Quy chế pháp lý về vốn góp và quản lý vốn trong công ty cổ phần

  • Số trang: 76 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 9 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA LUẬT BỘ MÔN LUẬT THƢƠNG MẠI …..o0o….. LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT NIÊN KHOÁ 2009-2013 QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ VỐN GÓP VÀ QUẢN LÝ VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN Giảng viên hướng dẫn: Th.s NGUYỄN MAI HÂN Sinh viên thực hiện: NGUYỄN CỬU TRẠNG MSSV: 5095670 Lớp: Luật Thƣơng Mại 3 – K35 Cần Thơ, Tháng 05 năm 2013 Quy chế pháp lý về vốn góp và quản lý vốn trong công ty cổ phần MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU ............................................................................................................................. 1 CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN ......................................................... 4 1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ....... 4 1.1.1 Sự ra đời, phát triển của công ty và pháp luật về công ty ....................................... 4 1.1.2 Sự hình thành và phát triển của các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam............. 7 1.2 KHÁI NIỆM VÀ B ẢN CHẤT PHÁP LÝ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN .............. 9 1.2.1 Khái niệm và đặc điểm pháp lý của công ty cổ phần .............................................. 9 1.2.2 Những lợi thế và hạn chế của công ty cổ phần ...................................................... 12 1.2.3 Vai trò, ý nghĩa c ủa công ty cổ phần trong nền kinh tế Việt Nam ...................... 13 1.3 KHÁI QUÁT QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN ................................................................................................................................................... 15 1.3.1 Một số khái niệm về vốn........................................................................................... 15 1.3.2 Quan niệm về vốn ở Việt Nam................................................................................. 17 1.3.3 Các tính chất của Vốn ............................................................................................... 18 CHƢƠNG 2: CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP ....................................................................................................... 20 2.1 CƠ CẤU VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN ...................................................... 20 2.1.1 Cổ phiếu ...................................................................................................................... 20 2.1.2 Trái phiếu .................................................................................................................... 21 2.1.3 Chứng chỉ quỹ đầu tư ................................................................................................ 21 2.1.4 Chứng khoán khác ..................................................................................................... 22 2.2 HÌNH THÀNH VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN .......................................... 22 2.2.1 Một số quy định về góp vốn thành lập công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp ................................................................................................................................................ 22 2.2.2 Hình thành vốn trong công ty cổ phần .................................................................... 30 2.3 CÁC HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN KINH DOANH TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN ............................................................................................................................... 34 2.3.1 Vốn góp cổ đông ........................................................................................................ 34 2.3.2 Phát hành cổ phiếu ..................................................................................................... 35 2.3.3 Phát hành trái phiếu ................................................................................................... 43 2.4 CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN ................................. 47 GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân SVTH: Nguyễn Cửu Trạng Quy chế pháp lý về vốn góp và quản lý vốn trong công ty cổ phần 2.4.1 Chào bán và chuyển nhượng cổ phần...................................................................... 48 2.4.2 Mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông ............................................................. 54 2.4.3 Mua lại cổ phần theo quyết định của công ty......................................................... 55 2.4.4 Trả cổ tức .................................................................................................................... 56 CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN NHỮNG VẤN ĐỂ PHÁP LÝ VỀ VỐN VÀ QUẢN LÝ VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẨN Ở VIỆT NAM ....................................................................................................... 59 3.1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN. .............................................................................................................................. 59 3.2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN ................ 60 3.2.1 Về nguồn vốn tự có của công ty cổ phần................................................................ 61 3.2.2 Việc vay vốn từ các ngân hàng thương mại của công ty cổ phần ....................... 61 3.2.3 Việc cho thuê tài chính.............................................................................................. 61 3.2.4 Việc phát hành chứng khoán (trái phiếu, cổ phiếu…) .......................................... 62 3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ VỐN VÀ QUẢN LÝ VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN .................................................. 