QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

  • Số trang: 32 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 42 |
  • Lượt tải: 0
thuvientrithuc1102

Đã đăng 15341 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT PHẠM HÙNG NIÊN LUẬN QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY HUẾ, THÁNG 6 NĂM 2015 1 ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT NIÊN LUẬN LỚP: LUẬT VB2 – VIỆN KIỂM SÁT QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN Th.S NGUYỄN DUY PHƯƠNG SINH VIÊN THỰC HIỆN PHẠM HÙNG HUẾ, THÁNG 6 NĂM 2015 BẢNG DANH MỤC VIẾT TẮT 1. LHQ : 2. XHCN : Liên Hợp Quốc Xã hội nghĩa 2 3. CNXH : 4. ICCPR : Chủ nghĩa xã hội Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị A. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, trong toàn bộ vấn đề của loài người quyền con người và quyền công dân là những vấn đề có lịch sử lâu đời cả về phương diện thực tiễn cũng như lý luận. 3 Đó luôn là mối quan tâm của toàn nhân loại trong mọi thời kỳ phát triển của nó. Mỗi bước phát triển của quyền con người, quyền công dân đều gắn liền và là thành quả của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh cách mạng, phản ánh quá trình nhân loại tự giải phóng mình. Tư tưởng về quyền con người (nhân quyền) đã hình thành từ rất sớm trong lịch sử nhân loại nhưng không phải trong bất cứ hình thái kinh tế xã hội nào nó cũng tồn tại và thừa nhận một cách đầy đủ. Tư tưởng về quyền con người xuất hiện từ rất sớm trong các nền văn minh cổ đại nhưn nhận thức đầy đủ và sâu sắc nhất về quyền con người chỉ có từ hơn 200 năm trở lại đây. Giai cấp tư sản khi tiến hành cuộc đấu tranh nhằm lật đổ chế độ phong kiến giành quyền lãnh đạo xã hội đã dựa vào nhân quyền và coi đó là một thứ vũ khí quan trọng để tập hợp lực lượng chống lại chế độ phong kiến. Cách mạng tư sản đã đưa con người từ địa vị những thần dân trở thành những công dân (với tư cách là những thành viên bình đẳng trong nhà nước) và pháp điển hóa các quyền tự nhiên của con người dưới hình thức các quyền công dân trong pháp luật. Vấn đề nhân quyền đã được giai cấp tư sản đề cập trong một số tuyên ngôn vào thế kỉ XVIII như Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hòa Kỳ năm 1776, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789... Những bản tuyên ngôn đầu tiên này của giai cấp tư sản đã xác định những loại quyền cơ bản của con người như quyền tự do và bình đẳng, quyền được sở hữu, quyền được đảm bảo an ninh chống áp bức, quyền tự do tư tưởng, quyền tự do ngôn luận. Cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới nổ ra ở nước Nga vào tháng 10 năm 1917 thành công đã mở ra một chương mới trong lịch sử chính trị quốc tế, đồng thời tạo ra những chuyển biến quan trọng trong tư tưởng và thực tiễn về quyền con người, quyền công dân. Các quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội được đề cao và đặc biệt quyền độc lập và quyền dân tộc tự quyết được cổ vũ. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, việc Liên hợp quốc ra đời, thông qua Hiến chương Liên Hợp Quốc (24/10/1948), Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (10/12/1948) và hai công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội, văn hóa (năm 1966) đã đặt nền móng cho việc tạo dựng một nền văn hóa về quyền con người – nền văn hóa mới và chung của mọi dân tộc trên trái đất. Cho đến ngày nay, một hệ thống hàng trăm văn kiện quốc tế về quyền con người, quyền công dân đã được thông qua, một cơ chế quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, quyền công dân đã được hình thành đã biến quyền con người, quyền công dân thành một trong các yếu tố chính chi phối các quan hệ quốc tế. Đến nay quyền con người đã được ghi nhận và khẳng định trong Hiến pháp của nhiều quốc gia Ở Việt Nam, tư tưởng về quyền con người, quyền công dân cũng xuất hiện từ rất sớm và được thể hiện rõ nhất từ sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam nhân dân Việt Nam đã đứng lên làm nên thành công cuộc cách mạng tháng tám. Cách mạng tháng tám năm 4 1945 đã mang lại quyền độc lập, tự do cho cả dân tộc, quyền công dân của một nước độc lập và những quyền con người cơ bản cho mọi người dân Việt Nam. Bản tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn và đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945 đã trích những luận điểm bất hủ về quyền con người và quyền độc lập dân tộc trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ. Trên cơ sở đó quyền con người đã được ghi nhận trong các bản Hiến pháp của Việt Nam, Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm 2013. Điều 14 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. 2. Quyền con người có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Như vậy Các quốc gia trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng hiện nay luôn đặt vấn đề quyền con người, quyền công dân lên hàng đầu và được quan tâm đặc biệt trong mọi giai đoạn phát triển. Đồng thời quyền con người, quyền công dân cũng là vấn đề hết sức nhạy cảm vì tùy thuộc vào mỗi chế độ chính trị, truyền thống văn hóa, lịch sử phát triển… mỗi quốc gia có những quan niệm, quan điểm khác nhau về quyền con người, quyền công dân. Mỗi bước phát triển của quyền con người, quyền công dân là thành quả của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh cách mạng , phản ánh quá trình nhân loại tự giải phóng mình. Từ những thực tiễn trên em xin thực hiện đề tài “Quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam hiện nay”. Trong khuôn khổ bài niên luận này em xin trình bày những nét khái quát, những nội dung cơ bản của quyền con người, quyền công dân. Nêu lên thực trạng và đề ra các giải pháp để thực hiện quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam hiện nay. 2. Mục đích nghiên cứu đề tài Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng quyền con người, quyền công dân trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay cùng với những vấn đề đang đặt ra cho nghiên cứu về quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam nhằm đưa ra những giải pháp đảm bảo phát triển các quyền cơ bản của con người, quyền công dân. 3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài đó là quyền con người, quyền công dân. Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam hiện nay. Đánh giá thực trạng và phân tích nguyên nhân làm hạn chế việc đảm bảo phát triển quyền con người, quyền công dân của Việt Nam hiện nay trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp góp phần đảm bảo cho sự phát triển quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam hiện nay. 4. Phương pháp nghiên cứu 5 Để hoàn thành đề tài này em sử dụng phương pháp duy vật biện chứng đồng thời kết hợp sử dụng nhiều phương pháp khác hỗ trợ như: Phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp phân tích tổng hợp. 5. Bố cục Đề tài gồm ba phần: Phần mở đầu Phần nội dung gồm hai chương Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền con người, quyền công dân Chương 2: Thực trạng và giải pháp đăm ảo thực hiện quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam Phần kết luận. B. PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền con người, quyền công dân 1.1 Khái niệm về quyền con người và quyền công dân Quyền con người là những đặc quyền mà tự nhiên con người vốn có. Đó là khả năng hành động có ý thức của con người.Tuy nhiên tự bản thân chúng, đặc quyền chưa phải là quyền, để đạt được yếu tố quyền cần có thêm yếu tố đó là quy chế 6 pháp lý. Các đặc quyền cá nhân khi trở thành đối tượng điều chỉnh của pháp luật thì mới trở thành các quyền con người. Do đó quyền con người được định nghĩa là các đặc quyền của con người được pháp luật ghi nhận, điều chỉnh do cá nhân con người nắm giữ trong mối liên hệ với nhà nước và với những cá nhân con người khác hay nói cách khác quyền con người là toàn bộ các quyền tự do và đặc quyền được công nhận dành cho con người do tính chất nhân bản của nó, sinh ra từ bản chất con người chứ không phải tạo ra bởi pháp luật hiện hành. Đó là những quyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm như quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, những quyền tối thiểu mà mỗi quốc gia cần thừa nhận và bảo vệ. Khái niệm quyền công dân cũng ra đời từ rất sớm trong lịch sử, được sử dụng rộng rãi trong xã hội tư sản (khoảng thế kỷ XVI). Để hiểu được khái niệm quyền công dân trước hết cần phải hiểu khái niệm công dân. Công dân là sự xác định một thể nhân về mặt pháp lý thuộc về một nhà nước nhất định. Nhờ sự xác định này được hưởng chủ quyền của nhà nước và được nhà nước bảo hộ khi ở trong nước cũng như ở nước ngoài; đồng thời cũng phải thực hiện một số nghĩa vụ nhất định đối với nhà nước. Quyền công dân được ghi nhận và bảo đảm bằng luật quốc gia (Hiến pháp). Cũng do vậy số lượng, chất lượng quyền công dân ở mỗi quốc gia thường không giống nhau. Đương nhiên không có sự đối lập với quyền con người. Quyền cơ bản của công dân thường xuất phát từ các quyền tự nhiên thiêng liêng và bất khả xâm phạm của con người như quyền sống, quyền bình đẳng, quyền tự do mưu cầu hành phúc và là các quyền hầu hết được các quốc gia trên thế giới thừa nhận. Đồng thời quyền công dân thể hiện tính dân chủ, nhân đạo tiến bộ mối quan hệ giữa nhà nước, xã hội và cá nhân. 1.2 Mối quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân Quyền con người và quyền công dân có mối quan hệ mật thiết với nhau song chúng không là những khái niệm đồng nhất xét về phương diện chủ thể lẫn nội dung. Điều này được thể hiện: 1.2.1 Tính thống nhất giữa quyền con người và quyền công dân Theo nghĩa rộng, cả thuật ngữ “quyền con người” và quyền công dân đều là những phạm trù triết học dùng để biểu thị mối quan hệ của cá nhân con người với cộng đồng nhân loại (quyền con người) và với quốc gia nơi mà người đó có quốc tịch (quyền công dân). Quyền con người và quyền công dân đều xoay quanh một chủ thể chung (của quyền), đó là con người, và một chủ thể chung khác (có nghĩa vụ) là các cộng đồng nhân loại mà thể chế chính trị - pháp lý trung tâm của nó là nhà nước. Thêm vào đó, quyền con người và quyền công dân về bản chất đều là những gì mà một cá nhân con người được phép làm và được thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ bởi các chủ thể khác. Chính vì thế mà quyền con người và quyền công dân là hai phạm trù rất gần gũi và trong nhiều bối cảnh hầu như không có sự phân biệt. 7 Các quyền con người, quyền công dân được pháp điển hóa vào Hiến pháp các nước trên thế giới theo những cách thức nhất định. Tuy là hai phạm trù khác nhau nhưng quyền con người và quyền công dân hầu như không mâu thuẫn mà ngược lại có sự thống nhất, bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau. Nhìn chung các quyền con người, quyền công dân được pháp điển hóa vào Hiến pháp các nước trên thế giới theo ba cách cơ bản sau: Cách thứ nhất: Đề cập trực tiếp thành các điều khoản trong một chương riêng (có tên “quyền con người”, “quyền con người, quyền công dân” hoặc “quyền công dân” …) hoặc rải rác trong một số chương của Hiến pháp. Đây là cách hiến định nhân quyền phổ biến nhất hiện nay được đa số các quốc gia trong đó có Việt Nam áp dụng. Cách thứ hai: Các quyền con người, quyền công dân được quy định trong một văn bản riêng và được thừa nhận như là một cấu phần của Hiến pháp. Ví dụ Tuyên ngôn nhân quyền năm 1689 và Bộ luật về quyền năm 2008 được coi là hai văn bản nguồn của Hiến pháp nước Anh. Một ví dụ tiêu biểu khác là ở nước Pháp, lời mở đầu của Hiến pháp năm 1958 (hiện hành) của nước này quy định: “Nhân dân Pháp trung thành với bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền 1789” Điều đó có nghĩa là bản Tuyên ngôn (được ban hành trước Hiến pháp hơn 150 năm) nhưng sau đó được thừa nhận như là một nội dung của Hiến pháp. Cách thứ ba: Không quy định trực tiếp trong nội dung mà cũng không thành một văn bản riêng mà được xác định như là một điều bổ sung của Hiến pháp. Đây là trường hợp của Hoa Kỳ, Hiến pháp Hoa Kỳ ban đầu không có quy định trực tiếp nào về nhân quyền nhưng sau đó được bổ sung 10 tu chính án quy định về các quyền cơ bản mà sau này được gọi là Bộ luật về các quyền của Mỹ. Không chỉ quyền công dân mà cả quyền con người cũng chịu sự quy định của sự giới hạn quyền. Giới hạn của quyền nhằm bảo đảm sự hài hòa giữa các quyền của cá nhân và các quyền của tập thể (cộng đồng, quốc gia, dân tộc) cũng như việc thụ hưởng quyền giữa các quốc gia với nhau. Luật nhân quyền quốc tế quy định giới hạn áp dụng của một số quyền trong một số điều ước quốc tế về quyền con người. Bản chất của các quy định này là cho phép các quốc gia thành viên áp đặt một số điều kiện với việc thực hiện/hưởng thụ một số quyền con người nhất định nhằm các mục đích như thúc đẩy phúc lợi chung của cộng đồng, bảo vệ an ninh quốc gia, để bảo đảm an toàn cho cộng đồng, để bảo vệ sức khỏe hay đạo đức của cộng đồng và bảo vệ các quyền tự do hợp pháp của người khác. Chẳng hạn Điều 4 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR, 1966) quy định rằng trong những bối cảnh khẩn cấp đe dọa sự sống còn của đất nước các quốc gia có thể áp dụng những biện pháp hạn chế việc thực hiện các quyền nêu trong Công ước này. Về bản chất, những quy định này là sự tạm đình chỉ thực hiện một số quyền dân sự, chính trị trong một thời gian nhất định do bối cảnh khẩn cấp của quốc gia, thông qua một số biện pháp cụ thể như: Thiết quân luật (trên cả nước, ở 8 một khu vực hay một địa phương); cấm biểu tình, hội họp đông; cấm hoặc hạn chế hoạt động của một số cơ quan thông tin đại chúng như truyền hình, phát thanh… Với tính chất là một văn kiện pháp luật quốc gia, Hiến chương của nhiều nước cũng quy định về giới hạn của các quyền con người, quyền công dân nhằm những mục đích nêu trên. Quy định về vấn đề này ít nhiều khác nhau trong Hiến pháp các nước, nhưng giới hạn thường được áp dụng với các quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp tự do đi lại… Cũng tương tự như luật nhân quyền quốc tế, Hiến pháp một số nước có quy định về giới hạn áp dụng chung cho mọi quyền đồng thời có quy định về giới hạn áp dụng riêng cho môt số quyền cụ thể. 1.2.2 Sự khác biệt giữa quyền con người và quyền công dân Một là, tư tưởng về quyền con người được hình thành cùng với sự xuất hiện của những nền văn minh cổ đại. Còn khái niệm quyền công dân chỉ xuất hiện cùng với cách mạng tư sản. Vì cách mạng tư sản đưa con người từ địa vị thần dân trở thành công dân – với tư cách là những thành viên bình đẳng trong một nhà nước và pháp điển hóa các quyền tự nhiên của con người dưới hình thức các quyền công dân. Như vậy khái niêm quyền công dân xuất hiện sau khái niệm quyền con người. Hai là, xét về tổng quan, quyền công dân có nội hàm hẹp hơn so với quyền con người, do quyền công dân chỉ là những quyền con người được các nhà nước thừa nhận và áp dụng riêng cho công dân nước mình. Chẳng hạn, trong một số trường hợp riêng Hiến pháp của một số quốc gia có thể quy định những quyền vốn không được nêu trong luật nhân quyền quốc tế, như quyền sở hữu và sử dụng súng. Tuy nhiên đây chỉ là trường hợp ngoại lệ. Xét tổng quát, các quyền hiến định trong Hiếp pháp của các quốc gia đều đã được ghi nhận hoặc hàm chứa trong các quyền đã được ghi nhận bởi luật nhân quyền quốc tế. Ở nhiều góc độ khác nhau – xem so sánh có thể chứng minh quyền con người là khái niệm rộng hơn quyền công dân. Ví dụ: Về tính chất, quyền con người không bị bó hẹp trong mối quan hệ giữa cá nhân với nhà nước như quyền công dân, mà thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với toàn thể cộng đồng nhân loại. Về phạm vi áp dụng, do không bị giới hạn bởi chế định quốc tịch nên chủ thể của quyền con người là tất cả các thành viên của gia đình nhân loại bất kể vị thế, hoành cảnh, quốc tich…Nói cách khác, quyền con người được áp dụng một cách bình đẳng với tất cả mọi người thuộc mọi dân tộc đang sinh sống trên phạm vi toàn cầu, không phụ thuộc vào biên giới quốc gia, tư cách cá nhân hay môi trường sống của chủ thể quyền. 1.3 Nguồn gốc bản chất của quyền con người và quyền công dân Về nguồn gốc của quyền con người có hai trường phái trái ngược nhau, đưa ra hai quan điểm về quyền con người, quyền công dân. Theo quan niệm của trường phái pháp luật tự nhiên, quyền con người là thuộc tính tự nhiên vốn có của con người. Con người ra đời đương nhiên có những quyền con 9 người, quyền con người không do sự ban phát trao tặng của bất cứ ai. Với quan niệm này, quyền con người xuất hiện từ rất sớn khi có nhà nước và phát luật. Quan niệm thứ hai đặt con người cũng như quyền của nó trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội cuộc đấu tranh vì quyền con người là một thực tế lịch sử lâu đời, nhưng không phải ngay từ khi xuất hiện loài người vấn đề quyền con người đã được đặt ra một cách trực tiếp, nhân quyền là một giá trị nhân loại đồng thời cũng là một khái niệm lịch sử, hình thành trong cuộc đấu tranh giai cấp và bổ sung qua các thời đại khác nhau. Quyền con người cũng không phải là một khái niệm trừu tượng mà nó gắn với cuộc đấu tranh chống áp bức, chống bất công trong xã hội, gắn với từng trình độ phát triển của xã hội chịu hạn định của chế độ kinh tế hoặc là của chế độ chính trị nhà nước. 1.4 Nội dung quyền con người và quyền công dân Nội dung quyền