Tài liệu Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản

  • Số trang: 57 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 34 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15313 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA LUẬT  LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NIÊN KHÓA 2008 - 2012 QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHỦ NỢ VÀ CON NỢ TRONG THỦ TỤC PHÁ SẢN Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện: Ths. NGUYỄN MAI HÂN NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG MSSV: 5085907 Lớp Luật Thương Mại, K34 Cần thơ, tháng 11 năm 2011 Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản LỜI NÓI ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Xây dựng nền kinh tế thị trường, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là con đường tất yếu để Việt Nam tiến lên Chủ nghĩa xã hội. Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, với chủ trương xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp xây dựng một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước nền kinh tế thị trường đã hình thành và phát triển ở nước ta rất phong phú, đa dạng với nhiều loại hình doanh nghiệp. Thêm vào đó năm 1997 Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại quốc tế WTO, một bước ngoặt lớn đối với nền kinh tế đang phát triển. Nền kinh tế của nước ta bắt đầu gia nhập vào nền kinh tế thế giới, một sân chơi thương mại mang tính toàn cầu. Sự hội nhập với các nền kinh tế lớn cũng sẽ kéo theo hệ quả không thể tránh khỏi sự tác động của các quy luật chung vô cùng khắc nghiệt như quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, quy luật cung cầu… Chính vì thế nền kinh tế của ta đã nảy sinh nhiều hiện tượng, một trong những hiện tượng đó là sự phá sản doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng giống như một thực thể sống, có giai đoạn ra đời, phát triển và suy vong. Nhưng khi một doanh nghiệp bị phá sản thì sẽ để lại những hệ lụy nhất định như xáo trộn nền kinh tế, tăng số lượng người thất nghiệp, làm cho sức ép về việc làm ngày càng lớn có thể xảy ra các tệ nạn xã hội, thậm chí tội phạm. Và ảnh hưởng chung lớn nhất là có thể dẫn đến sự suy thoái và khủng hoảng nền kinh tế quốc gia, thậm chí có thể khủng hoảng cả nền kinh tế khu vực. Sau khi Đảng và Nhà nước đã xác định xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Năm 1993 đạo luật đầu tiên về phá sản đã được ban hành. Tuy nhiên qua mười năm thực hiện Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 đã bộc lộ những hạn chế nhất định. Tiếp đó Luật phá sản năm 2004 ra đời tưởng đâu sẽ khắc phục được những khiếm khuyết của Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993. Thế nhưng, sau hơn 3 năm thi hành, số lượng các vụ việc phá sản được thụ lý vẩn ở mức rất khiêm tốn: tổng cộng chỉ có gần 60 hồ sơ được thụ lý ở cả ba khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng. Điều đó không có nghĩa là môi trường kinh doanh trong nước hết sức lành mạnh mà phản ánh rằng các doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản vẫn chưa tìm thấy ở pháp luật phá sản hiện hành một cơ sở vững chắc để bảo vệ quyền lợi cho mình. Cho nên yêu cầu hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi cho đối tượng này càng trở nên cấp thiết. Do vậy, nghiên cứu về thủ tục phá sản để làm sáng tỏ quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn GVHD: TH.S Nguyễn Mai Hân Trang 1 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Nhung Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản để hoàn thiện pháp luật phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế trong nước và môi trường kinh tế quốc tế. Vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài: “Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản” làm Luận văn tốt nghiệp của mình. 2. Mục đích nghiên cứu Phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục trong điều kiện hiện nay tại Việt Nam, những bất cập còn tồn tại của hệ thống pháp luật phá sản sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhận thức được quyền và nghĩa vụ của mình. Đồng thời, đưa ra giải pháp cho từng vấn đề. 3. Phương pháp nghiên cứu Đề tài này được xây dựng trên cơ sở vận dụng những kiến thức đã có, Bên cạnh đó người viết còn sử dụng phương pháp như: phân tích, đánh giá tổng hợp tài liệu có liên quan đến pháp luật phá sản nói chung và quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản nói riêng. 4. Bố cục đề tài Luận văn được kết cấu gồm ba chương không kể lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Chương 1: Tổng quan về phá sản và pháp luật phá sản. Chương 2: Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản. Chương 3: Một số bất cập và kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản. Phần kết luận Tài liệu tham khảo Với trình độ còn nhiều hạn chế cũng như kinh nghiệm nghiên cứu chưa nhiều cho nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và tất cả các bạn. Tôi xin chân thành cảm ơn ! GVHD: TH.S Nguyễn Mai Hân Trang 2 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Nhung Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁ SẢN VÀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN 1.1. Khái quát chung về phá sản và pháp luật phá sản 1.1.1. Phá sản theo pháp luật của một số quốc gia trên thế giới Danh từ phá sản được bắt nguồn từ chữ "Ruin" trong tiếng Latinh có nghĩa là "sự kháng tận". Khái niệm này dùng để chỉ sự mất cân đối giữa thu và chi của một doanh nghiệp. Ở Châu Âu khi nói đến phá sản người ta thường dùng danh từ "Bankrupcy" trong tiếng Anh hoặc "Banqueroute" trong tiếng Pháp. Cả hai danh từ này đều bắt nguồn từ chữ "Bancanetta" của Lamã, có nghĩa là "chiếc ghế bị gãy". Ở thời Lamã các thương gia ở thành phố thường họp nhau lại để xem xét việc làm ăn và công nợ. Người nào mất khả năng thanh toán công nợ sẽ bị mất quyền tham gia đại hội thương gia và ghế của họ cũng bị đem ra khỏi hội trường.1 Theo Luật phá sản nhiều nước trên thế giới thì phá sản là tình trạng một doanh nghiệp không có khả năng nộp thuế, không có khả năng thanh toán công nợ trong một thời gian nhất định. Tuy nhiên việc quan niệm thế nào là mất khả năng thanh toán nợ ở các quốc gia khác nhau cũng rất khác nhau. Có nhiều nước quy định rõ chỉ số nợ đến hạn chưa được thanh toán để xác định doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản nhưng ở đại đa số nước thì vấn đề định lượng khoản nợ như vậy thường không được đặt ra. * Luật phá sản Hungari ban hành năm 1991 quy định nếu doanh nghiệp bị rơi vào một trong các trường hợp sau đây đều bị xếp vào loại không có khả năng thanh toán. + Sau 60 ngày không trả được lương cho cán bộ công nhân viên của mình hoặc quá hạn 30 ngày không trả được nợ cho các chủ nợ mà con nợ không thảo luận với các chủ nợ hoặc thấy trước khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn trong vòng một năm. + Đã có lệnh buộc phải trả nợ nay hết hạn nhưng vẫn chưa trả được nợ. + Không thực hiện đúng cam kết với các chủ nợ trước pháp luật. * Luật phá sản của Singapo ban hành năm 1985 thì các con nợ bị rơi vào một trong các tình trạng sau thì đều bị coi là phá sản. + Nếu con nợ cố ý gian lận để chuyển giao, chuyển nhượng, biếu xén hay tẩu tán một phần hay toàn bộ tài sản của mình ở Singapore hoặc ở nước khác. 1 Nguyễn Tấn Hơn, Phá sản doanh nghiệp, một số vấn đề thực tiễn, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 1995 trang 3. GVHD: TH.S Nguyễn Mai Hân Trang 3 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Nhung Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản + Nếu bị tuyên bố phá sản mà con nợ chuyển giao hay chuyển nhượng một phần hay toàn bộ tài sản của mình ở Singapore hay ở nước ngoài cho người khác hay cố tạo các khoản chi phí mà pháp luật hiện hành coi là giả mạo không hợp pháp. + Nếu con nợ bị tòa án quận huyện hay cấp trên xử phạt bằng cách tịch thu tài sản và chịu án phí 500 đô la (tiền Singapore). + Nếu con nợ báo tin cho chủ nợ rằng anh ta hủy bỏ hoặc trì hoãn công nợ. + Nếu con nợ điều đình xin khất nợ với hai chủ nợ trở lên hoặc đưa ra kế hoạch trả nợ nhưng trong vòng 14 ngày sau khi cam kết trả nợ, kế hoạch ấy vẫn chưa được đăng ký trước Tòa án đúng như chế độ thanh toán công nợ hiện hành. + Nếu chánh án hay nhân viên Tòa án cấp quận huyện tiến hành kiểm kê tài sản thấy rằng con nợ không còn tài sản để tịch thu. Và như vậy ngày Tòa án hết lệnh kiểm kê được coi là ngày doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản. + Nếu trước Tòa án con nợ xin phá sản hoặc tuyên bố phá sản. * Luật phá sản Australia đưa ra một số căn cứ để dựa vào đó quyết định tuyên bố phá sản. + Khi số tiền mặt của doanh nghiệp cộng với giá trị tài sản không thuộc loại có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp và khả năng dễ chuyển nhượng mà nhỏ hơn tổng số nợ không có bảo đảm thì coi như doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản. + Khi nhận giấy đòi nợ với số lượng lớn mà con nợ không đưa ra được bằng chứng nào trước tòa về khả năng thanh toán món nợ. Do chính luật sư của doanh nghiệp mắc nợ đưa ra rằng doanh nghiệp không có khả năng thanh toán nợ đến hạn. Nếu chủ doanh nghiệp không đưa ra sự phản đối có cơ sở thuyết phục. + Khi thẩm phán có thông tin cho rằng nhiều séc của doanh nghiệp bị ngân hàng từ chối thanh toán. Trong trường hợp này nếu muốn Toà án không ra quyết định tuyên bố phá sản thì doanh nghiệp phải chứng minh trước Tòa là séc này có thể thanh toán được. + Khi doanh nghiệp đang khó khăn về tài chính mà tất cả các chủ nợ có bảo đảm lại đòi đối xử với các vật bảo đảm, thẩm phán có thể ra quyết định phá sản với doanh nghiệp nào là vì có thể rõ ràng suy đoán rằng do không trả được nợ nên các chủ nợ mới tước đi các vật cầm cố, thế chấp. + Khi một doanh nghiệp không thực hiện được yêu cầu của thẩm phán về việc thanh toán một món nợ nào đó theo thủ tục pháp lý thông thường, tức là khi còn nợ người khác mà có lệnh trả nợ của thẩm phán mà con nợ vẫn không thi hành đó chính là dấu hiệu mất khả năng thanh toán. GVHD: TH.S Nguyễn Mai Hân Trang 4 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Nhung Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản * Luật phá sản Bỉ quy định một doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ là doanh nghiệp không trả được nợ đến hạn, bị mất uy tín về tài chính, tức là không còn đủ tài sản để đảm bảo các số nợ của mình hoặc kiếm cách trả nợ bằng phương pháp bất thường. Đối với cá nhân thì luật không phân biệt. * Luật không có khả năng thanh toán và luật treo giò giám đốc của Anh ban hành năm 1986 thì các doanh nghiệp có giá trị tài sản thấp hơn số nợ phải trả (hiện tại và tương lai) đều bị xếp vào loại không có khả năng thanh toán. Nhưng ở Anh không có khả năng thanh toán không có nghĩa là doanh nghiệp bị xếp vào loại phá sản, mà ở nước này còn dành một thời gian để khôi phục doanh nghiệp, sau thời gian này nếu doanh nghiệp không trở lại hoạt động bình thường được và không trả được nợ thì sẽ bị tuyên bố phá sản. 1.1.2. Phá sản theo pháp luật Việt Nam Đại hội đảng lần thứ VI của Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tiến hành tháng 12 năm 1986 quyết định cơ chế đổi mới kinh tế. Lúc bấy giờ ở nước ta chưa có một khái niệm phá sản nào. Đến 1990 văn bản pháp lý đầu tiên liên quan đến giải quyết tình trạng doanh nghiệp thua lỗ không có khả năng thanh toán đó là Quyết định số 315 Hội đồng bộ trưởng (HĐBT) ngày 01/09/1990 của Hội đồng Bộ trưởng. Theo khoản 4 điều 3 quyết định số 315 của HĐBT thông qua ngày 01/09/1990 qui định: “Đối với các đơn vị kinh doanh lỗ vốn kéo dài nhiều năm thì Bộ và địa phương phải lập danh sách đầy đủ, tiến hành phân loại theo mức độ quan trọng của các sản phẩm và dịch vụ do đơn vị tạo ra và theo mức độ kém hiệu quả của các đơn vị. Từ đó tìm biện pháp để hỗ trợ cho đơn vị hoạt động; sáp nhập vào xí nghiệp khác hoặc chuyển thành các tổ chức kinh tế tập thể. Nếu đã thực hiện các biện pháp chấn chỉnh trên mà vẫn không có hiệu quả, tiếp tục thua lỗ, không có khả năng trả nợ thì cho phép giải thể theo hướng dẫn kèm theo Quyết định này”. Mặc dù quyết định số 315 của HĐBT thông qua ngày 01/09/1990 cũng có đề cập đến tình trạng làm ăn thua lỗ cua doanh nghiệp nhưng không hề có một khái niệm phá sản nào được đặt ra ở đây. Bởi vì, quyết định này chỉ cho phép doanh nghiệp giải thể.Có thể nói quyết định số 315 của HĐBT chỉ mới nhen nhóm bản chất của phá sản. Đến luật doanh nghiệp tư nhân và luật Công ty được Quốc hội thông qua ngày 21/12/1990 thì khái niệm phá sản mới chính