63 KẾT LUẬN ................................................................................................................................ 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................................... 70 GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân SVTH: Nguyễn Cửu Trạng Quy chế pháp lý về vốn góp và quản lý vốn trong công ty cổ phần NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN ………………………………………………………………… ………………………………………………………………… ………………………………………………………………… ………………………………………………………………… ………………………………………………………………… ………………………………………………………………… ………………………………………………………………… ………………………………………………………………… ………………………………………………………………… ………………………………………………………………… ………………………………………………………………… ………………………………………………………………… ………………………………………………………………… ………………………………………………………………… ………………………………………………………………… ………………………………………………………………… ………………………………………………………………… ………………………………………………………………… ………………………………… Cần thơ, ngày……tháng 5 năm 2013 GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân SVTH: Nguyễn Cửu Trạng Quy chế pháp lý về vốn góp và quản lý vốn trong công ty cổ phần NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN ……………………………………………………………… ……………………………………………………………… ……………………………………………………………… ……………………………………………………………… ……………………………………………………………… ……………………………………………………………… ……………………………………………………………… ……………………………………………………………… ……………………………………………………………… ……………………………………………………………… ……………………………………………………………… ……………………………………………………………… ……………………………………………………………… ……………………………………………………………… ……………………………………………………………… ……………………………………………………………… ……………………………………………………………… ……………………………………………………………… ……………………………………………………………… ………………… Cần thơ, ngày……tháng 5 năm 2013 GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân SVTH: Nguyễn Cửu Trạng Quy chế pháp lý về vốn góp và quản lý vốn trong công ty cổ phần LỜI NÓI ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Sự đổ vỡ của các nền kinh tế kế hoạch tập trung đã diễn ra một cách nhanh chóng trên phạm vi toàn thế giới. Nhưng để thiết lập được một nền kinh tế thị trường thực thụ theo định hướng xã hội chủ nghĩa cần phải có một thời gian dài. Các nước Đông Âu, Trung Quốc và Việt Nam đã có trên 20 năm thực hiện chuyển đổi cơ chế kinh tế, mỗi nước có một cách đi riêng và đã đưa đến những kết quả khác nhau. Việc chuyển đổi cơ chế kinh tế ở Việt Nam được đánh dấu bằng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), đã quyết định đưa nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ nến kinh tế tập trung - quan liêu - bao cấp trước đây. Ngày 21/12/1990, Quốc hội nước CHXHCNVN khoá VIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân. Sự kiện này đã tạo cơ sở pháp lý cho sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời nó còn là căn cứ cho việc ban hành Luật doanh nghiệp 1999 và Luật doanh nghiệp 2005 sau này ở nước ta. Như vậy, vai trò và vị trí của doanh nghiệp là rất quan trọng không những đối với nhà đầu tư, người lao động mà còn quan trọng đối với nền kinh tế nói riêng và đất nước nói chung. Vì vậy, muốn phát triển kinh tế và phát triển đất nước thì trước hết là phát triển các loại hình doanh nghiệp. Trong các loại hình doanh nghiệp thì công ty cổ phần có vai trò to lớn đối với nền kinh tế, vì nó có những ưu điểm vượt trội và nổi bật hơn hẳn các loại hình doanh nghiệp còn lại như: có khả năng huy động vốn lớn thông qua việc phát hành cổ phiếu ra công chúng, có số lượng thành viên không hạn chế về số luợng tối đa, các cổ đông được tự do chuyển nhượng cổ phần…Chính vì những lý do trên mà công ty cổ phần được xem là một loại hình doanh nghiệp cốt lõi đối với nền kinh tế của một nước, trong đó bao hàm cả nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Ở nước ta hiện nay, chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Do đó, các công ty cổ phần ra đời là xu huớng tất yếu, sự hình thành các công ty cổ phần là hướng đi đúng đắn để nền kinh tế nước ta hoà nhập với nền kinh tế thế giới, để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tập trung vốn đầu tư trong nước. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang rất cần vốn và công nghệ mới, đồng thời điều đó cũng phù hợp với xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế. Vấn đề về vốn trong công ty cổ phần nói riêng và đối với các loại hình doanh nghiệp khác nói chung, đ ặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay là quan trọng hơn bao giờ hết. Vì vốn là một nhân tố cực kỳ quan trọng và là yếu tố sống còn của doanh nghiệp, có vốn thì doanh nghiệp mới hoạt động có hiệu quả, thực hiện được các chiến lược, mục tiêu kinh doanh đã đề ra, vượt qua được các khó khăn và các đối thủ sẽ gặp GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân 1 SVTH: Nguyễn Cửu Trạng Quy chế pháp lý về vốn góp và quản lý vốn trong công ty cổ phần phải trên thương trường, đem lợi nhuận về cho công ty thông qua đó góp phần giải quyết việc làm cho người dân, tăng ngân sách cho Nhà nước, thúc đẩy nền kinh tế phát triển…Nhằm có thể tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn về công ty cổ phần, cũng như thấy được sự quan trọng của nó đối với nền kinh tế nước ta hiện nay mà đề tài “Quy chế pháp lý về vốn góp và quản lý vốn trong công ty cổ phần” được tác giả chọn để nghiên cứu. 2. Mục tiêu của đề tài Đề tài này hưóng đến những quy định pháp luật hiện hành có liên quan đến các loại hình doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng. Trong đó, đề tài chủ yếu sẽ xoay quanh về chế độ pháp lý về vốn và quản lý vốn trong công ty cổ phần bao gồm như: khái quát về chế độ vốn trong công ty cổ phần, cơ cấu vốn, hình thành vốn, các hình thức huy động vốn, cơ chế quản lý vốn trong công ty cổ phần, thực tiễn hoạt động cũng như thực trạng huy động vốn trong công ty cổ phần… 3. Đối tƣợng và Phạm vi nghiên cứu Để có thể hiểu được một cách đầy đủ, khách quan và rõ ràng nội dung chính của một đề tài mà ta đang thực hiện hay nói một cách khác đó là để thực hiện được mục đích nghiên cứu thì ta phải nắm rõ được đối tượng mà ta đang thực hiện. Đối tượng nghiên cứu của bài viết này chính là những quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần. Để thực hiện được điều đó, bài viết sẽ tập trung phân tích những quy định trong Luật doanh nghiệp 2005, các văn bản pháp luật có liên quan tới Luật doanh nghiệp, công ty cổ phần và bằng việc tổng hợp về công ty cổ phần, so sánh những nguồn tài liệu có liên quan về công ty cổ phần trong và ngoài nước. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Người viết vận dụng phương pháp phân tích luật viết được sử dụng để tìm hiểu các quy định của pháp luật hiện hành liên quan tới đối tượng cần nghiên cứu, phương pháp chứng minh được sử dụng để đưa ra những vấn đề dẫn chứng cụ thể. Phương pháp xã hội học được sử dụng để đánh giá thực trạng những quy định pháp luật về chế độ pháp lý về vốn trong công ty cổ phần. Phuơng pháp lịch sử được sử dụng để tìm nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển của đối tượng nghiên cứu, từ đó phát hiện ra bản chất của vấn đề cần nghiên cứu. Phuơng pháp phân tích số liệu được sử dụng để đối chiếu với lý luận từ đó rút ra những kết luận, kiến nghị, đề xuất. 5. Bố cục của luận văn Kết cấu luận văn gồm 3 chương được trình bày như sau:  Chƣơng 1: Khái quát chung về công ty cổ phần và quy chế pháp lý về vốn trong công ty cổ phần. GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân 2 SVTH: Nguyễn Cửu Trạng Quy chế pháp lý về vốn góp và quản lý vốn trong công ty cổ phần  Chƣơng 2: Quy chế pháp lý về vốn và quản lý vốn trong công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp.  Chƣơng 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện những vấn đề pháp lý về vốn và quản lý vốn trong công ty cổ phần. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu, nhưng với kiến thức còn hạn chế của một sinh viên, vì vậy trong đề tài này chắc chắn sẽ không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót nhất định. Tác giả rất mong được sự đóng góp và chỉ bảo tận tình của quý Thầy, Cô cùng các bạn sinh viên. GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân 3 SVTH: Nguyễn Cửu Trạng Quy chế pháp lý về vốn góp và quản lý vốn trong công ty cổ phần CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1.1 Sự ra đời, phát triển của công ty và pháp luật về công ty 1.1.1.1 Khái niệm chung về công ty Công ty có thể được hiểu trên nhiều nghĩa xét theo nhiều khía cạnh khác nhau. Ở góc độ kinh tế, công ty có thể được hiểu như là các tổ chức chuyên hoạt động thương nghiệp dịch vụ (để phân biệt với các nhà máy, xí nghiệp là những đơn vị kinh tế chuyên sản xuất). Ở góc độ pháp lý, công ty được hiểu là sự liên kết của nhiều người để tiến hành một công việc gì đó vì mục đích kiếm lời. Cũng về mặt khoa học pháp lý, các nhà luật học đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về công ty 1. Nhà luật học Kubler Cộng hoà liên bang Đức quan niệm rằng: “Khái niệm công ty được hiểu là sự liên kết của hai hay nhiều cá nhân hoặc pháp nhân bằng một sự kiện pháp lý nhằm tiến hành các hoạt động để đạt một mục tiêu chung nào đó”2 . Bộ luật dân sự cộng hoà Pháp quy định: “Công ty là một hợp đồng thông qua đó hai hay nhiều người thoả thuận với nhau sử dụng tài sản hay khả năng của mình vào một hoạt động chung nhằm chia lợi nhuận thu được qua hoạt động đó”3. Điều 2 Luật công ty năm 1990 của Việt Nam tuy không đưa ra một khái niệm chung về công ty nhưng qua định nghĩa về công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn thì: “Công ty… là doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng nhau góp vốn, cùng nhau chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ tuơng ứng với phần vốn góp và chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty”. Theo các định nghĩa trên thì công ty có ba đặc điểm cơ bản sau: - Sự liên kết của hai hay nhiều người hoặc tổ chức. - Sự liên kết được thực hiện thông qua một sự kiện pháp lý (hợp đồng, điều lệ, quy chế). - Sự liên kết nhằm mục đích chung. Theo khái niệm trên thì sẽ có rất nhiều loại công ty với các mục đích khác nhau, trong đó có các loại công ty thương mại hay công ty kinh doanh là lo ại phổ biến. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này tác giả chỉ đề cập đến công ty thương mại. Công ty thương mại là loại công ty do hai hay nhiều người (tổ chức) góp vốn thành lập để kinh 1 Trường Đại Học Luật Hà Nộ i, Giáo trình Luật thương mại - Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007, t r.109. Xem: F.Kubler; J. Simon, Mấy vấn đề về pháp luật kinh tế Cộng hoà liên bang Đức, Nxb. Pháp lý, Hà Nộ i, 1992, tr.29. 3 M.cozian. A. viandier, Tổ chức công ty - Tập I, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ tư pháp, Hà Nộ i, 1989, tr.7. 2 GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân 4 SVTH: Nguyễn Cửu Trạng Quy chế pháp lý về vốn góp và quản lý vốn trong công ty cổ phần doanh với mục đích kiếm lợi nhuận. Từ khái niệm trên công ty thương mại có những đặc điểm cơ bản: - Công ty là sự liên kết của nhiều cá nhân hoặc pháp nhân, sự liên kết này thể hiện ở hình thức bên ngoài là một tổ chức. - Các thành viên bỏ ra một số tài sản của mình để góp vào công ty. Đây là điều kiện quan trọng để thành lập công ty. Tuy nhiên, vai trò của vốn góp đối với các loại công ty là khác nhau. - Mục đích của việc thành lập công ty là để kinh doanh kiếm lời chia nhau. Như vậy, về thực chất công ty kinh doanh là một loại hình doanh nghiệp có sự liên kết của ít nhất là hai bên, các bên tham gia có thể là thể nhân, pháp nhân, nó hoàn toàn khác với doanh nghiệp một chủ sở hữu. Tuy nhiên, trên thực tế hệ thống pháp luật của một số quốc gia trong đó có Việt Nam đã quy định công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Mặc dù vậy, dấu hiệu sự liên kết vẫn là đặc điểm phổ biến, cơ bản của các loại hình công ty 4. 