Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam

  • Số trang: 7 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

LỜI NÓI ĐẦU Nhà nước ta là Nhà nước của dân – do dân và vì dân. Trong bộ máy nhà nước ta, Quốc hội chiếm vị trí đặc biệt quan trọng. Thông qua Quốc hội, nhân dân có thể thực hiện ý trí của mình. Khác với nghị viện tư sản, Quốc hội nước ta đại diện cho ý trí, lợi ích của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là một tổ chức chính quyền thể hiện rất rõ tính chất đại diện và tính chất quần chúng. Điều đó được thể hiện là các đại biểu Quốc hội là những công nhân, nông dân, trí thức và những người lao động ưu tú thuộc mọi dân tộc trong cả nước được nhân dân tín nhiệm bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân, họ có mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng, nắm vững tâm tư nguyện vọng của quần chúng, do đó quyết định mọi vấn đề được sát và hợp với quần chúng đồng thời có điều kiện thuận lợi để vận động quần chúng thi hành tốt các quy định của Nhà nước. Để có thể hiểu thêm về vấn đề này, em xin đi giải quyết đề tài “ Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Với trình độ kiến thức còn hạn hẹp, nên trong bài làm còn có sai sót. Rất mong thầy cô sửa chữa để giúp em hoàn thiện kiến thức hơn. Em xin chân thành cảm ơn! NỘI DUNG I – Quốc hội – cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất Là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, Quốc hội thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước thống nhất. Tính quyền lực Nhà nước của Quốc hội thể hiện ở thẩm quyền của Quốc hội và được cụ thể hóa thành các chức năng và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội được quy định trong Hiến pháp. Trong Hiến pháp 1946, thẩm quyền của Quốc hội được quy định tại Điều 23 “Nghị viện nhân dân giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài”. Tại Điều 22 có ghi “Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Ngoài ra tại Điều 25 còn quy định “Nghị viện không chỉ thay mặt cho địa phương mình mà còn thay mặt cho toàn thể nhân dân”. Đến Hiến pháp 1959 đã khẳng định “Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Điều 44 có quy định “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp của nước Việt Nam daanchur cộng hòa” đây là một bước phát triển so với Hiến pháp 1946 khi đã khẳng định Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp. Đến Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 vai trò của Quốc hội đã được tăng cường và phát triển hơn nữa trong việc quy định cơ cấu tổ chức Nhà nước ta. Ở Hiến pháp 1980 có quy định Quốc hội là “cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất” của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và có điểm mới hơn của Hiến pháp 1980 so với 2 bản Hiến pháp trước là đã quy định chức năng đại diện của Quốc hội, theo đó “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân”. Điểm mới nữa là đã mở rộng phạm vi thẩm quyền của Quốc hội trong việc thực hiện chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Theo Điều 82 của Hiến pháp 1980 “Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, những mục tiêu phát triển kinh tế và văn hóa, những quy tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quyền hạn xã hội và hoạt động của công dân”. Như vậy, về mặt pháp lý, thẩm quyền của Quốc hội trong lĩnh vực này là rất rộng và được quy định khá rõ ràng hơn so với Hiến pháp 1959. Ngoài ra ở Hiến pháp 1980 đã xác định tính chất và đặc điểm chức năng giám sát của Quốc hội là “giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”. Quy định này là căn cứ pháp lý quan trọng để phân định rõ ràng hoạt động giám sát của Quốc hội với các hình thức giám sát khác việc thi hành pháp luật ở nước ta. Và ở Hiến pháp 1992 đã tiếp tục khẳng định vị trí của Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Với 3 chức năng cơ bản của Quốc hội là lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của đất nước. Và ở Hiến pháp 1992 cũng đã có điểm sửa đổi quan trọng là bãi bỏ quy