thức được đề cập tới. Theo tinh thần quy định tại Điều 24 luật Công ty ngày 21/12/1990 và Điều 17 Luật doanh nghiệp tư nhân ngày 21/12/1990 thì khi doanh nghiệp tư nhân hoặc Công ty (gọi chung là doanh nghiệp) gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh đến mức tại một thời điểm tổng số giá trì các tài sản còn lại của doanh nghiệp GVHD: TH.S Nguyễn Mai Hân Trang 5 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Nhung Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản không đủ thanh toán các khoản nợ đến hạn, là doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Vì là lần đầu tiên đề cập đến khái niệm phá sản nên Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty đã không bao quát hết những khía cạnh cần thiết. Thực tế chứng minh rằng có thể một doanh nghiệp tại một thời điểm nào đó tổng giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp nhỏ hơn tổng số nợ đến hạn chưa chắc đã đưa doanh nghiệp đó đến tình trạng phá sản, nếu như nợ đến hạn của doanh nghiệp đó vẫn thanh toán được đều đặn (Tức là không có dấu hiệu ngừng thanh toán nợ). Bên cạnh đó có không ít những doanh nghiệp lớn hơn nhiều so với nợ đến hạn nhưng vẫn bị tòa án tuyên bố phá sản vì doanh nghiệp đó không có khả năng thanh toán (ngừng thanh toán). Trong quá trình thực hiện Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty đã bộc lộ những hạn chế đáng kể. Nhằm khắc phục những hạn chế này, Quốc hội đã thông qua Luật phá sản doanh nghiệp ngày 30/12/1993.Luật phá sản doanh nghiệp 1993 là đạo luật đầu tiên của nhà nước ta được ban hành khi kinh nghiệm lập pháp về phá sản gần như không có. Cụ thể tại Điều 2 qui định: Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản phải thỏa mãn ba điều kiện sau: + Doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc thua lỗ trong hoạt động sản xuất kinh doanh. + Doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn. + Doanh nghiệp đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết để khắc phục việc mất khả năng thanh toán nhưng không khắc phục được. Theo qui định này thì dấu hiệu “làm ăn thua lỗ hoặc gặp khó khăn dẫn đến mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn “là dấu hiệu đặc trưng cơ bản nhất để xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, còn dấu hiệu “đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết “chỉ là dấu hiệu bổ sung cho việc xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Nghị định số 189 của Chính phủ (CP) chi tiết hóa việc xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Cụ thể tại Điều 3 qui định như sau: + Doanh nghiệp được coi là có dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản nói tại Điều 2 của Luật phá sản doanh nghiệp, nếu kinh doanh bị thua lỗ trong 2 năm liên tiếp đến mức không trả được các khoản nợ đến hạn, trong 3 tháng liên tiếp không trả đủ lương cho người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động. + Khi xuất hiện dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản như trên, doanh nghiệp phải áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết để khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn như: Có phương án tổ chức lại sản xuất kinh GVHD: TH.S Nguyễn Mai Hân Trang 6 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Nhung Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản doanh, quản lí chặt chẽ các khoản chi phí, tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm; có biện pháp xử lí hàng hóa, sản phẩm, vật tư tồn đọng; thu hồi các khoản nợ và tài sản bị chiếm dụng; thương lượng với các chủ nợ để hoãn, mua, bảo lãnh, giảm và xóa nợ; tìm kiếm các khoản tài trợ và các khoản vay để trang trải các khoản nợ đến hạn và đầu tư đổi mới công nghệ. + Sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết trên đây mà doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn, không khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn thì doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản và phải xử lí theo quy định của Luật phá sản doanh nghiệp. Nhìn chung, theo Luật phá sản doanh nghiệp thì thủ tục phá sản chỉ được mở ra đối với các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản khi đã hội đủ ba điều kiện trên. Có thể nói rằng, ngay cả Luật phá sản doanh nghiệp và Nghị định số 189/CP /1994 đã có những qui định chặt chẽ hơn về điều kiện xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Nhưng cái chặt chẽ ở đây lại không cân đối. Luật phá sản doanh nghiệp quá chú trọng việc áp dụng thủ tục phá sản để xử lý tài sản của con nợ hơn là để phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Bởi vì, một doanh nghiệp mà chờ đủ ba điều kiện trên mới mở thủ tục phá sản thì doanh nghiệp đó không con một khả năng tài chính nào để phục hồi lại dược. Nói tóm lại, mục đích của Luật phá sản doanh nghiệp ban hành là để tạo điều kiện để doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản khôi phục hoạt động kinh doanh, trở lại thương trường đã không đạt dược. Mà thực tế mở thủ tục phá sản cũng chỉ để thanh lý tài sản. Luật phá sản 2004 ra đời đã khắc phục những hạn chế của Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 bổ sung những nội dung mới trên cơ sở tổng kết mười năm áp dụng Luật phá sản doanh nghiệp 1993 về thủ tục phá sản. Nếu theo Luật phá sản 19932 thì doanh nghiệp muốn mở thủ tục phá sản phải thỏa ba điều kiện như đã phân tích ở trên thì đến Luật phá sản 2004 lại qui định theo hướng đơn giản hóa tiêu chí xác định tình trạng phá sản. Cụ thể tại Điều 3 thì: “Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ khi chủ nợ có yêu cầu thì coi như là lâm vào tình trạng phá sản”. Có thể nói đây là một điểm mới của Luật phá sản 2004, qui định này khá đơn giản, dễ thực hiện vì không có căn cứ thời gian thua lỗ, nguyên nhân thua lỗ. Cho nên có thể tạo điều kiện cho doanh nghiệp sớm mở thủ tục phá sản, cũng như tạo 2 Theo Tô Nguyễn Cẩm Anh, một số suy nghĩ về luật phá sản, tạp chí Nhà nước và pháp luật năm 2005 (Số 6/2005), tr33. GVHD: TH.S Nguyễn Mai Hân Trang 7 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Nhung Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản khả năng phục hồi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã. Qui định này có ý nghĩa quan trọng, vì nếu xác định tình trạng này