1.1.1.2 Sự ra đời của công ty và pháp luật về công ty Cũng như các hiện tượng kinh tế khác, công ty ra đời tồn tại và phát triển trong những điều kiện nhất định. Sự ra đời của công ty có những nguyên nhân thực tiễn phát sinh từ nhu cầu tất yếu khách quan c ủa đời sống xã hội. Những nguyên nhân đó là: - Trong xã hội, khi nền sản xuất hàng hoá đã phát triển đến mức độ nhất định, để mở mang kinh doanh các nhà kinh doanh cần phải có nhiều vốn. Để đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh doanh, buộc các nhà kinh doanh phải liên kết với nhau. Trên cơ sở vốn và sự tin tưởng lẫn nhau họ đã liên kết theo những hình thức nhất định và tạo ra mô hình tổ chức kinh doanh mới – công ty kinh doanh. - Mặt khác, khi sản xuất hàng hoá phát triển thì sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng khốc liệt hơn, những doanh nghiệp có vốn đầu tư thấp thường ở vào vị trí bất lợi trong quá trình c ạnh tranh. Vì vậy, các nhà kinh doanh phải liên kết với nhau thông qua hình thức góp vốn để thành lập một doanh nghiệp, tạo thế đứng vững chắc trên thị trường. - Hơn nữa, trong kinh doanh thường gặp rủi ro và để phân chia rủi ro cho nhiều người, các nhà kinh doanh cũng liên kết với nhau để nếu có rủi ro thì nhiều người cùng gánh chịu, điều này có lợi hơn so với doanh nghịêp một chủ. Khi hai hay nhiều người cùng góp vốn để thành lập một doanh nghiệp, để tiến hành hoạt động kinh doanh kiếm lời chia nhau thì có nghĩa là họ đã thành lập một công ty. Mô hình liên kết này tỏ ra phù hợp với kinh tế thị trường và hấp dẫn cho những nhà kinh doanh. Do vậy, công ty đã được các nhà kinh doanh tiếp thu và áp dụng. Như vậy, sự ra đời của công ty là quy luật khách 4 Trường Đại Học Luật Hà Nộ i, Giáo trình Luật thương mại - Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.111. GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân 5 SVTH: Nguyễn Cửu Trạng Quy chế pháp lý về vốn góp và quản lý vốn trong công ty cổ phần quan trong nền kinh tế thị trường. Công ty ra đời là kết quả của việc thực hiện nguyên tắc tự do kinh doanh, tự do liên kết và tự do lập hội. 5 Sự ra đời của các loại hình công ty kéo theo nhu cầu phải có luật lệ riêng về công ty để điều chỉnh sự phát sinh, phát triển và chấm dứt hoạt động của công ty. Vào khoảng thế kỉ thứ XIII, ở các thành phố lớn của một số nước châu Âu có điều kiện địa lý thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán, đã xuất hiện các công ty thương mại đối nhân (Công ty hợp danh 6 và Công ty hợp vốn đơn giản7) đầu tiên; sang đầu thế kỉ XVII các công ty đối vốn ra đời. Sự ra đời của các công ty kinh doanh kéo theo đó là nhu cầu cần phải có luật lệ về công ty. Lịch sử luật công ty gắn liền với các quy định về liên kết, hợp đồng và các quan hệ nợ nần trong luật La Mã. Luật công ty hiện đại ra đời cùng với thời kỳ tự do hoá tư sản. Các công ty hoạt động theo luật tư và chịu rất ít sự giám sát của nhà nước. Năm 1248, ở Pháp, việc thành lập công ty được coi là đặc lợi và thường chỉ được thực hiện đối với hoạt động kinh doanh nhằm mục tiêu vì lợi ích chung c ủa xã hội. Năm 1807, Pháp ban hành Bộ luật thương mại thể chế hoá quan điểm tự do kinh doanh, sau đó nhiều nước châu Âu đã ban hành luật thương mại. Mặc dù vậy, việc thành lập công ty vẫn cần giấy phép của nhà nước. Đến năm 1870, hầu hết các nước đều bãi bỏ thủ tục cấp giấy phép thành lập, nói chung công dân hoàn toàn có quyền tự do thành lập công ty và tự do hoạt động. Nhà nước chỉ đưa ra các quy định bắt buộc, các công ty có nghĩa vụ đăng ký theo các quy định của pháp luật, căn cứ vào kết quả thẩm định của các chuyên gia kiểm toán độc lập. Do sự tự do hoá kinh doanh nên đã xảy ra nhiều vụ lừa đảo trong công chúng, đặc biệt là trong chiến tranh, vì vậy đã có sự hoàn thiện luật lệ. Đức là một trong những nước xuất hiện công ty sớm. Năm 1870, ban hành Luật công ty cổ phần, sau đó được bổ sung sửa đổi bởi Bộ luật thương mại 1897, sau này thay thế bằng Luật công ty cổ phần. Từ năm 1937 đến 1965 ban hành Luật công ty cổ phần mới và hiện vẫn có giá trị pháp lý. Năm 1892 ban hành Luật công ty trách nhiệm hữu hạn. Hiện nay trên thế giới tồn tại hai hệ thống pháp luật công ty, hệ thống luật công ty lục địa (châu Âu) chịu ảnh hưởng luật của Đức và hệ thống luật công ty Anh - Mỹ. Tóm lại, luật công ty thuộc về luật tư, sự phát triển của nó gắn liền với lịch sử phát triển thương mại. Luật công ty và tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ phát sinh trực tiếp trong quá trình thành lập, hoạt động phát triển và kết thúc hoạt động của công ty. 5 Trường Đại Học Luật Hà Nộ i, Giáo trình Luật thương mại - Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.112. Công ty hợp danh là loại hình công ty trong đó các thành viên cùng nhau tiến hành hoạt động thương mại dưới một hãng chung và cùng liên đới ch ịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của công ty. 7 Công ty hợp vốn đơn giản là loại công ty có ít nhất một thành viên chịu trách nhiệm vô hạn (thành viên nhận vốn), còn những thành viên khác chỉ ch ịu trách nhiệm hữu hạn trong số vốn góp vào công ty (thành viên góp vốn). 6 GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân 6 SVTH: Nguyễn Cửu Trạng Quy chế pháp lý về vốn góp và quản lý vốn trong công ty cổ phần Ở Việt Nam, luật công ty ra đời muộn và chậm phát triển. Mặc dù hoạt động thương mại đã có từ lâu và trong lịch sử hoạt động thương mại được điều chỉnh bằng thông lệ thương mại. Do Việt Nam là thuộc địa của Pháp nên có thời kỳ luật thương mại của Pháp được áp dụng vào từng vùng lãnh thổ khác nhau. Luật lệ về công ty có thể được quy định lần đầu tại Việt Nam trong “Dân luật thi hành tại các toà Nam - án Bắc kỳ” năm 1931, trong đó có nói về “hội buôn”. Năm 1944, chính quyền Bảo Đại xây đựng Bộ luật thương mại trung phần. Năm 1972, chính quyền Sài Gòn ban hành Bộ luật thương mại Việt Nam cộng hoà. Từ sau năm 1954, đất nước chia làm hai miền, do đó có hai hệ thống pháp luật khác nhau, ở miền Bắc bắt đầu xây dựng nền kinh tế kế hoạch tập trung với hai thành phần kinh tế chủ yếu là quốc doanh và tập thể, do đó công ty không tồn tại và cũng không có luật công ty. Từ năm 1986, Đảng ta đề ra đường lối xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Với chính sách kinh tế đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty ra đời. Ngày 21/12/1990, Quốc hội đã thông qua Luật công ty. Qua hơn 8 năm áp dụng, bên cạnh những kết quả tích cực đạt được, Luật công ty dần dần bộc lộ nhiều điểm thiếu sót, chưa theo kịp sự phát triển của nền kinh tế. Ngày 12/06/1999, Quốc hội đã thông qua Luật doanh nghiệp thay thế cho Luật công ty. Luật này cũng đã được thay thế bởi Luật doanh nghiệp năm 2005 8. 