con người: Các quyền con người thế giới thừa nhận bảo về được tuyên bố trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế mà đặc biệt là được coi là bộ luật quốc tế về quyền con người: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966, Tuyên ngôn quốc tế. Trên cơ sở đó có thể phân chia quyền con người thành ba nhóm: Các quyền dân sự, các quyền kinh tế văn hóa xã hội, các quyền chính trị. 1.4.1 Các quyền dân sự bao gồm những quyền: - Quyền không bị phân biệt đối xử, được thừa nhận là con người và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi. - Quyền sống, tự do và an toàn thân thể, không bị bắt làm nô lệ hay nô dịch - Quyền không bị tra tấn hay chịu hình phạt hoặc những đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp nhân phẩm. - Quyền được công nhận là con người trước pháp luật. - Quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng - Quyền yêu cầu tòa án can thiệp chống lại những hành động vi phạm những quyền căn bản. - Quyền được bảo vệ khỏi bị bắt, giam giữ hay lưu đày tùy tiện. - Quyền được xét xử công khai, công bằng bởi tòa án độc lập, không bị kết án và trừng phạt vượt quá khuôn khổ pháp luật. - Quyền được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp - Quyền tự do đi lại, cư trú trong lãnh thổ quốc gia - Quyền rời khỏi bất cứ quốc gia nào, kể cả quốc gia của mình và có quyền hồi hương. - Quyền tự do tôn giáo; tự do thay đổi tôn giáo, tín ngưỡng; tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng. - Quyền được bảo vệ đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, danh dự. - Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo, 10 - Quyền kết hôn với sự thỏa thuận hoàn toàn tự do của hai bên và bình đẳng trong hôn nhân. - Quyền sở hữu riêng tư hoặc hùn hiệp với người khác, không bị tước đoạt tài sản. 1.4.2 Các quyền chính trị - Quyền tìm nơi tị nạn và được hưởng quyền tị nạn tịa các quốc gia khác khi bị đàn áp. - Quyền có quốc tịch và không bị tước quốc tịch. - Quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm, tự do quan niệm và phát biểu quan điểm - Quyền tự do hội họp và lập hội có tính cách hòa bình, không bị cưỡng ép gia nhập hội. - Quyền tham gia chính quyền của quốc gia mình trực tiếp hoặc qua các đại biểu do mình lựa chọn. - Quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước. - Quyền biểu lộ ý nguyện thông qua những cuộc tuyển cử có định kỳ và trung thực, theo phương thức phổ thông đầu phiếu kín hay theo các thủ tục tuyển cử tự do tương tự. 1.4.3 Các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội. - Quyền được hưởng an sinh xã hội và đòi được hưởng những quyền kinh tế, văn hóa và xã hội cần thiết. - Quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống thất nghiệp. - Quyền được trả lương ngang nhau, không phân biệt đối xử cho những công việc ngang nhau. - Quyền được trả lương đủ để đảm bảo cho bản thân và gia đình một đời sống xứng đáng với nhân phẩm, và nếu cần sẽ được bổ sung bằng những biện pháp bảo trợ xã hội khác. - Quyền thành lập nghiệp đoàn hay gia nhập nghiệp đoàn. - Quyền nghỉ ngơi và giải trí, hạn chế số giờ làm việc hợp lý và được hưởng những ngày nghỉ định kỳ có trả lương. - Quyền được hưởng một mức sống khả quan về phương diện sức khỏe và an lạc cho bản thân và gia đình. - Quyền được hưởng an sinh xã hội trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tật nguyền, góa bụa, già yếu, hay thiếu phương kế sinh nhai do những hoàn cảnh ngoài ý muốn - Quyền của sản phụ và trẻ em được đặc biệt săn sóc và giúp đỡ các con (chính thức hay ngoại hôn) đều được hưởng bảo trợ xã hội như nhau. - Quyền được hưởng giáo dục, được hưởng chế độ giáo dục miễn phí mang tính cưỡng bách ít nhất ở cấp sơ đẳng và căn bản. - Quyền được phổ cập giáo dục kỷ thuật, chuyên nghiệp và cao đẳng trên căn bản bình đẳng, lấy thành tích làm tiêu chuẩn. 11 - Quyền được hưởng một nền giáo dục phát huy đầy đủ nhân cách, tăng cường sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản; để cao sự thông cảm, bao dung và hữu nghị giữa các quốc gia, các cộng đồng sắc tộc hay tôn giáo. - Quyền ưu tiên lựa chọn giáo dục cho các con. - Quyền tự do tham gia vào đời sống văn hóa cộng đồng, thưởng ngoạn nghệ thuật, hưởng các tiến bộ khoa học và lợi ích của những tiến bộ ấy. - Quyền được bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất phát sinh từ những sản phẩm khoa học, văn học hay nghệ thuật của mình. - Quyền được hưởng một trật tự xã hội và trật tự quốc tế trong đó những quyền tự do có thể được thực hiện đầy đủ. Có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng hầu hết các quyền con người liệt kê trên đây đã được ghi nhận trong Hiến pháp và các đạo luật hiện hành của Việt Nam. Việt Nam đã tích cực tham gia các công ước quốc tế và nghị định thư quan trọng về quyền con người và đã nội luật hóa các công ước và nghị định thư quan trọng đó. Trong Hiến pháp 2013 quyền con người, quyền công dân được quy định từ Điều 14 đến Điều 49 đã có nhiều điểm mới tiến bộ và hoàn thiện hơn so với Hiến pháp năm 1992. Chủ thể và nội dung quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân khẳng định rõ hơn, cụ thể như sau: Về quyền con người Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện được tầm quan trọng của quyền con người, đưa chương 5 quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 1992 lên Chương 2 trong Hiến pháp năm 2013. Đồng thời tên chương cũng có sự thay đổi, cụ thể: Ở Hiến pháp năm 1946 là chương “Nghĩa vụ và quyền lợi công dân”, từ Hiến pháp 1959 đến Hiến pháp năm 1992 là chương “Quyền và nghĩa vụ cơ bản công dân” đến Hiến pháp năm 2013 sửa đổi chương này có tên gọi “Quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản công dân”. Qua đó khẳng định rằng, quyền con người là quyền tự