định Quốc hội có thể định cho mình những nhiệm vụ và quyền hạn khi xét thấy cần thiết như ở Hiến pháp 1980. Đến Hiến pháp 1992 đã sửa đổi, bổ sung năm 2001, đã có một số quy định mới điều chỉnh nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội nhằm khẳng định vai trò của Quốc hội trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Cụ thể ở Điều 84 Hiến pháp 1992 đã sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 quy định “Quốc hội phân bổ ngân sách Trung ương; quyết định chính sách tôn giáo của Nhà nước; phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về danh sách thành viên Hội đồng Quốc phòng và an ninh; bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký”. Vai trò của Quốc hội còn được tăng cường trong việc xem xét và quyết định các vấn đề về nhân sự cấp cao. Trước năm 2001, Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 đều giao cho cơ quan thường trực Quốc hội là Hội đồng Nhà nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội có quyền phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các nhân viên khác của Chính phủ và báo cáo với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất của Quốc hội. Nhưng tại Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung (2001) đã bãi bỏ thầm quyền này của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Hiện nay, Nhà nước ta đang phấn đấu thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân – do dân – vì dân. Quốc hội nước ta được tổ chức theo cơ cấu 1 viện nhằm đảm bảo Quốc hội là nơi tập trung, thống nhất ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, đảm bảo quyền lực Nhà nước thống nhất, thực quyền không phân chia và chia cắt ngay trong bản thân Quốc hội. II – Các chức năng cơ bản của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội nước ta có ba chức năng cơ bản là: lập hiến, lập pháp; quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. 1. Chức năng lập hiến, lập pháp. Quốc hội là cơ quan Nhà nước duy nhất ở nước ta do cử tri cả nước bầu ra, là cơ quan tập trung trí tuệ toàn dân. Quốc hội bao gồm các đại biểu cho các tầng lớp nhân dân, các vùng miền…. Và 1 trong những chức năng rất quan trọng của Quốc hội là việc lập hiến, lập pháp thông qua Hiến pháp, luật. Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước, quy định các vấn đề quan trọng nhất về quyền lực Nhà nước và cách thức tổ chức quyền lực Nhà nước, về chế độ chính trị, chế độ kinh tế, chế độ văn hóa – xã hội, về cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước, về quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân…. Hiến pháp và luật thể hiện đường lối cơ bản và những chủ trương lớn của Đảng được Nhà nước thể chế hóa và có hiệu lực thi hành trên toàn lãnh thổ nước ta. Ở Hiến pháp 1959, lần đầu tiên quy định khá cụ thể, chi tiết chức năng lập pháp của Quốc hội: Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (Điều 44). Các đạo luật, nghị quyết của Quốc hội phải được quá nửa tổng số đại biểu biểu quyết tán thành, trừ việc thông qua ban hành Hiến pháp phải có ít nhất 2/3 tổng số đại biểu biểu quyết tán thành. Hơn nữa, tại Điều 50 của Hiến pháp 1959 còn quy định: Quốc hội có quyền làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, làm luật và sửa đổi luật. Đến Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 vẫn tiếp tục khẳng định vai trò này của Quốc hội (chi tiết tại Khoản 1 và 2 Điều 83 Hiến pháp 1980; Khoản 1 Điều 84 Hiến pháp 1992). Các văn bản quy phạm pháp luật khác do các cơ quan Nhà nước ban hành phải căn cứ vào Hiến pháp, luật, Nghị quyết của Quốc hội và không được trái với tinh thần, nội dung của Hiến pháp, luật và Nghị quyết của Quốc hội. Qua 4 bản Hiến pháp, Quốc hội luôn được xác định là cơ quan có chức năng lập pháp. Quyền lập hiến, lập pháp của Quốc hội xuất phát từ vị trí và tính chất của Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. 2. Chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, quy định những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Những vấn đề quan trọng của đất nước do Quốc hội quyết định gồm:  Về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước ở Trung ương: Quốc hội bầu, miễn nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội, thành lập Chính phủ, bầu Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định thành lập, bãi bỏ các bộ và các cơ quan ngang bộ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương….  Về lĩnh vực kinh tế - ngân sách: Quốc hội quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bố ngân sách trung ương; chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo….  Về vấn đề chiến tranh và hòa bình: Quốc hội quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia.  Về đối ngoại: Quốc hội phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên theo tờ trình của Chủ tịch nước. 3. Chức năng giám sát của Quốc hội. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động của Nhà nước đúng với pháp luật vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đây là một chức năng cơ bản, quyền đặc biệt của Quốc hội, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Hoạt động giám sát của Quốc hội xuất phát từ thực tế yêu cầu đảm bảo cho Hiến pháp, luật, Nghị quyết của Quốc hội ban hành được thực hiện trên thực tế, đánh giá hiệu quả hoạt động của cơ quan hành pháp trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình. Quyền giám sát của Quốc hội mang tính quyền lực Nhà nước cao nhất. Quốc hội có thể tiến hành giám sát ở mức cao nhất hoạt động của bộ máy Nhà nước như hoạt động quản lý Nhà nước, phán quyết những vấn đề quan trọng nhất trong hoạt động của bộ máy Nhà nước. Hoạt động giám sát của Quốc hội mang tính tổng quát bao trùm, mang tính đính hướng nhất định đối với những vấn đề thuộc tầm vĩ mô, những vấn đề mà nhân dân cả nước quan tâm. Khi tiến hành giám sát Quốc hội có thể áp dụng những biện pháp mang tính quyền lực Nhà nước, hành chính Nhà nước cao nhất để xử lý những vấn đề nảy sinh trong giám sát và trách nhiệm pháp lý đối với người bị giám sát. Nguyên tắc tổ chức quyền lực Nhà nước của mỗi kiểu Nhà nước, mỗi quốc gia là cơ sở quyết định tính chất nội dung, phạm vi hoạt động giám sát. Trong các Nhà nước theo nguyên tắc phân quyền, Quốc hội chỉ là một nhánh quyền lực như các nhành khác nên quyền giám sát của Quốc hội bị hạn chế. Ở các quốc gia này Quốc hội chỉ giám sát hoạt động của Chính phủ, không giám sát đi sâu vào hoạt động tư pháp. Quốc hội một số nước không xem xét tính hợp hiến của các đạo luật, mà quyền này thuộc về Tòa án. Ở nước ta, quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp – hành pháp và tư pháp (Điều 2 – Hiến pháp 1992 sửa đổi). Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân và nó bắt nguồn từ nhân dân. Cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất là Quốc hội. Điều 83 – Hiến pháp 1992 quy định “Quốc hội thực hiện quyền giám sát toàn bộ hoạt động của Nhà nước”. Do vậy Quốc hội có quyền giám sát toàn bộ hoạt động của Nhà nước, vì nếu Quốc hội chỉ dừng ở việc ban hành Hiến pháp, các đạo luật và các nghị quyết mà không tiến hành giám sát việc tuân thủ các quy định do mình ban hành thì sẽ không phản ánh đúng bản chất Nhà nước ta. Với chức năng giám sát tối cao của mình, Quốc hội có vai trò và trách nhiệm rất lớn trong việc bảo đảm cho Hiến pháp và pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh, thống nhất trên cả nước, bảo đảm bộ máy Nhà nước ngày càng hoàn thiện hoạt động có hiệu quả hơn. Nói tóm lại, với 3 chức năng trên Quốc hội đã thể hiện được vai trò là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của mình. KẾT LUẬN Qua đây 1 lần nữa chúng ta thấy được vị trí, vai trò quan trọng của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hội nước ta đã và đang tự hoàn thiện bản thân qua từng kỳ họp để làm tốt hơn nữa nhiệm vụ được nhân dân giao phó. Cơ cấu của Quốc hội cũng ngày càng được mở rộng về số lượng đại biểu và có tính ổn định. Nói tóm lại qua 12 kỳ họp của mình, Quốc hội nước ta đã làm tốt nhiệm vụ của mình, xứng đáng là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Xem thêm -