1.1.2 Sự hình thành và phát triển của các loại hình doanh nghiệp ở Việ t Nam Sự phát triển của các doanh nghiệp phản ánh sự phát triển kinh tế, gắn liền với sự phát triển kinh tế và chịu ảnh huởng sâu sắc của sự phát triển kinh tế nói chung, đặc biệt là sự phát triển của môi trường kinh doanh, hình thức tổ chức xã hội cũng như môi trường kinh tế vĩ mô. Điều này được chứng minh một cách rõ nét trong khi nghiên c ứu về sự phát triển của các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam. Việt Nam là một nước nông nghiệp và người dân quê tha thiết với mảnh đất tổ tiên, không bao giờ chịu bỏ làng mạc trừ những trường hợp bất đắc dĩ. Do đó nông nghiệp tuy là một nghề cực nhọc nhưng người dân quê vốn dĩ có đức tính cần cù, chịu khó nên nước ta vẫn có truyền thống là một nước chuyên về nông nghiệp từ khi lập quốc cho đến thời kỳ cận đại. Từ quốc triều này cho đến quốc triều khác việc học chỉ chuyên về văn chương thi phú không đào luyện những người kinh doanh, cho nên thương mại, kinh doanh không được phát triển, nền kinh tế trong nước chủ yếu dựa vào nông nghiệp 9. Ban đầu việc mua bán chỉ diễn ra trong phạm vi tỉnh hay liên tỉnh hoặc cũng chỉ là phạm vi trong nước. Việc mua bán quốc tế chưa được người Việt Nam biết tới. 8 Trường Đại Học Luật Hà Nộ i, Giáo trình Luật thương mại - Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007, t r.115. Th.S Dương Kim Thế Nguyên, Giáo trình Luật thương mại- Phần 2 - Pháp luật về doanh nghiệp , Tủ sách ĐHCT, 2005, tr.16. 9 GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân 7 SVTH: Nguyễn Cửu Trạng Quy chế pháp lý về vốn góp và quản lý vốn trong công ty cổ phần Theo các tài liệu lịch sử thì người Trung Hoa là người đầu tiên đã thiết lập những quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các quốc gia lân cận, người Trung Hoa từ thế kỷ 12 đã bắt đầu mua bán với Việt Nam. Cuộc Nam Bắc phân tranh giữa nhà Nguyễn và nhà Trịnh là cơ hội thuận tiện cho Hoa kiều sinh sống buôn bán ở Việt Nam. Vào đầu thế kỷ XVII các thương thuyền nước ngoài đã tới lui tới hải cảng Thuận Hoá, Quảng Nam, Tân Châu. Cho tới thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai, những công ty thương mại kỹ nghệ ở Việt Nam còn rất hiếm mà những công ty nào tương đối quan trọng đều là những công ty của người Pháp. Như công ty điện lực, các nhà máy dệt Nam Định, mỏ than Hòn Gai… Như vậy, ở Việt Nam các doanh nghiệp đã có từ khá lâu, nhưng nó chỉ thực sự phát triển từ năm 1975 đến nay. Chính vì vậy trong phần này, quá trình phát triển của doanh nghiệp chỉ được tập trung nghiên cứu từ năm 1975 đến nay 10: Trong giai đoạn đầu của thời kỳ này (từ năm 1975 cho đến năm 1981), tư tưởng chủ đạo đối với việc quản lý các doanh nghiệp là cải tiến cơ chế quản lý các xí nghiệp quốc doanh, cải tiến cơ chế quản lý nhà nước đối với hợp tác xã để đưa dần chúng trở thành các xí nghiệp quốc doanh và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác. Từ năm 1981 đến năm 1990, cơ chế quản lý được cải cách và hoàn thiện theo hướng tăng dần quyền chủ động của các doanh nghiệp. Trong giai đoạn này, số luợng các doanh nghiệp cũng tiếp tục tăng nhanh. Riêng trong công nghiệp, số xí nghiệp đã tăng từ 1913 xí nghiệp (năm 1976) lên 2627 xí nghiệp (năm 1980) và 3220 xí nghiệp (năm 1986). Sau khi chủ trương đổi mới do đại hội VI của Đảng (năm 1986) đề ra, chính sách kinh tế nhiều thành phần được triển khai. Các xí nghiệp thuộc các thành phần kinh tế phi nhà nước không nhất thiết phải được cải tạo để trở thành xí nghiệp quốc doanh. Tuy nhiên, trong những năm này, ngoài sự tăng nhanh của các hộ tư nhân, số lượng các doanh nghiệp thuộc hình thức kinh tế khác chưa tăng lên nhiều do các nguyên nhân chủ yếu sau: - Các thủ tục thành lập các xí nghiệp mới chưa rõ; - Bản thân các cơ quan thừa hành trách nhiệm giải quyết các thủ tục thành lập xí nghiệp ở địa phương chưa chuyển biến kịp, chưa thích ứng kịp với sự thay đổi của chính sách; - Vốn tích luỹ trong dân cư và của các nhà đầu tư còn hạn chế; - Bản thân các nhà đầu tư còn thăm dò xem việc thực hiện các chính sách như thế nào và nhà nước thực hiện chính sách đổi mới tạm thời hay là lâu dài, ổn định. Vào những năm tiếp theo, đường lối đổi mới tiếp tục được Đảng và nhà nước ta giữ vững, đồng thời chú trọng và có nhiều sự cải cách tiến bộ hơn. Mở đầu là việc ban hành 10 Th.S Dương Kim Thế Nguyên, Giáo trình Luật thương mại- Phần 2 - Pháp luật về doanh nghiệp , Tủ sách ĐHCT, 2005, tr.16 GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân 8 SVTH: Nguyễn Cửu Trạng Quy chế pháp lý về vốn góp và quản lý vốn trong công ty cổ phần hai văn bản luật quan trọng liên quan tới các doanh nghiệp: Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty được ban hành vào ngày 21/12/1990. Hai luật này tạo ra cơ sở pháp lý cơ bản nhất và đầy đủ hơn cho sự ra đời của các doanh nghiệp không thuộc sở hữu Nhà nước, trong đó có loại hình công ty cổ phần. Một thời điểm quan trọng nữa cho sự cải tiến quản lý đối với doanh nghiệp Nhà nước là việc tổ chức đăng ký lại doanh nghiệp Nhà nước theo quyết định 388/HĐBT năm 1993 và chủ trương thí điểm thành lập các công ty cùng năm. Nhờ việc đăng ký lại, các cơ quan quản lý nhà nước đã nhận thấy rằng nhiều doanh nghiệp nhà nước thiếu cơ sở vững chắc để tồn tại và những doanh nghiệp này sau đó đã bị giải thể hoặc chuyển hướng hoạt động. Điều này làm cho số xí nghiệp quốc doanh bị giảm đi mạnh mẽ11 . Với tính thời sự và tầm quan trọng của công cuộc đổi mới kinh tế mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và quyết tâm thực hiện, thì những quy định trong Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân ban hành trước đây không còn thích hợp với nội dung tương ứng của một số luật khác có liên quan, đặc biệt là luật khuyến khích đầu tư trong nước, Bộ luật dân sự, Bộ luật thương mại…đồng thời nó cũng không còn phù hợp với tình hình kinh tế và xã hội của nước ta hiện nay. Ngày 21/12/1999, quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 5 đã thông qua toàn văn Luật doanh nghiệp trên cơ sở hợp nhất Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2000. Sau một số năm thi hành, để phù hợp với tình hình kinh tế trong nước và trên thế giới, đồng thời đáp ứng tốt hơn những nhu cầu và mong muốn của các nhà đầu tư. Ngày 29/11/2005, quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật doanh nghiệp 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 - có hiệu lực ngày 01/8/2009) với 10 chương và 172 điều12. 