nhiên, Nhà nước phải thừa nhận, tôn trọng và cam kết bảo đảm, bảo vệ quyền con người đúng như những công ước mà Viện Nam là thành viên. Trong Hiến pháp năm 2013 đã có sự thay đổi cụm từ “mọi công dân” thành “mọi người”. Điều đó cho thấy ở Việt Nam đã có bước tiến bộ hơn về sự phân biệt con người và công dân tránh việc dẫn đến thiếu hiểu biết sâu sắc về quyền con người như là quyền của “công dân toàn cầu” trong khi đó quyền công dân chỉ là quyền xác định trong một quốc gia. Theo đó tại Điều 6 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định “1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật 2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội”. Đây là những quyền cơ bản của con người thể hiện tính dân chủ trong đời sống chính trị, xã hội, không có sự phân biệt giữa người giàu và người nghèo, giữa các dân tộc hay tôn giáo, giới tính, thành phần xã hội… Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật thực hiện các quyền của mình mà không 12 vi phạm pháp luật đồng thời không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội. Hiến pháp năm 2013 bổ sung thêm quy định tại Điều 19 “Mọi người có quyền sống, tính mạng con người được pháp luật bảo hộ, không ai bị tước đoạt tính mạng trái pháp luật” Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định “1. Mọi người đều có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự nhân phẩm; khong bị tra tấn, bạo lực truy bức, nhục hình hay hình thức đối xử nào khác xâm phạm nhân thân, thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự nhân phẩm. 2. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt giam giữ người do luật định”. Đây là những đảm bảo sự tồn tại và phát triển cơ thể con người. Khoản 3 Điều 20 Hiến pháp 2013 quy định “Mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo quy định của luật. Việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải có sự đồng ý của người được thử nghiệm” . Điều này cho thấy sự khác biệt so với Hiến pháp 1992, thể hiện quyền của cá nhân đối với bộ phận trên cơ thể, cơ thể của mình. Điều 21 Hiến pháp năm 2013 quy định “1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn. 2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác”. Đây là một trong những điểm mới của quyền con người trong Hiến pháp nă 2013, cho thấy quyền con người được mở rộng hơn, đầy đủ hơn trước. Hiến pháp đã quy định quyền tự do cá nhân của mỗi người. Điều 22 Hiến pháp năm 2013 quy định “2. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý”. Điều 24 Hiến pháp 2013 quy định”1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Ngoài ra, Hiến pháp năm 2013 còn dành một số điều chế định sự bảo hộ hay bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp về tài sản, sử dụng đất, lao động và việc làm (Điều 51, 54, 57). Việc sắp xếp quyền con người phù hợp với việc sắp xếp các nhóm 13 quyền của luật nhân quyền quốc tế là quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Hiến pháp năm 2013 quy định rõ hơn hoặc tách thành điều riêng hầu hết các quyền đã được ghi nhận trong Hiến pháp 1992, bao gồm: Bình đẳng trước pháp luật (Điều 16); không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử, phân biệt nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm (Khoản 1 Điêu 20); bảo vệ đời tư (Điều 21); Tiếp cận thông tin (Điều 25); tham gia quản lý nhà nước và xã hội (Điều 28); Bình đẳng giới (Điều 26)…Nếu Điều 63 Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ thì Hiến pháp năm 2013 quy định “Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới” (Điều 26), tức là đã thay đổi quan niệm và cách tiếp cận về bình đẳng giới, từ chỗ chỉ bình đẳng với nữ giới sang bình đẳng với cả nam và nữ giới. Mở rộng hơn chủ thể và nội dung của bình đẳng giới. Không chỉ củng cố các quyền đã được hiến định trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 còn chế định một số quyền mới như Quyền sống (Điều 19); các quyền về nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó (Điều 40); quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41); quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42); quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43); quyền không thể bị trục xuất, giao nôp cho nhà nước khác (Điều 17) Quyền công dân được ghi nhận trong Hiến pháp là cơ sở chủ yếu để xác định địa vị pháp lý của công dân. Khoản 1, 3, 4, Điều 15 Hiến pháp năm 2013 quy định “1. Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. 3. Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước và xã hội. 4. Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”. Điều này cho thấy nhà nước luôn bảo vệ quyền và lợi ích của công dân đồng thời công dân phải thực hiện nghĩa vụ của mình đối với nhà nước. Bên cạnh đó nhà nước cố gắng mở rộng, hoàn thiện quyền công dân thể hiện trên các quyền chính trị, văn hóa, xã hội, tự do dân chủ và tự do cá nhân (Điều 23, 25, 27, 28, 30, 34,35, 42, 44, 46 Hiến pháp năm 2013) Như vậy nhìn vào các quyền con người, quyền công dân được ghi nhận trong Hiến pháp chúng ta có thể thấy về mặt pháp luật quyền con người, quyền công dân đã được Việt Nam ghi nhận, mở rộng hơn trước thể hiện tính chất dân chủ, nhân đạo và tiến bộ. Mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân ngày càng được mở rộng, thể hiện rõ hơn tính chất của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Qua đó cần nhìn nhận những điều kiện để đảm bảo thực hiện quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam 1.5 Điều kiện bảo đảm quyền con người 1.5.1 Dân chủ và nhân quyền 14 Dân chủ và quyền con người là những hiện tượng luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Dân chủ là hình thức, hình thái nhà nước, là phương thức, cơ chế quản lý xã hội trong đó nhân dân được coi là người