi thi viết chữ đẹp trong mỗi tiết học,. Tổ chức thi “Giữ vở sạch, viết chữ đẹp” trong từng tháng. Động viên khen ngợi kịp thời những tổ hay cá nhân thực hiện tốt, đặc biệt những tổ hay cá nhân có tiến bộ tạo cho học sinh sự hứng khởi hăng hái thi đua rèn luyện. 2.3. 3. Điều kiện thực hiện các biện pháp rèn chữ. Những biện pháp nêu trên áp dụng được với tất cả các đối tượng học sinh lớp 1, những em có tố chất phát triển bình thường, cũng có thể chọn lọc áp dụng kinh nghiệm để dạy Tập viết cho học sinh lớp 2, 3, 4, 5. 2.3.4. Mối liên hệ giữa các biện pháp: Để đạt được hiệu quả cao trong việc rèn chữ cho học sinh lớp 1, tạo điều kiện vững chắc cho các em học tập tốt tất cả các môn học sau này thì người giáo viên tiểu học, đặc biệt là giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 1 cần nghiên cứu áp dụng đồng bộ các biện pháp nêu trên, vận dụng nó linh hoạt trong quá trình giảng dạy. 2.3.5. Kết quả khảo nghiệm. Với các biện pháp nêu trên, tôi đã thực hiện và suốt quá trình giảng dạy, tôi thấy chất lượng chữ viết của học sinh lớp tôi được nâng lên rõ rệt. Cuối học kỳ II, Năm học 2013-2014 tôi cho học sinh thực hiện bài kiểm tra sau: Bài 1: Viết vở Em Tập viết trang 39 (tập 2) Bài 2: Viết vở ô li Chính tả : bài chim rừng Tây Nguyên Sau khi chấm điểm tôi thu được kết quả sau: Kết quả Bài 1 Bài 2 Tổng số bài 32 32 Giỏi SL % 17 53,5 18 56 Khá SL % 12 37,5 13 40,6 Trung bình SL % 3 9 1 3,4 Yếu SL 0 0 * Kết quả xép loại chung vở sạch chữ đẹp của lớp qua các thời điểm là: LOẠI A Giáo viên: Đỗ Thị Hạnh LOẠI B 8 LOẠI C % 0 0 Sáng kiến kinh nghiệm lớp 1 THỜI ĐIỂM ĐÁNH GIÁ Năm học 2014 - 2015 SL % SL % SL % Đầu năm học 15 46,8% 10 31,2% 7 22% Cuối học kỳ I 17 53% 12 37,5% 3 9,5% Cuối học kỳ II 20 62,5% 11 34% 1 3,5 Với kết quả trên tôi rất vui mừng song tôi tự cảm thấy chưa bằng lòng với kết quả của mình đã đạt được, bản thân tôi cần phải cố gắng hơn nữa để lớp mình đạt kết quả cao hơn. Các em có "Chữ viết đẹp" một cái vốn mà thầy cô đã cấp cho các em từ lớp 1, các em sẽ mang theo chữ viết đẹp suốt cả cuộc đời. III. PHẦN KẾT LUẬN 3.1 Kết luận . Qua quá trình nghiên cứu và thực tế giảng dạy với biện pháp và kết quả nêu trên, tôi rút ra những bài học kinh nghiệm sau: Để học sinh viết đúng, viết đẹp rất cần ở giáo viên sự tỉ mỉ uốn nắn từng nét cho cả lớp và cho từng bàn tay nhỏ, sự kiên nhẫn làm đi làm lại nhiều lần với tất cả tấm lòng yêu thương học trò của thầy cô giáo. Mỗi giáo viên phải nắm chắc kiến thức, quy trình kỹ thuật viết chữ để dạy tốt từng tiết tập viết cho học sinh. Phải đưa ra phương pháp dạy học cụ thể để phù hợp với từng đối tượng học sinh của lớp mình tuân theo nguyên tắc từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Sử dụng phương pháp làm mẫu, mỗi giáo viên phải tự rèn luyện mình từ chữ viết ở vở, ở bảng đến tư thế ngồi viết, cách cầm bút để làm gương nhất là trước mắt học trò. Trong dạy học Tập viết cần phải thường xuyên tổ chức các trò chơi thi viết nhanh, viết đẹp tạo sự hứng thú rèn luyện cho học sinh. Sự phối hợp giữa cha mẹ học sinh với các thầy cô giáo sẽ tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất về mọi mặt, giúp ích rất nhiều cho việc nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh. 3.2 .Kiến nghị. 1. Đối với trường Tiểu học. Hàng tháng tổ chức thi “Viết chữ đẹp” cho các lớp chọn ra em viết đẹp, sạch làm bài trưng bày có phần thưởng động viên khuyến khích kịp thời đối với những học sinh viết sạch đẹp Thường xuyên tổ chức các buổi chuyên đề đánh giá và rút kinh nghiệm để nâng cao chất lượng vở sạch chữ đẹp của trường, của từng khối lớp. Giáo viên: Đỗ Thị Hạnh 9 Sáng kiến kinh nghiệm