1.2 KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT PHÁP LÝ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN 1.2.1 Khái niệm và đặc điểm pháp lý của công ty cổ phần 1.2.1.1 Khái niệm công ty cổ phần Qua quá trình tìm hiểu về sự ra đời của công ty cổ phần, ta có thể khái quát về công ty cổ phần như sau: Công ty cổ phần là một doanh nghiệp. Trong đó, các thành viên cùng góp vốn, cùng hưởng lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình. Ngoài những đặc điểm nêu trên, công ty cổ phần còn có những nét riêng khác như: Công ty cổ phần là thể chế kinh doanh huy động vốn có cơ chế mở và linh hoạt nhất, có khả năng huy động vốn một cách rộng rãi nhất, khả năng tích tụ và tập 11 Th.S Dương Kim Thế Nguyên, Giáo trình Luật thương mạ i- Phần 2 - Pháp luật về doanh nghiệp , Tủ sách ĐHCT, 2005, tr.19. 12 Luật doanh nghiệp 2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006 thay thế Luật doanh nghiệp 1999. GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân 9 SVTH: Nguyễn Cửu Trạng Quy chế pháp lý về vốn góp và quản lý vốn trong công ty cổ phần trung vốn với quy mô lớn nhất. Công ty cổ phần xuất hiện và phát triển đã tạo điều kiện và môi trường thúc đẩy vốn luôn chuyển trong nền kinh tế thị trường, làm cho nguồn vốn được phân bổ và sử dụng hợp lý, hiệu quả hơn. Theo Luật Doanh nghiệp 2005 13 , ta có thể đưa ra khái niệm về công ty cổ phần như sau: Công ty cổ phần là doanh nghiệp; là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn. Vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; được hưởng lợi nhuận từ cổ phần và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn góp vào doanh nghiệp. Trong khái niệm trên ta thấy Luật doanh nghiệp định nghĩa “công ty cổ phần là doanh nghiệp”. Vậy công ty cổ phần trước hết phải là doanh nghiệp, tức là mang những đặc điểm chung của một doanh nghiệp. Theo khoản 1 Điều 4 Luật doanh nghiệp thì: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài s ản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. 1.2.1.2 Đặc điểm công ty cổ phần Từ góc độ pháp lý, ta có thể khái quát một số đặc điểm cơ bản của một công ty cổ phần như sau: Công ty cổ phần là một tổ chức có tƣ cách pháp nhân độc lập. Đây là loại hình công ty có tính tổ chức cao, hoàn thiện về vốn, hoạt động mang tính xã hội cao. Công ty cổ phần được xem là có tư cách pháp nhân khi hội đủ các điều kiện: Được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Công ty có tư cách pháp nhân nên có thể là nguyên đơn, bị đơn trong các vụ kiện 14. Như vậy, công ty cổ phần được thành lập theo pháp luật, được Nhà nước phê duyệt điều lệ hoạt động, có con dấu riêng, có quyền ký kết các hợp đồng kinh tế với các tổ chức và cá nhân khác trong và ngoài nước, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn điều lệ của công ty đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần và được phản ánh trong cổ phiếu. Một cổ phiếu có thể phản ánh mệnh giá của một hoặc nhiều cổ phần. Việc góp vốn vào công ty được thực hiện bằng cách mua cổ phần, mỗi cổ đông có thể mua nhiều cổ phần. Luật không hạn chế mỗi thành viên được mua tối đa bao nhiêu phần trăm vốn điều lệ nhưng các thành viên có thể thoả thuận trong điều lệ giới hạn tối đa số cổ phần mà một thành 13 14 Khoản 1 Điều 77 Luật doanh nghiệp 2005. Điều 84 Bộ luật Dân sự 2005. GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân 10 SVTH: Nguyễn Cửu Trạng Quy chế pháp lý về vốn góp và quản lý vốn trong công ty cổ phần viên có thể mua nhằm chống lại việc một thành viên nào đó có thể nắm quyền kiểm soát công ty 15.Đặc trưng quan trọng nhất của công ty cổ phần (cũng là tính chất quyết định để phân biệt với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh) đó là cổ phần. Cổ phần theo quy định của pháp luật có ý nghĩa như sau: Là phần vốn điều lệ của công ty, mỗi cổ phần phải thể hiện một giá trị thực tế tính bằng tiền gọi là mệnh giá cổ phiếu; cổ phần chứng minh tư cách thành viên cổ đông, cổ phần được thể hiện dưới hình thức giấy tờ gọi là cổ phiếu. Cổ phiếu là một loại chứng khoán được lưu thông chuyển nhượng tự do trên thị trường. Thông thường có 2 loại cổ phần: cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi 16 Cổ đông là ngƣời sở hữu ít nhất một cổ phần đã phát hành c ủa công ty cổ phần. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân sở hữu một hoặc nhiều cổ phần. Nếu ở công ty trách nhiệm hữu hạn, số lượng thành viên thành viên tối đa chỉ 50 thành viên thì ở công ty cổ phần số lượng cổ đông tối thiểu là 3 không hạn chế số lượng cổ đông tối đa. Theo quy định của Luật doanh nghiệp thì nếu tổ chức không thuộc trường hợp bị cấm góp vốn vào doanh nghiệp đều có thể trở thành cổ đông của công ty. Tuy nhiên, Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 của Chính phủ thì chỉ có tổ chức là pháp nhân mới có thể thành lập, góp vốn vào công ty 17 . Quy định này mô hình chung giới hạn những tổ chức được quyền mua cố phần 18 Tính tự do chuyển nhƣợng phần vốn góp phần vốn góp (cổ phần) của các thành viên đƣợc thể hiện dƣới hình thức cổ phiếu. Các cổ phiếu do công ty phát hành là một loại hàng hoá. Người có cổ phiếu có thể tự do chuyển nhượng theo quy định của pháp luật. Cổ phiếu (phổ thông hoặc ưu đãi) được phát hành lúc thành lập công ty và lúc công ty cần huy động thêm vốn, giá trị ban đầu của cổ phiếu được gọi là mệnh giá (đây chỉ là giá trị danh nghĩa). Quá trình kinh doanh tuỳ thuộc vào lợi nhuận và cách phân phối, mệnh giá sẽ tăng lên và ngày càng bỏ xa giá trị ban đầu. Chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng của công ty. Điều đó thể hiện: công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty, các thành viên công ty, chỉ chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn họ đã góp cho công ty (tức là đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu). Trong quá trình ho ạt động, công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán để huy động vốn. Điều này thể hiện khả năng huy động vốn lớn của công ty cổ phần. 15 Trường Đại Học Luật Hà Nộ i, Giáo trình Luật thương mại - Tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007,tr.157. Xem Điều 78, 81, 82, 83 Luật Doanh nghiệp 2005. 