chủ quyền lực. Sự phát triển và tự do của con người có mối tương quan với sự phát triển của dân chủ. Với tư cách là một hình thức nhà nước, dân chủ là chế độ nhà nước của nhân dân, hình thức nhà nước xuất phát từ nhân dân. Trong chế độ dân chủ, nhân dân là chủ thể của quyền lực, quyết định tổ chức và hoạt động của nhà nước. Dân chủ còn được coi là công cụ, phương tiện đảm bảo phát triển các quyền con người. Về nguyên tắc, quyền con người, quyền công dân là những khái niệm gắn liền với chế độ dân chủ. Trong những năm gần đây, trong toàn bộ các vần đề về quyền con người, dân chủ và nhân quyền nổi lên như những vấn đề bức xúc, đặc biệt khi xu thế dân chủ hóa đang diễn ra một cách khách quan mạnh mẽ trong đời sống quốc tế. Do vậy, việc thực hiện đảm bảo quyền con người phải gắn liền và phụ thuộc vào quá trình dân chủ hóa. Thực hiện các nguyên tắc dân chủ trong đời sống nhà nước, đời sống xã hội được quan niệm là con người đúng đắn về thực hiện quyền con người, quyền công dân. 1.5.2 Nhà nước pháp quyền với quyền con người và quyền công dân Nhà nước pháp quyền có đặc trưng cơ bản là sự thống trị tối cao của pháp luật trong đời sống xã hội nhưng pháp luật đó là pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích con người, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Những nguyên tác bảo vệ quyền con người trong nhà nước pháp quyền thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với nhà nước trong mối quan hệ đó cá nhân có ưu thế. Sự tồn tại và hoạt động của nhà nước vì mục đích duy nhất là phục vụ con người, đương nhiên trong nhà nước pháp quyền phương tiện để điều chỉnh các quan hệ giữa cá nhân với nhà nước là pháp luật. Pháp luật được coi là khế ước giữa công dân với nhà nước. Trong nhà nước pháp quyền tồn tại quan hệ tương hỗ nhà nước phải gánh chịu trách nhiệm có nghĩa vụ đảm bảo quyền tự do của cá nhân đồng thời cá nhân (công dân) phải thực hiện nghĩa vụ của mình đối với nhà nước và xã hội. Do vậy muốn đảm bảo và thực hiện quyền con người, quyền công dân phải gắn liền nó với nhà nước pháp quyền. 1.5.3 Pháp luật với quyền con người và quyền công dân Đảm bảo bằng pháp luật là một trong những vấn đề đặc biệt quan trọng để các quyền con người, quyền công dân được thực hiện. Khi trở thành quyền pháp định, quyền con người và quyền công dân là ý chí chung của xã hội, được xã hội phục tùng, được quyền lực nhà nước bảo vệ. Quyền con người, quyền công dân khi pháp luật ghi nhận sẽ trở thành quyền độc lập đối với bất kỳ uy quyền nào kể các các cơ quan cao cấp nhất của nhà nước. Tư tưởng về quyền con người, quyền công dân phải được đảm bảo bằng pháp luật ra đời sớm. Ngay thế kỷ 6 TCN một nhà thông thái Hi Lạp đã quan niệm “ta giải phóng tất cả mọi người bằng pháp luật”. Ngay sau khi cách mạng tư sản thành công, tư tưởng về quyền con người phải 15 được đảm bảo bằng pháp luật được thể hiện đậm nét ở các tuyên ngôn và Hiến pháp xuất hiện sau các cuộc cách mạng tư sản (Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền 1948). Hiện nay, ở mỗi quốc gia trên thế giới với các mục đích và hình thức khác nhau Hiến pháp của các nước đều có các chế định về địa vị pháp lý của công dân. Pháp luật làm cho mỗi cá nhân trong xã hội biết được mình có những quyền gì, cơ chế bảo đảm, bảo vệ thực hiện thế nào. Mặt khác, việc đảm bảo quyền con người, quyền công dân còn được thể hiện qua sự phối hợp của cộng đồng quốc tế trong việc xây dựng các cơ chế pháp lý quốc tế về bảo vệ quyền con người. 1.5.4 Dân trí, thông tin với quyền con người và quyền công dân Quyền con người, quyền công dân được đảm bảo và thực hiện phụ thuộc rất nhiều vào trình độ dân trí của mỗi quốc gia. Trong xã hội công dân phải có trình độ văn hóa dân chủ, văn hóa chính trị - pháp lý. Chỉ có trên nền tri thức đó công dân mới tự giác đấu tranh và thực hiện các quyền của mình. Đồng thời cũng trên cơ sở văn hóa ấy con người mới điều chỉnh được hành vi của mình theo pháp luật. Điều đó phải tiến hành cải cách nâng cao chất lượng của hệ thống giáo dục nhằm bồi dưỡng năng lực làm chủ của công dân. Cùng với hệ thống giáo dục, hệ thống thông tin cũng phải được đổi mới nâng cao vai trò của báo chí, làm cho báo chí thực sự trở thành một phương tiện hữu hiệu bảo vệ, tuyên truyền về quyền con người, quyền công dân. 1.5.5 Kinh tế với quyền con người và quyền công dân Trình độ phát triển kinh tế, những điều kiện sinh hoạt vật chất mang lại tính quyết định đối với việc thực hiện và mở rộng các quyền con người. Cùng với sự phát triển của kinh tế và khoa học kỷ thuật, con người có điều kiện phát triển tự do và toàn diện, làm chủ bản thân minh và cộng đồng xã hội. Chính vì thế cần phải chú trọng và phát triển kinh tế để bảo đảm quyền con người, quyền công dân Với tiêu chí trên hiện nay trên thế giới các quốc gia đang tiến hành hoàn thiện hệ thống pháp luật để đảm bảo thực hiện tốt hơn quyền con người, quyền công dân. Việt Nam cũng là một nước không phải ngoại lệ và đang ngày càng phát triển, từng bước hoàn thiện pháp luật qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013 để đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc biệt Hiến pháp 2013 đã kế thừa và phát huy những giá trị về quyền con người, quyền công dân trong các bản hiến pháp trước đó đồng thời bổ sung một số điều khoản để quyền con người, quyền công dân được mở rộng hơn phù hợp với quy định của quốc tế và truyền thống văn hóa Việt Nam. Hiến pháp cũng đề ra các cơ chế, biện pháp để đảm bảo thực hiện quyền con người, quyền công dân. Điều này được thể hiện qua các khía cạnh sau: Thứ nhất: Công dân và mọi người được hưởng các quyền con người một cách mặc nhiên và Nhà nước có nghĩa vụ công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm (thực hiện) các quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp và pháp luật. 16 Điều 51 Hiến pháp năm 1992 quy định “ Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định”. Việc quy định như thế đã gây hiểu nhầm là Hiến pháp và pháp luật (hay Nhà nước) là những chủ thể sản sinh ra các quyền con người. Cách hiểu như trên không phù hợp với nhận thức về quyền con người trên thế giới. Theo quan điểm của cộng đồng quốc tế, mọi thành viên của nhân loại khi sinh ra đã mặc nhiên có tư cách chủ thể của các quyền con người. Các nhà nước chỉ có thể thừa nhận (bằng Hiến pháp và pháp luật) các quyền đó như là những giá trị vốn có của mọi cá nhân mà nhà nước có nghĩa vụ công nhận, tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy. Kế thừa tinh hoa của Hiến pháp năm 1946 và tư tưởng tinh hoa nhân loại, Hiến pháp năm 2013 tại khoản 1 Điều 14 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Việc đảm bảo quyền con người, quyền công dân gắn bó mật thiết với việc bảo đảm chế độ chính trị. Trong Hiến pháp năm 2013, chế định về quyền con người, quyền công dân được đưa lên Chương 2, ngay sau chương Chế định về chế độ chính trị (so với vị trí thứ 5 trong Hiến pháp 1992). Đây không chỉ là đơn thuần về kỷ thuật lập hiến mà còn phản ánh sự thay đổi trong nhận thức lý luận về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Bằng cách đó đã đi đến khẳng định: Nhà nước được lập ra là để bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người, quyền công dân; việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân gắn bó mật thiết với việc bảo đảm chế độ chính trị. Thứ hai: Thể chế kinh tế, xã hội và văn hóa để bảo đảm quyền con người, quyền công dân Về thể chế kinh tế, xã hội và văn hóa, Chương 3 của Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định trách nhiệm của Nhà nước và xã hội trong lĩnh vực lao động, việc làm, an sinh xã hội, y tế, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, phát triển con người (từ Điều 57 đến Điều 60); đồng thời bổ sung quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo về quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định (Điều 57) Về phát triển giáo dục và khoa học, công nghệ, cùng với việc chế định quyền trong lĩnh vực này, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định phát triển giáo dục, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, đồng thời xác định những mục tiêu và định hướng chính trong việc phát triển giáo dục và khoa học, công nghệ (Điều 61,62). Về môi trường, cùng với việc chế định quyền trong lĩnh vực này, Hiến pháp năm 2013 nêu rõ Nhà nước có chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu 17 quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biển đổi khí hậu (Điều 63). Thứ ba, thể chế tư pháp để bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định về cấm truy bức, nhục hình xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân (Điều 17). Đến Hiến pháp năm 2013 ở Điều 20 lần đầu tiên trong lịch sử Hiến pháp nước ta, đã chế định về cấm tra tấn nói riêng và cấm bất kỳ hình thức bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất cứ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của mọi người. Quy định cụ thể này rõ ràng và rộng hơn so với quy định cũ cả về hành vi bị cấm và chủ thể được bảo vệ. Hiến pháp năm 1992 tại Điều 72 quy định quyền tố tụng công dân chỉ bao gồm: suy đoán vô tội; bồi thường thiệt hại vật chất và phục hồi danh dự cho người bị oan sai trong tố tụng; xử lý nghiêm minh người làm trái pháp luật trong khi thi hành tố tụng gây thiệt hại cho người khác. Hiến pháp năm 2013 bổ sung: Xét xử kịp thời, công bằng, công khai; không bị kết án hai lầ vì một tội phạm; quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa (Điều 31). Quy định mới này đã mở rộng chủ thể và phạm vi quyền đòi bồi thường thiệt hại; đồng thời buộc các cơ quan tiến hành tố tụng phải công bằng và khách quan trong việc tìm ra chứng cứ, coi trọng cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội. Nếu Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định công dân “có quyền được thông tin” (Điều 69) thì Hiến pháp năm 2013 ở Điều 25 thay chữ “được” bằng cụm từ “tiếp cận”. Nhờ quyền tiếp cận thông tin, mọi công dân có thể tiếp cận thông tin cả về các quyền thực định cũng như về hoạt động tư pháp để thụ hưởng đầy đủ và bảo vệ các quyền của mình theo Hiến pháp và pháp luật Thứ tư: Xác định đầy đủ nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân Trong khi Điều 50 Hiến pháp 1992 mới chỉ ghi nhận nghĩa vụ tôn trọng thì Hiến pháp năm 2013 ghi nhận cả bốn nghĩa vụ của Nhà nước về công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm (thực hiện) quyền con người (Điều 3 và Điều 14), tương tự như sự xác định ở Lời mở đầu của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (năm 1948). Hiến pháp năm 2013 tái khẳng định quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân và bổ sung “Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý Nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân” (Điều 28). Việc bổ sung này đã ràng buộc nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước trong bảo đảm quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của người dân; qua đó, bảo đảm để quyền này của người dân được thực hiện trong thực tế. Thứ năm: Chế định những công cụ hữu hiệu và quy định việc thiết lập cơ chế bảo vệ Hiến pháp trong đó có các quyền con người đã được hiến định 18 Hiến pháp năm 2013 chế định những công cụ hữu hiệu cho việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân đó là Hội đồng Bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước và sửa đổi, bổ sung chức năng nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp. Khoản 2 Điều 119 khẳng định “Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định”. Đây