muộn thì khả năng phục hồi sẽ không có mà chỉ áp dụng thủ tục để thanh lý tài sản mà thôi. Như đã phân tích ở trên thì dấu hiệu để xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp, hợp tác xã đó không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ đã có yêu cầu. Cụ thể tại Mục 2 Chương 1 - NQ số 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28/04/2005 hướng dẫn chi tiết qui định thế nào là việc không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ đã xóa yêu cầu: + Các khoản nợ đến hạn phải là các khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần (chỉ tính phần không có bảo đảm) đã rõ ràng được các bên xác nhận, có đầy đủ giấy tờ, tài liệu để chứng minh và không có tranh chấp. + Chủ nợ đã có yêu cầu thanh toán nhưng doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán. Yêu cầu của chủ nợ thanh toán các khoản nợ đến hạn phải có căn cứ chứng minh là chủ nợ đã có yêu cầu, nhưng không được doanh nghiệp, hợp tác xã thanh toán (như văn bản đòi nợ của chủ nợ, văn bản khất nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã). Nghiên cứu dấu hiệu mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, về phương diện lí luận cũng như thực tiễn cần xem xét một số khía cạnh cụ thể sau: Thứ nhất, mất khả năng thanh toán không có nghĩa là doanh nghiệp , hợp tác xã hoàn toàn cạn kiệt tài sản. Doanh nghiệp có thể còn rất nhiều tài sản mà vẫn mất khả năng thanh toán, chỉ vì tài sản đó không thể bán được, cho nên doanh nghiệp không có tiền để thanh toán các khoản nợ. Thứ hai, mất khả năng thanh toán không chỉ là hiện tượng doanh nghiệp không thanh toán được nợ mà nó còn thể hiện doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng tài chính tuyệt vọng, trừ phi có sự can thiệp của tòa án hoặc sự giúp đỡ của các chủ nợ. Thứ ba, đối với doanh nghiệp tư nhân, nếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh có giao kết bất kì hợp đồng nào mà sau đó phát sinh ra các khoản nợ thì các khoản nợ này được coi là cơ sở để đánh giá tình trạng phá sản của doanh nghiệp. Nhưng ở đây cũng cần phân biệt với các khoản nợ cho do chủ doanh nghiệp tư nhân xác lập trên cơ sở những hợp đồng phục vụ cho sinh hoạt cá nhân hoặc gia đình họ vì nó không xuất phát từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Thứ tư, pháp luật không nhất thiết quy định cụ thể mất khả năng thanh toán một khoản nợ bao nhiêu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản, bởi vì tình hình tài GVHD: TH.S Nguyễn Mai Hân Trang 8 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Nhung Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản chính trong các doanh nghiệp rất khác nhau, có thể có những doanh nghiệp nợ vài ba chục triệu nhưng không có cách gì để trả, trong lúc có những doanh nghiệp nợ tới vài ba trăm triệu vẫn có khả năng thanh toán bình thường. Thứ năm, bản chất của việc mất khả năng thanh toán có thể không trùng với biểu hiện bên ngoài là trả được nợ hay không. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nhiều doanh nghiệp không trả được nợ nhưng điều này chỉ có tính chất nhất thời trong khi mọi hoạt động của doanh nghiệp vẫn diễn ra bình thường. Ngược lại, có những doanh nghiệp sự trả nợ chỉ là trá hình, che đậy tình trạng tài chính tuyệt vọng của doanh nghiệp, họ phải sử dụng nhiều phương tiện gian trá để bù đắp ngân quỹ như vay nặng lãi, thế chấp tài sản nhiều lần để vay vốn ngân hàng…3 Có thể nói rằng một khi con nợ ngừng trả nợ coi như đã lâm vào tình trạng phá sản và lúc đó, các chủ nợ đã có cơ sở pháp lí để nộp đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản. Nhưng lưu ý một điều là doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản chưa hẳn đã bị phá sản. Doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản chỉ được coi là phá sản khi đã tiến hành thủ tục tuyên bố phá sản. 1.2. Ảnh hưởng của phá sản đối với nền kinh tế thị trường Phá sản là một hiện tượng kinh tế xã hội tất yếu trong môi trường kinh doanh cạnh tranh như hiện nay. Nó kéo theo nhiều hiện tượng kinh tế xã hội nhất định đồng thời tác động đến nhiều mặt trong đời sống xã hội và pháp luật. Vì thế có thể nói rằng: “Phá sản trong nền kinh tế thị trường hiện nay như một con dao hai lưỡi”, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực. 1.2.1. Ảnh hưởng tiêu cực Phá sản sẽ làm mất cân bằng nền kinh tế , làm suy yếu nền kinh tế của một quốc gia. Đồng thời phá sản cũng kéo theo nhiều hệ lụy như nhân công mất việc, từ đó gây ra những bất ổn cho xã hội. Cụ thể ở các mặt sau đây: Về mặt kinh tế: Một doanh nghiệp bị phá sản trong điều kiện ngày nay có thể dẫn đến những tác động tiêu cực. Khi quy mô của doanh nghiệp phá sản càng lớn, tham gia vào quá trình phân công lao động của ngành nghề đó càng sâu và rộng, số lượng bạn hàng ngày càng đông, thì sự phá sản của nó có thể dẫn đến sự phá sản hàng loạt của các doanh nghiệp bạn hàng theo "hiệu ứng domino” còn gọi là phá sản dây chuyền. Về mặt xã hội: Phá sản doanh nghiệp để lại những hậu quả tiêu cực nhất định về mặt xã hội bởi nó làm tăng số lượng người thất nghiệp, làm cho sức ép về việc làm ngày càng lớn và có thể làm nảy sinh các tệ nạn xã hội. 3 Giáo trình Luật Thương Mại tập 2, trường Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2006. GVHD: TH.S Nguyễn Mai Hân Trang 9 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Nhung Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản Về mặt chính trị: Phá sản dây chuyền sẽ dẫn tới sự suy thoái và khủng hoảng nền kinh tế quốc gia, thậm chí khủng hoảng kinh tế khu vực và đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những khủng hoảng sâu sắc về chính trị. Như vậy, xét ở ba mặt trên, phá sản với tính cách là một hiện tượng xã hội tiêu cực cần được hạn chế và ngăn chặn đến mức tối đa. Để hạn chế các tác động tiêu cực, phá sản cần phải được coi là sự lựa chọn cuối cùng và duy nhất của chính phủ đối với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Yêu cầu này cần phải được thể hiện một cách nhất quán trong pháp luật phá sản qua các nội dung như: tiêu chí xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, vấn đề hồi phục doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, thứ tự ưu tiên thanh toán các khoản nợ khi tuyên bố phá sản. 1.2.2.