17 Điều 13 Nghị đ ịnh 102/ 2010/NĐ-CP ngày 01/ 10/ 2010 của Chính phủ. 18 Th.s Nguyễn Mai Hân, Bài giảng Luật thương mại 2, Khoa luật – Trường ĐH Cần Thơ, 2012, tr.61. 16 GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân 11 SVTH: Nguyễn Cửu Trạng Quy chế pháp lý về vốn góp và quản lý vốn trong công ty cổ phần 1.2.2 Những lợi thế và hạn chế của công ty cổ phần Cũng như hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần là một trong những hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh được ưa chuộng trên thế giới. So với các hình thức công ty hợp danh, công ty tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn thì hình thức công ty cổ phần có nhiều lợi thế hơn. Những lợi thế cơ bản của hình thức công ty cổ phần được thể hiện ở những điểm sau đây 19 : - Giống như các thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn, các cổ đông của công ty cổ phần chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Ưu điểm này làm cho hình thức công ty cổ phần rất hấp dẫn các nhà đầu tư. Bởi vì, việc đầu tư vào các công ty với trách nhiệm hữu hạn như vậy sẽ ít rủi ro hơn là đầu tư vào công ty trách nhiệm vô hạn. - Công ty cổ phần dễ huy động vốn trong công chúng, bằng cách phát hành cổ phiếu ra thị trường. Đây là một hình thức huy động vốn mà các công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh không được pháp luật Nhà nước cho phép. Nhờ ưu điểm này, các công ty cổ phần ít bị hạn chế về vốn kinh doanh. Do vậy, công ty có thể thực hiện được các dự án kinh doanh đòi hỏi nhiều vốn đầu tư. - Cổ phiếu trong các công ty cổ phần, đặc biệt là các công ty lớn có tỷ suất lợi nhuận cao có thể dễ dàng chuyển nhượng quyền sở hữu qua việc mua bán cổ phiếu trên thị trường mà không cần thay đổi tổ chức công ty. Cổ phiếu của các công ty có niêm yết trên thị trường chứng khoán thường có thể dễ dàng được chuyển đổi thành tiền. Sự dễ dàng chuyển đổi chủ sở hữu của các công ty cổ phần này, cho phép các công ty cổ phần tồn tại và phát triển lâu dài. - Một đặc điểm nổi bật của công ty cổ phần là sự tách biệt giữa chủ sở hữu với những người điều hành công ty. Do vậy, họ thường phải lựa chọn những người có đủ năng lực và kinh nghiệm chuyên môn thay mình quản lý sản xuất kinh doanh của công ty. Ngoài ra công ty cổ phần còn có những ưu điểm khác như: Được tổ chức, quản lý chặt chẽ, có thời gian hoạt động liên tục, dễ dàng mở rộng cũng như thu hẹp quy mô hoạt động... Tuy nhiên, hình thức công ty cổ phần cũng có những hạn chế nhất định, biểu hiện ở một số mặt như sau: - Chi phí cho việc thành lập và điều hành công ty thường tốn kém hơn so với các loại hình tổ chức khác như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh do nó có quy mô và được tổ chức, quản lý chặt chẽ hơn. Bên cạnh đó, do có quy mô lớn, cùng với việc 19 PGS. TS Nguyễn Năng Phúc, PGS. TS Nghiêm Văn Lợi, TS Nguyễn Ngọc Quang, Phân tích tài chính trong công ty cổ phần, Nxb Tài chính, 2005, tr.20. GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân 12 SVTH: Nguyễn Cửu Trạng Quy chế pháp lý về vốn góp và quản lý vốn trong công ty cổ phần có khả năng huy động vốn lớn lên mức thuế phải nộp cho Nhà nước cao hơn các loại hình công ty còn lại. - Khả năng bảo mật kinh doanh và tài chính trong các công ty cổ phần thường bị hạn chế và không giữ được bí mật kinh doanh. Điều đó là do hàng kỳ, hàng năm các công ty phải công khai và báo cáo với các cổ đông (theo nghị quyết và điều lệ của đại hội cổ đông) và theo quy định của pháp luật hiện hành về tình hình sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của công ty. - Phần lớn các cổ đông thường không có kiến thức về kinh doanh và không hiểu biết lẫn nhau (thường 6 tháng hoặc 1 năm mới đại hội một lần). Số luợng cổ đông lớn cũng dễ dẫn đến sự phân hoá kiểm soát và tranh trấp về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các nhóm cổ đông… 1.2.3 Vai trò, ý nghĩa của công ty cổ phần trong nền kinh tế Việt Nam Các loại hình doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng có những đóng góp đáng kể và có thể nói năm sau luôn đóng góp nhiều hơn năm trước. Tiềm năng và vị trí của nó rất quan trọng và to lớn trong nền kinh tế quốc gia. Chúng ta có thể nhận thấy vai trò đó của công ty cổ phần được thể hiện qua các mặt sau: - Góp phần làm tăng trưởng nền kinh tế. Vai trò to lớn của kinh tế ngoài quốc doanh chủ yếu bao gồm các loại hình doanh nghiệp được hình thành từ khi có sự đổi mới của Đảng trong đó không thể không kể tới vai trò to lớn của loại hình công ty cổ phần được thể hiện qua tính hiệu quả, tốc độ phát triển, khả năng cạnh tranh, đóng góp vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP), thu nhập quốc dân (GNP) và tạo công ăn việc làm. Tính từ năm 2000 đến hết năm 2005, cả nước đã có 23.128 công ty cổ phần được thành lập trong tổng số 160.569 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh thành lập mới 20.Và tính đến cuối năm 2008, số công ty cổ phân được thành lập đã tăng lên 36.586 trong tổng số 330.872 doanh nghiệp thành lập mới 21 .Tính từ năm 2000 đến hết năm 2008, tổng số vốn đăng ký của các doanh nghiệp dân doanh đạt hơn 785 nghìn tỷ đồng, lớn hơn số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong cùng kỳ, các loại hình doanh nghiệp ra đời và phát triển đã sử dụng gần 10 triệu lao động, đóng góp hơn 45% GDP và 32% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng trên 18%/năm, đóng góp khoảng 15% tổng thu Ngân sách Nhà nước 22. - Tạo công ăn việc làm, giải quyết thất nghiệp. Các loại hình doanh nghiệp nói chung, công ty cổ phần nói riêng đã có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế của đất nước, trong đó có phần tạo ra việc làm cho người lao động. Hiện nay nhu cầu về 20 Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM ) & Tổ chức Hợp tác kỹ thuật Đức (GTZ), 6 năm thi hành Luật doanh nghiệp – Những vấn đề nổi bật và bài học kinh nghiệm, Hà Nội, 2006. 21 Nguồn: Trung tâm Thông tin Doanh nghiệp (Cục Phát triển doanh nghiệp-Bộ Kế hoạch và Đầu tư), 2009. 