là quy định có tính nguyên tắc nhằm thiết lập cơ chế bảo vệ Hiến pháp trong đó có các quyền con người đã được hiến định một cách hiệu quả và ở mức cao nhất. *Yêu cầu thể chế hóa các quyền hiến định trong hệ thống pháp luật Việt Nam Thứ nhất, thể chế hóa các quyền hiến định, đồng thời rà soát, sửa đổi các văn bản pháp luật hiện hành để tạo sự thống nhất trong hệ thống Pháp luật Việt Nam và trên cơ sở Hiến pháp năm 2013. Hiến pháp là đạo luật cơ bản giữ vai trò quyết định trong toàn bộ hệ thống pháp luật quốc gia. Một mặt mỗi quyền hiến định có thể được thể chế hóa thành một luật hoặc bộ luật (như quyền lao động) nhưng cũng có thể liên quan đến nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Mặt khác với việc ban hành Hiến pháp mới nhiều quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành có thể không còn phù hợp. Vì thế phải thể chế hóa các quyền hiến định, đồng thời rà soát, sửa đổi các văn bản pháp luật để tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam và trên cơ sở Hiến pháp năm 2013. Thứ hai bảo đảm sự bình đẳng giữa các quyền. Hầu hết các Hiến pháp hiện hành trên thế giới chỉ quy định những nguyên tắc cơ bản (mặc dù quan niệm về các quyền cơ bản là rất khác nhau giữa các quốc gia). Vì thế có một số quyền con người tuy không được chế định trong Hiến pháp nhưng có thể được quy định trong các văn bản pháp luật khác của quốc gia. Do đó, nếu không thể chế hoác các quyền hiến định thì có thể gây ra hiểu nhầm rằng những quyền hiến định quan trọng hơn và cần được ưu tiên bảo đảm thực hiện hơn so với các quyền không được hiến định. Thứ ba, cụ thể hóa các quyền hiến định để thực hiện được trên thực tế. Nhìn chung có nhiều quyền hiến định rất khó thực hiện trên thực tế. Ví dụ quyền tiếp cận thông tin quy định ở Điều 25 của Hiến pháp năm 2013, trong khi điều 21 của Hiến pháp này mới chủ yếu quy định phạm vi thông tin (về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình) và nội dung thông tin (thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác) trong quyền được bảo vệ thông tin. Theo Luật Nhân quyền quốc tế và Hiến pháp của nhiều nước trên thế giới, quyền được tiếp cận thông tin thường bao gồm ba quyền phái sinh là: Quyền được thông tin, quyền được tìm kiếm thông tin và quyền được phổ biến thông tin. Do đó cần xây dựng luật để bảo đảm đầy đủ quyền được tiếp cận thông tin, trên cơ sở đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013. Thứ tư, thể chế hóa những quyền không được hiến định. Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam và tất cả các Hiến pháp trên thế giới không thể liệt kê được đầy đủ hệ thống các quyền, vì các quyền cũng vận động, biến đổi cùng với sự phát triển của đời sống xã hội. Do đó, phải thể chế hóa các quyền chưa được hiến định thành các 19 văn bản pháp luật như cấm chế độ nô lệ, nô dịch hoặc cưỡng bức lao động; quyền của người không quốc tịch; quyền đình công; quyền biểu tình; quyền nghỉ ngơi… Chương 2: Thực trạng và giải pháp đảm bảo thực hiện quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam hiện nay 2.1 Thực trạng thực hiện quyền con người và quyền công dân trên thế giới Kể từ khi cuốn Khế ước xã hội của Rút – xô ra đời năm 1762, về phương diện nhận thức của nhân loại xem như quyền thiêng liêng và vô hạn của chúa đã bị chấm dứt. Sau hơn 200 năm xác nhận nền dân chủ và xã hội dân chủ tư sản cùng với sự phát triển của kinh tế và khoa học kỉ thuật đặc biệt với biến cố mà cuộc Cách mạng tháng mười năm 1917 ở nước Nga mang lại, loài người đã được giải phóng một cách cơ bản. Quyền con người đã đạt được những thành quả hết sức to lớn, đó là quyền bình đẳng giữa con người với con người, quyền bình đẳng nam nữ, không có sự phân biệt chủng tộc, quyền tham gia chính trị vào lĩnh vực nhà nước. Tuy nhiên quyền con người là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm và phức tạp. Cùng với sự phát triển của nền văn minh thế giới, số lượng và chất lượng ngày càng hoàn thiện. Hiện tại bên cạnh mặt thành tựu thì bức tranh quyền con người còn mang diện mạo hết sức “loang lỗ”: Ở khu vực này quốc gia này quyền con người được coi là những thành tựu lớn thì khu vực khác, quốc gia khác quyền con người lại bị hạn chế, nguy cơ bị tước mất quyền tối thiểu cơ bản nhất đó là quyền sống. Sự phức tạp ngày càng tăng lên do cuộc đấu tranh chính trị, tranh giành quyền lực giữa các quốc gia các cộng đồng người. Trong những năm gần đây, đặc biệt sau sự đổ vỡ của Hệ thống Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu bức tranh nhân quyền ở nhiều quốc gia khu vực càng mang sắc màu ảm đạm. Ở Nam Tư, chiến tranh xung đột xảy ra ở mức cộng đồng quốc tế không thể kiểm soát được. Ở Nam Phi nạn phân biệt chủng tộc vẫn chưa được giải quyết căn bản. Nước Mỹ được xem là đất nước tự do dân chủ nhất thế giới, nước có quyền đưa ra bản đánh giá về nhân quyền đối với các quốc gia khác trên thế thời hàng năm cũng tồn tại nạn biệt chủng tộc hết sức phức tạp nhất là đối với người da đen tạo nên sự bất ổn về chính trị xã hội trong lòng nước Mỹ. Như vậy việc thực hiện quyền con người, quyền công dân trên thế giới bên cạnh những thành tựu đã đạt được cũng còn rất nhiều vần đề cần phải giải quyết, việc thực hiện quyền con người, quyền công dân trên thế giới còn là một cuộc đấu tranh rất lâu dài và phức tạp. 2.2 Thực trạng thực hiện quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam 2.2.1 Những thành tựu đạt được Việt Nam đã và đang có nổ lực trong việc đảm bảo quyền con người và quyền công dân. Bằng việc nổ lực thực thi chính sách nhân quyền , Việt Nam là một trong những nước đi đầu với việc xóa đói giảm nghèo. Tỷ lệ người nghèo dưới ngưỡng chuẩn quốc gia đã giảm từ 58,1% năm 1993 xuống 14,8% năm 2007 và 20
- Xem thêm -