Ảnh hưởng tích cực Chúng ta có thể khẳng định rằng, phá sản không chỉ có những ảnh hưởng tiêu cực mà nó còn có những ảnh hưởng tích cực đến nhiều mặt đời sống kinh tế xã hội. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay cạnh tranh là tất yếu doanh nghiệp nào mạnh sẽ tồn tại , doanh nghiệp nào yếu sẽ bị đào thải và phá sản là một trong những trường hợp loại trừ các doanh nghiệp yếu. Xét về mặt kinh tế thì phá sản là một giải pháp hữu hiệu để “cơ cấu lại” nền kinh tế, có thể ví phá sản như vườn dọn sạch cỏ dại để cây trồng phát triển, phá sản góp phần hình thành duy trì sự tồn tại của những doanh nghiệp đủ sức đứng vững trong điều kiện cạnh tranh ngày càng nghiệt ngã. Phá sản giữ một vai trò đặc biệt quan trọng để loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, kinh nghiệm quản lý tồi ra khỏi nền kinh tế, giữ lại những doanh nghiệp mà ở chúng sức cạnh tranh tốt hơn, làm ăn có lãi hơn. Thực tế đã chứng minh rằng trong nền kinh tế thị trường chỉ tồn tại những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, sự cạnh tranh bao giờ cũng mang lại kết cục nghiệt ngã nhưng nó lại là quy luật không thể thay đổi của nền kinh tế thị trường nơi mà ở đó lợi nhuận là trung tâm cạnh tranh là động lực.4 Bên cạnh những ảnh hưởng đã trình bày ở trên phá sản còn tác động đến nhiều ngành luật như Dân luật, Hình luật... bởi vì khi tiến hành giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản nó liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau, nhiều các quan hệ xã hội khác nhau mà chúng là đối tượng điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau. Chẳng hạn như khi các doanh nghiệp bị phá sản thường Tòa án xét xử các vụ tranh chấp về công nợ giữa chủ nợ và con nợ nếu chúng không thỏa thuận được với nhau và như vậy phá sản liên quan đến Dân luật, hoặc trong trường hợp 4 http://www.google.com.vn/giaidap/thread?tid=796a1466f53b16fd GVHD: TH.S Nguyễn Mai Hân Trang 10 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Nhung Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản con nợ cố tình gian lận trong phá sản phải chịu trách nhiệm hình sự. Theo quy định khoản 3 Điều 8 Luật phá sản năm 2004, trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Thẩm phán cung cấp tài liệu cho Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) cùng cấp để xem xét khởi tố về hình sự, ở đây rõ ràng phá sản đã liên quan đến Hình luật... Tóm lại, phá sản là một hiện tượng phức tạp nhiều khi nó làm ảnh hưởng lớn đến nền chính trị như vụ phá sản của tập đoàn viễn thông Worldcom năm 2005 vừa qua. Tuy nhiên, trong từng lĩnh vực riêng phá sản cũng giải quyết được một số vấn đề lớn về kinh tế và xã hội, đó cũng là một giải pháp hữu ích để giúp doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng nặng về cả vật chất lẫn tinh thần, tránh tình trạng gây sức ép cho các con nợ. Trong nền kinh tế thị trường cần phải xem xét phá sản là hiện tượng lành mạnh tất yếu, nó là một sản phẩm của nền kinh tế thị trường và nền kinh tế này chấp nhận nó là một lẽ đương nhiên. 1.3. Vai trò của pháp luật phá sản đối với nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường thì yếu tố cạnh tranh là sự sống còn và thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, cũng chính nền kinh tế thị trường đã để lại nhiều hệ lụy đáng kể cho nền kinh tế - chính trị xã hội, một trong những vấn đề đó là hiện tượng phá sản. Thực tế chứng minh rằng phá sản là hiện tượng bình thường và cần thiết của nền kinh tế thị trường còn pháp luật phá sản là sự can thiệp có ý thức của Nhà nước vào hiện tượng này. Vì vậy pháp luật phá sản có vai trò hết sức quan trọng không những bảo vệ lợi ích chính đáng của các chủ thể tham gia quan hệ phá sản ma còn góp phần bảo vệ trật tự kỉ cương xã hội ổn định nền kinh tế. 1.3.1 Bảo vệ lợi ích chính đáng của chủ nợ Khi mới hình thành, Luật phá sản chủ yếu được áp dụng cho các thương gia nhằm bảo vệ lợi ích của các chủ nợ. Ví dụ: Luật phá sản đầu tiên của nước Anh đã quy định nhiều biện pháp rất nghiêm ngặt, kể cả bỏ tù con nợ. Đồng thời với quá trình dân chủ hóa các hoạt động kinh tế, nhất là xu thế mở rộng quyền tự do và bình đẳng trong kinh doanh, pháp luật về phá sản ngày càng có xu hướng nhân đạo hóa các biện pháp áp dụng đối với chủ doanh nghiệp bị phá sản, phát triển các quy định nhằm bảo vệ lợi ích của các con nợ. Tuy nhiên lợi ích của các chủ nợ vẫn là mục tiêu bảo vệ hàng đầu. Khi một nhà đầu tư cho các doanh nghiệp vay vốn, họ có hai phương pháp để đòi nợ: • Đòi nợ bằng phương pháp thông thường- thông qua việc đưa đơn kiện ra tòa án hoặc trọng tài kinh tế. • Đòi nợ bằng một cơ chế đặc biệt- thông qua thủ tủc phá sản. GVHD: TH.S Nguyễn Mai Hân Trang 11 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Nhung Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản Tính đặc biệt của thủ tục này thể hiện ở chỗ: + Giúp cho các chủ nợ thu hồi được tài sản của mình. Tòa án phải ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp mắc nợ bị phá sản, để rồi nhân việc đó mà bán toàn bộ tài sản của doanh nghiệp đó đi, nhằm thanh toán cho chủ nợ. Cách trả nợ theo thủ tục phá sản là trả nợ một cách tập thể, và bằng cách chấm dứt sự tồn tại của con nợ. + Luật đảm bảo cho chủ nợ lợi ích của mình, hạn chế tình trạng dây dưa thanh toán nợ. Do đó, tạo điều kiện cho các chủ đầu tư tự tin hơn trong quá trình cho vay và đòi nợ. Sự bảo vệ của luật phá sản đối với chủ nợ được thể hiện cụ thể: pháp luật cho phép các chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã Khoản 1 Điều 13 Luật phá sản năm 2004; chủ nợ có quyền tham gia giải quyết những vấn đề quan trọng của doanh nghiệp mà liên quan đến lợi ích của mình trong quá trình giải quyết việc phá sản. Chẳng hạn, lợi ích của chủ nợ được bảo đảm bằng việc pháp luật cho phép tất cả các chủ nợ đều được tham gia vào hội nghị chủ nợ, được cử đại diện của mình tham gia vào tổ quản lí, thanh lí tài sản Điều 9, Điều 62 Luật phá sản năm 2004. Hơn nữa, trong quá trình giải quyết, pháp luật phá sản còn đưa ra các cơ chế cho phép các chủ nợ có khả năng bảo vệ tối đa lợi ích của mình như: kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh, hành vi của con nợ (Điều 63), tham gia giải quyết những vấn đề liên quan trực tiếp tới quyền lợi của mình, khiếu nại các quyết định của Toà