22 Nguồn: Tổng cục thống kê. GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân 13 SVTH: Nguyễn Cửu Trạng Quy chế pháp lý về vốn góp và quản lý vốn trong công ty cổ phần việc làm ở nước ta lên tới trên 6 – 7 triệu người mỗi năm, chiếm khoảng 20- 30% lực lượng lao động xã hội. Cho đến ngày nay, không thể phủ nhận được những đóng góp rất lớn về mặt xã hội của công ty cổ phần, vì đã thu hút một phần lớn lực lượng lao động trong cả nước, điều này đã giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động nói riêng và góp phần giải quyết nạn thất nghiệp cho xã hội nói chung. Tính từ năm 2000 đến hết năm 2010, các công ty cổ phần đã tạo ra được trên 3 tỷ việc làm cho lao động23 . - Có khả năng tận dụng các nguồn lực xã hội. Dựa vào những ưu thế của mình, các công ty cổ phần đã nhanh chóng làm ăn có hiệu quả, tạo được niềm tin trong nhân dân cũng như đối với Nhà nước, đặc biệt trong thời kỳ cải cách, mọi thứ đều thuận lợi, dễ dàng nên đã có khả năng huy động vốn tự có cũng như nguồn vốn trong nhân dân, sử dụng một cách có hiệu quả các tiềm năng về nguồn vốn, lao động và nguyên vật liệu có sẵn tại chỗ. - Có đóng góp quan trọng vào quá trình chuyển dịch cơ cấu, công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Qua thực tế nhiều năm cho thấy các doanh nghiệp nói chung, công ty cổ phần nói riêng sau một thời gian thành lập và hoạt động đều có xu hướng phát triển bằng cách nâng cao năng lực sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường. Tận dụng nguyên vật liệu, máy móc thiết bị sẵn có và con người, những nhà đầu tư đều nhận thấy tới lúc phải nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm hàng hoá cho nên nhất thiết phải đổi mới trang thiết bị, cải tiến hệ thống dây chuyền sản xuất, đào tạo lại tay nghề hoặc tuyển dụng công nhân kỹ thuật cao kể cả năng lực, chuyên môn, trình độ quản lý….Sự thay đổi đến một mức độ nhất định sẽ dẫn đến đổi mới công nghệ, làm cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hay một khu vực nào đó, diễn ra không chỉ chiều sâu mà cả ở chiều rộng. Vì thế, vị thế của công ty cổ phần có ý nghĩa to lớn đối với đất nước cả về mặt kinh tế và xã hội. Về mặt kinh tế, sự ra đời và phát triển của công ty đã đưa nền kinh tế phát triển lên một vị thế mới, mở ra một xu thế cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp và giữa các thành phần kinh tế. Giúp đẩy nhanh sự phát triển đồng đều của nền kinh tế quốc gia do có sự đầu tư vào những ngành mang tính rủi ro cao, cần nhiều vốn mà Nhà nước không muốn hoặc chưa muốn cũng như không c ần tham gia vào. Đồng thời thông qua việc phát hành cổ phiếu, nó còn huy động được nhiều đồng tiền nhàn rỗi trong dân cư để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, tạo ra của cải, giải quyết công ăn việc làm, thu hút mọi nguồn lực không chỉ trong nước mà cả ở nước ngoài, tạo điều kiện đẩy nhanh sự phát triển kinh tế và thị trường chứng khoán của nước ta nói riêng và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung. Ngoài ra, với sự ra đời và phát triển của công ty cổ phần ở nước ta, nó đã phản ánh đường lối đổi mới, tầm nhìn xa, biết thích nghi nhưng 23 Nguồn: Tổng cục thống kê. GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân 14 SVTH: Nguyễn Cửu Trạng Quy chế pháp lý về vốn góp và quản lý vốn trong công ty cổ phần không bị “bão hoà” với nền kinh tế thị trường nói riêng và với sự phát triển của các nước trên thế giới nói chung đặc biệt là các nước tư bản của Đảng và Nhà nước ta là hoàn toàn đúng đắn và sáng suốt. 1.3 KHÁI QUÁT QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 1.3.1 Một số khái niệm về vốn Theo quan niệm truyền thống, có bốn khái niệm về vốn sau đây: Vốn pháp định; vốn điều lệ; vốn thuộc chủ sở hữu; vốn kinh doanh 24 : 1.3.1.1 Vốn điều lệ Vốn điều lệ là số vốn do tất cả các thành viên góp và được ghi nhận vào điều lệ công ty; Luật doanh nghiệp còn quy định “vốn có quyền biểu quyết” là phần vốn góp, theo đó người sở hữu có quyền biểu quyết về những vấn đề được Hội đồng thành viên hoặc Đại hội đồng cổ đông quyết định; vốn này trên thực tế là nhằm bảo vệ lợi ích của các thành viên hoặc cổ đông là những người sở hữu chúng. Tỷ lệ vốn do các thành viên góp vào vốn điều lệ là cơ sở phân chia quyền lực giữa các thành viên đối với việc quản lý công ty và cũng là cơ sở để phân chia lãi của công ty. Khi mới thành lập, công ty cổ phần có số vốn điều lệ có thể cao hơn số vốn thực tế của công ty vì lúc đó số cổ phần dự định phát hành có thể chưa bán hết 25. Theo quy định tại Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010: Vốn điều lệ của công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá số cổ phần đã phát hành. Số cổ phần đã phát hành là số cổ phần mà các cổ đông đã thanh toán đủ cho công ty. Tại thời điểm đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp, vốn điều lệ của công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá các cổ phần do các cổ đông sáng lập và các cổ đông phổ thông khác đã đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty; số cổ phần này phải được thanh toán đủ trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp26 . 1.3.1.2 Vốn pháp định Là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành lập doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là mức vốn điều lệ của công ty không được thấp hơn vốn pháp định. Vốn pháp định khác cơ bản so với vốn điều lệ ở chỗ vốn pháp định được coi là một điều kiện về tài chính để thành lập doanh nghiệp. Nhà đầu tư phải có đủ một số tiền nhất định mới được kinh doanh ngành nghề đó. Theo quy định của Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty trước đây, tất cả các doanh nghiệp khi thành lập đều phải có mức vốn điều lệ không được thấp hơn mức vốn pháp định. 24 Th.S Dương Kim Thế Nguyên, Giáo trình Luật thương mại - Phần 2 - Pháp luật về doanh nghiệp , Tủ sách ĐHCT, 2005, tr.33. 25 Th.S Dương Kim Thế Nguyên, Giáo trình Luật thương mại - Phần 2 - Pháp luật về doanh nghiệp , Tủ sách ĐHCT, 2005, tr.33. 26 Khoản 4 Điều 6 Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010. GVHD: Th.s Nguyễn Mai Hân 15 SVTH: Nguyễn Cửu Trạng
- Xem thêm -