lớp 1 Năm học 2014 - 2015 Duy trì các phong trào thi đua “ Giữ vở sạch, viết chữ đẹp”. Hội thi “Viết chữ đẹp” từ cấp trường. Trưng bày các bài viết đẹp, tập vở sạch cho học sinh toàn trường tham khảo. Đưa tiêu chuẩn vở sạch chữ đẹp vào để đánh giá thi đua của cả thầy và trò. 2. Đối với giáo viên. Thấy được tầm quan trọng của việc “Rèn chữ ” cho HS là rất quan trọng nên trong các giờ dạy học giáo viên luôn rèn chữ cho học sinh kể cả chữ của giáo viên khi viết bảng cần phải nắn nót đúng cỡ không mất lỗi mất nét để học sinh học tập. Đối với lớp 1 giaó viên ngay từ đầu cần rèn cho các em tính cẩn thận, kiên trì. Cần thấy được vị trí, tầm quan trọng của phân môn Tiếng việt ở tất cả các khối lớp. Mỗi giáo viên phải là tấm gương sáng cho các em noi theo, từ tư thế ngồi viết, cách cầm bút đến chữ viết bảng, cách trình bày bảng, cách chấm bài, nhận xét cho học sinh. Trên đây là một số kinh nghiệm về phương pháp : "Rèn chữ" ở lớp một nhằm nâng cao chất lượng chữ viết mà tôi đã áp dụng dạy ở lớp mình thấy có hiệu quả trong việc "rèn chữ" cho học sinh. Ngoài kinh nghiệm của bản thân tôi còn luôn luôn học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp để góp phần vào sự nghiệp giáo dục. Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của ban đọc và đồng nghiệp để đề tài này của tôi được hoàn thiện hơn . Tôi xin chân thành cảm ơn. Thanh Tân, ngày 25 tháng 3 năm 2015 Người viết ĐỖ THỊ HẠNH PHỤ LỤC I. PHẦN MỞ ĐẦU …………………………………………………………………1 1.1. Lí do chọn đề tài.............................................................................................. 1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài........................................................................ 1 1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu......................................................................1 1.4.Giới hạn, phạm vi nghiên cứu........................................................................ .1 1.5.Phương pháp nghiên cứu.................................................................................2 II .PHẦN NỘI DUNG.................................................................................................3 Thực trạng rèn chữ viết cho học sinh lớp 1 của Trường Tiểu học Thanh Tân..... 4 Giáo viên: Đỗ Thị Hạnh 10 Sáng kiến kinh nghiệm lớp 1 Năm học 2014 - 2015 1. Thuận lợi, khó khăn...............................................................................4 2. Thành công,.han chế.............................................................................4 3.Mặt mạnh, mặt yếu 4. Các nguyên nhân, yếu tố tác động Những biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 1..............................................6 1. Mục tiêu:...............................................................6 3. Điều kiện thực hiện các biện pháp rèn chữ. ............................................9 4. Mối liên hệ giữa các biện pháp. ...............................................................9 5. Kết quả thực hiện............................................................................................ ...............................................................................................................................9 III PHẦN KẾT LUẬN...........................................................................................10 I. Kết luận............................................................................................................. .10 II. Kiến nghị...........................................................................................................10 Giáo viên: Đỗ Thị Hạnh 11
- Xem thêm -