án . . . tất cả nhằm mục đích bảo vệ tối đa hoá khă năng thu hồi nợ. Ngoài ra, vai trò của Luật phá sản trong việc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các chủ nợ (ở chừng mực nhất định còn nhằm bảo vệ quyền lợi ích của người lao động) qua quy định tại Điều 31 Luật phá sản năm 2004: kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, nghiêm cấm doanh nghiệp, hợp tác xã cất giấu, tẩu tán tài sản; thanh toán nợ không có bảo đảm; từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ; chuyển các khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, sau khi nhận được quyết định mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã phải được sự đồng ý bằng văn bản của Thẩm phán trước khi thực hiện những họat động sau: cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng, bán, tặng cho, cho thuê tài sản; nhận tài sản từ một hợp đồng chuyển nhượng; chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực; vay tiền; bán, chuyển đổi cổ phần hoặc chuyển quyền sở hữu tài sản; thanh toán các khoản nợ mới phát sinh từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã và trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã. GVHD: TH.S Nguyễn Mai Hân Trang 12 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Nhung Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản Để bảo vệ tuyệt đối quyền lợi cho các chủ nợ, Luật phá sản còn cho phép chủ nợ có bảo đảm còn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố các giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật phá sản năm 2004 vô hiệu. Khi các giao dịch này được tuyên bố vô hiệu thì những tài sản thu hồi được phải nhập vào khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã. Thêm vào đó, trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản nếu xét thấy việc đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực và đang được thực hiện hoặc chưa được thực hiện sẽ có lợi hơn cho doanh nghiệp, hợp tác xã thì chủ nợ cũng có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định đình chỉ thực hiện hợp đồng. Pháp luật đã thiết kế sẵn một thủ tục pháp lí đảm bảo sự bình đẳng quyền lợi giữa các chủ nợ, không cho phép chủ nợ nào được tự ý xé lẻ đi kiện riêng con nợ để đòi nợ, không một chủ nợ nào được con nợ ưu tiên trả nợ trong khi các chủ nợ khác chưa được trả (trừ chủ nợ có đảm bảo đặc biệt cho món nợ của mình, chủ nợ có tài sản cầm cố, thế chấp). 1.3.2. Bảo vệ lợi ích của con nợ Khi mới xuất hiện, Luật Phá sản không đề cập đến vấn đề bảo vệ lợi ích cho các con nợ, vì những nhà lập pháp đã cho rằng phá sản là phạm tội, chủ doanh nghiệp phá sản, vì thế, là phạm nhân. Những chủ doanh nghiệp như thế không những không được bảo vệ mà còn bị trừng phạt, thậm chí bỏ tù. Tuy nhiên, ngày nay, đại đa số các nước trên thế giới không còn quan niệm như vậy nữa. Họ hiểu rằng kinh doanh là một công việc khó khăn, dễ gặp rủi ro. Như vậy, luật pháp sẽ không nên trừng phạt họ, mà trái lại, còn nên đối sử nhân đạo với các doanh nghiệp không may đó. Hiện tại, Việt Nam đã thực hiện các chính sách như: + Không bỏ tù những chủ doanh nghiệp phải tuyên bố phá sản. + Ngăn cấm các chủ nợ có các hành vi xúc phạm thể xác và tinh thần của con nợ. + Bằng mọi cách tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mắc nợ khắc phục tình trạng khó khăn, khôi phục lại sản xuất mà không phải tuyên bố phá sản ngay. Đồng thời giảm bớt gánh nặng tài chính (bằng việc ấn định thời điểm ngừng trả nợ, tạo điều kiện cho con nợ thương lượng với chủ nợ để xoá nợ, giảm nợ, mua nợ . . .), hạn chế những hành vi pháp lý chống lại con nợ từ phía các chủ nợ, buộc các chủ nợ vào một khuôn khổ chung trong quá trình đòi nợ. Con nợ được tạo cơ chế khôi phục được, pháp luật phá sản còn đưa ra cơ chế giúp cho việc thanh lý tài sản của con nợ được nhanh nhất và giải phóng con nợ khỏi trách nhiệm thanh toán đối với các chủ nợ. GVHD: TH.S Nguyễn Mai Hân Trang 13 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Nhung Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản Ngoài ra, Luật phá sản còn có quy định đến việc xử lý các khoản nợ chưa đến hạn của con nợ. Đó là, trong trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì các khoản nợ chưa đến hạn vào thời điểm mở thủ tục thanh lý được xử lý như các khoản nợ đến hạn, nhưng không được tính lãi đối với thời gian chưa đến hạn. 1.3.2 Bảo vệ lợi ích của người lao động Khi một doanh nghiệp phá sản, bên cạnh sự thiệt hại của chủ nợ và con nợ, mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến những người lao động. Trước những sự khó khăn đó, luật phá sản đã cho phép những người làm công được hưởng một số quyền lợi đặc biệt. Theo quy đinh của hầu hết các nước trên thế giới, trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, người lao động có quyền cử đại diện tham gia để bảo vệ lợi ích của mình, tiền lương và các khoản lợi ích chính đáng khác của họ bao giờ cũng thuộc diện ưu tiên trong thứ tự phân chia tài sản của doanh nghiệp và những người lao động trong doanh nghiệp bị phá sản thường được tạo cơ hội tìm việc làm mới. Theo Điều 14 Luật phá sản năm 2004 quy định: "trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không trả được lương, các khoản nợ khác cho người lao động và nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì người lao động cử người đại diện hoặc thông qua đại diện công đoàn nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó". Trong trường hợp này người lao động sẽ được miễn phí phá sản (Khoản 2 – Điều 21). Pháp luật phá sản bảo vệ lợi ích của người lao động còn được thể hiện đặc biệt trong việc phân chia tài sản thì người lao động được ưu tiên thanh toán trước chỉ sau phí phá sản (Điều 37). Như vậy, pháp luật về phá sản xác định cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ lợi ích hợp pháp và hạn chế thiệt thòi vật chất mà sự phá sản đem lại cho người lao động. Ngoài ra, vai trò của Luật phá sản hiện hành ngày nay còn thể hiện rõ nét qua giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh (thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh) nhằm cứu giúp con nợ vượt ra khỏi tình trạng phá sản. Nếu doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện xong phương án phục hồi hoạt động kinh doanh thì Thẩm phán sẽ đình chỉ thủ tục phục hồi họat động kinh doanh và khi đó doanh nghiệp, hợp tác xã đó được coi không còn lâm vào tình trạng phá sản. Trong trường hợp này Luật phá sản cùng lúc bảo vệ được ba mục tiêu: bảo vệ quyền lợi ích của các chủ nợ (các chủ nợ sẽ được thanh toán hết nợ); bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp mắc nợ (doanh nghiệp không bị đào thải khỏi nền kinh tế thị trường); bảo vệ quyền lợi người lao động (người lao động không bị mất công ăn, việc làm). GVHD: TH.S Nguyễn Mai Hân Trang 14 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Nhung Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản 1.3.4. Bảo vệ trật tự kỉ cương xã hội và cơ cấu lại nền kinh tế Luật phá sản doanh nghiệp được đưa ra nhằm đảm bảo lợi ích cho mọi thành phần tham gia doanh nghiệp, nó làm tránh được tình trạng hỗn loạn của nền kinh tế khi một, hay nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Bên cạnh đó, phá sản không hoàn toàn là tiêu cực, trên một khía cạnh nào đó, nó thậm chí là một hành động tích cực đối với nền kinh tế, giúp thúc đẩy hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn. Khi một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì khả năng thanh toán các khoản nợ là rất thấp. Cho nên các chủ nợ sẽ có các hành vi chống lại con nợ. Những hành vi đó có thể là hợp pháp cũng có thể là bất hợp pháp. Nếu không có sự can thiệp kịp thời và có hiệu quả của luật phá sản thì những hành vi bất hợp pháp sẽ diễn ra, gây ra bất ổn cho xã hội. Vì vậy, pháp luật phá sản sẽ quy định tách bạch và hài hòa lợi ích giữa các nhóm chủ nợ với nhau tạo sự công bằng trong việc thanh toán cho các chủ nợ. Nhìn chung pháp luật phá sản quy định một cách công bằng và minh bạch lợi ích giữa chủ nợ và con nợ cũng như các chủ nợ với nhau. Cho nên có thể khẳng định rằng pháp luật phá sản đã hạn chế được những mâu thuẫn và căng thẳng có thể xảy ra giữa họ góp phần bảo vệ trật tự kỉ cương xã hội. Chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng mặc dù phá sản để lại những hệ lụy tiêu cực nhưng bên cạnh đó phá sản cũng góp phần không nhỏ vào việc cơ cấu lại nền kinh tế và loại bỏ doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả. Đồng thời luật phá sản là biện pháp cưỡng chế buộc các doanh nghiệp phải luôn năng động, sáng tạo nhưng không được liều lĩnh. Luật phá sản là cơ sở pháp lý tạo môi trường kinh doanh lành mạnh. Vì nó đã xử lí kịp thời những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả lâm vào tình trạng phá sản. 1.4. Các cơ quan tham gia quá trình giải quyết phá sản 1.4.1. Vai trò trung tâm của Tòa án nhân dân (TAND) trong việc giải quyết phá sản Pháp luật của hầu hết các nước đều trao cho Tòa án có thẩm quyền tuyên bố phá sản, song vai trò cụ thể của cơ quan này trong quá trình giải quyết việc phá sản ở các nước khác nhau là không giống nhau, Bởi vì phá sản là hiện tượng gây hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt và cho nhiều người, do đó cơ quan nào có quyền tuyên bố phá sản là vấn đề được pháp luật nhiều nước quan tâm. Theo quy định của Điều 7 Luật phá sản năm 2004, thẩm quyền giải quyết phá sản được phân cấp cho Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án nhân dân cấp tỉnh GVHD: TH.S Nguyễn Mai Hân Trang 15 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Nhung Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản căn cứ vào việc cơ quan cấp nào (tỉnh hay huyện) đã cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh cho doanh nghiệp, hợp tác xã cụ thể đó. Tòa án nhân dân cấp huyện giải quyết phá sản đối với các hợp tác xã đăng kí kinh doanh tại cơ quan cấp huyện đó. Tòa án nhân dân cấp tỉnh cụ thể là Tòa kinh tế giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đã đăng kí kinh doanh tại cơ quan đăng kí kinh doanh cấp tỉnh đó. Tùy vào tính chất của việc phá sản, quy mô của hợp tác xã, TAND tỉnh sẽ lấy lên để tiến hành thủ tục giải quyết phá sản đối với hợp tác xã thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện. Việc giải quyết phá sản tại Tòa án cấp huyện do một Thẩm phán phụ trách, tại Tòa án cấp tỉnh do một hoặc ba Thẩm phán phụ trách. Do đó, nếu như Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 quy định việc giải quyết phá sản tập trung tại TAND tỉnh thì Luật phá sản năm 2004 đã mở rộng thẩm quyền giải quyết phá sản cho Tòa án huyện, điều này có thể được lý giải bởi sự không ngừng nâng cao về trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của đội ngũ Thẩm phán. Quy định như vậy là phù hợp với tính chất và hoạt động của Tòa án các cấp theo tinh thần Nghị quyết số 08/NQ-TW của Bộ chính trị, theo đó tăng thẩm quyền cho Tòa án cấp huyện, TAND tối cao chủ yếu thực hiện việc xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp dưới bị kháng nghị, tập trung vào việc tổng kết thực tiễn, hướng dẫn việc xét xử của Tòa án các cấp . . .5 Có thể thấy, phá sản về bản chất là một hiện tượng kinh tế, song do tính chất phức tạp của nó mà Việt Nam cũng như hầu hết các nước trên thế giới đều giao thẩm quyền giải quyết cho hệ thống Tòa án, Tòa án là nhân vật trung tâm, giữ vị trí quyết định đối với việc giải quyết một vụ phá sản, vì trong quá trình giải quyết một vụ phá sản thường liên quan đến lợi ích của các bên khác nhau mà Tòa án là cơ quan độc lập, có tính chất khách quan, nguyên tắc "Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật" đã trở thành nguyên tắc hiến định. Tham gia vào quá trình giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Tòa án có vị trí trung tâm, có vai trò chủ đạo và là người trực tiếp giải quyết loại công việc này của xã hội. Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản được mở đầu bằng việc Tòa án nhận, thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; Toà án quyết định việc mở hay không mở thủ tục phá sản. Vai trò của Tòa án không chỉ dừng lại ở việc quyết định những vấn đề thuộc về tố tụng phá sản mà nó còn can thiệp vào cả 5 Theo Ths. Vũ Hồng Vân, quy định của luật phá sản năm 2004 về nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Tạp chí TAND tháng 11-2005 (Số 21), tr 16. GVHD: TH.S Nguyễn Mai Hân Trang 16 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Nhung Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tòa án giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quá trình giải quyết phá sản, quyết định việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm bảo đảm tài sản của doanh nghiệp. Khi tiến hành giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Tòa án cùng với các bên phải phân tích, đánh giá khả năng phục hồi của doanh nghiệp để trên cơ sở đó mà ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi hay thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp. Thủ tục phục hồi chỉ được tiến hành khi có yêu cầu của chủ nợ hoặc doanh nghiệp mắc nợ. Đối với những doanh nghiệp mắc nợ mà rõ ràng là không thể phục hồi được khả năng thanh toán thì pháp luật cho phép Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản và tiến hành ngay thủ tục thanh lý doanh nghiệp mà không cần làm thêm bất cứ một thủ tục pháp lý nào khác. Khác với thông lệ chung đó, pháp luật phá sản Việt Nam mà cụ thể là Luật Phá sản doanh nghiệp lần đầu tiên được ban hành năm 1993 lại quy định mà theo đó bất cứ một doanh nghiệp nào bị Tòa án ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản đều phải trải qua giai đoạn xây dựng phương án hòa giải và giải pháp lại hoạt động sản xuất, kinh doanh, họp Hội nghị chủ nợ để bàn bạc, xem xét phương án này và sau đó nếu không được sự chấp nhận của Hội nghị chủ nợ thì Tòa án mới được ra quyết định tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp đó. Quy định này dẫn tới hậu quả là, mặc dù tài sản của doanh nghiệp mắc nợ trên thực tế đã không còn gì đáng kể, bản thân chủ doanh nghiệp hoặc người quản lý doanh nghiệp và các chủ nợ không muốn phục hồi nhưng doanh nghiệp đó vẫn bắt buộc thực hiên đầy đủ các bước như trên. Như thế, việc tổ chức lại doanh nghiệp trong trường hợp này rõ ràng là không chỉ không có kết quả mà còn trái ý muốn của các đương sự. Việc quy định áp đặt như vậy là không phù hợp với thực tế, dẫn đến việc tổ chức lại doanh nghiệp mắc nợ, cả các chủ nợ, cả Tòa án và các chủ thể khác có liên quan, Thực tế đã cho thấy nhiều Tòa án địa phương đã rất lúng túng khi gặp phải những trường hợp doanh nghiệp bị yêu cầu tuyên bố phá sản đã hoàn toàn rơi vào tình trạng không còn tài sản gì đáng kể, nếu thụ lý để giải quyết thì phải tiến hành đầy đủ các giai đoạn theo quy định của Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 với những chi phí không nhỏ. Ngược lại, nếu không thực hiện đầy đủ các thủ tục này thì Tòa án lại bị coi là vi phạm pháp luật. Để khắc phục tình trạng này, Luật phá sản năm 2004 đã đi theo hướng quy định nhiều thủ tục khác nhau trong thủ tục phá sản (Điều 5) bao gồm: thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã; thủ tục thanh lý tài sản; thủ tục tuyên bố phá sản. Sau khi quyết định mở thủ tục phá sản, căn cứ vào GVHD: TH.S Nguyễn Mai Hân Trang 17 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Nhung Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản tình trạng thực tế của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, Tòa án sẽ quyết định áp dụng thủ tục nào cho phù hợp, đối với những doanh nghiệp, hợp tác xã không còn khả năng phục hồi, Tòa án sẽ áp dụng ngay thủ tục thanh lý tài sản, nếu xác định tài sản còn lại của doanh nghiệp không đủ để thanh toán chi phí phá sản thì Tòa án có thể tuyên bố phá sản ngay. Trong quá trình áp dụng thủ tục phục hồi nếu doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện không đúng, không đầy đủ hoặc không thực hiện được phương án phục hồi hoạt đông kinh doanh thì Tòa án cũng có thể quyết định chuyển từ thủ tục phục hồi sang áp dụng thủ tục thanh lý tài sản. Quy định như trên tạo điều kiện vừa chấm dứt nhanh chóng sự tồn tại của những doanh nghiệp không còn đủ khả năng phục hồi, giảm thiểu đến mức tối đa cho việc tiến hành thủ tục phá sản, bảo vệ quyền lời của các chủ nợ. 1.4.2. Sự giám sát của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) trong quá trình giải quyết phá sản Với tư cách là cơ quan giám sát, VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tất cả các giai đoạn của thủ tục giải quyết phá sản, đối với các chủ thể tiến hành giải quyết việc phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã nhằm đảm bảo thực hiện đúng đắn Luật phá sản, đạt được những mục tiêu mà Luật đã đề ra. Điều 12 Luật phá sản quy định: “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản theo quy định của Luật này và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ". Đối với VKSND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và cấp tương đương có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật việc giải quyết phá sản của TAND cấp huyện đối với hợp tác xã đã đăng kí kinh doanh tại cơ quan đăng kí kinh doanh cấp huyện đó. Đối với VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương (nơi doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh) có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật việc giải quyết phá sản của TAND cấp tỉnh đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đã đăng kí kinh doanh tại cơ quan đăng kí kinh doanh cấp tỉnh đó hoặc đối với trường hợp TAND cấp tỉnh lấy lên để tiến hành thủ tục phá sản đối với hợp tác xã thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện. Riêng đối với việc giải quyết phá sản doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì VKSND cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật việc giải quyết phá sản của TAND cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp có đầu tư nước ngoài đó. GVHD: TH.S Nguyễn Mai Hân Trang 18 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Nhung Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ và con nợ trong thủ tục phá sản Ngoài các chủ thể trên, tham gia vào quá trình giải quyết phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã còn có sự tham gia của cơ quan Thi hành án và một số cơ quan chuyên môn khác (Điều 9 - Luật phá sản). Tóm lại, mặc dù Luật phá sản quy định có sự tham gia của nhiều cơ quan khác nhau vào quá trình giải quyết phá sản nhưng Tòa án là chủ thể giữ vai trò trung tâm, quyết đinh. Cơ quan Viện kiểm sát, Thi hành án và một số cơ quan chuyên môn khác tham gia vào quá trình giải quyết phá sản là để đảm bảo cho Tòa án thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. GVHD: TH.S Nguyễn Mai Hân Trang 19 SVTH: Nguyễn Thị Hồng Nhung
- Xem thêm -