Quản trị rủi ro thanh khoản trong các ngân hàng thương mại việt nam dựa vào chỉ tiêu hệ số tiền nóng

  • Số trang: 33 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 11 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG Tiểu luận QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG CÁC NHTM VN DỰA VÀO CHỈ TIÊU “HỆ SỐ TIỀN NÓNG” 1 Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG MỞ ĐẦU Thanh khoản và quản tr ị rủi ro thanh khoản là yếu tố quyết định sự an toàn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM . Trong tình hình thực tế hiện nay, nhiều ngân hàng đang phải đối mặt với tình trạng thanh khoản căng thẳng, nền kinh tế thế giới chưa qua khỏi cơn khủng hoảng, các NHTM phải cạnh tranh khốc liệt về thu hút tiền gử i và tìm kiếm nguồn tài trợ khác. Khả năng thanh khoản không hợp lý sẽ dẫn đến tình trạng bất ổn về tài chính. Cùng với sự phát triển của thị trường tài chính, cơ hội và rủi ro trong thanh khoản của các NHTM cũng gia tăng tương ứng. Do đó quản trị thanh khoản là vấn đề mà các NHTM rất quan tâm. Vì vậy, nhóm em làm tiểu luận này với nội dung: QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG CÁC NHTM VN DỰA VÀO CHỈ TIÊU “HỆ SỐ TIỀN NÓNG” Nội dung bài tiểu luân gồm 3 phần chính : PHẦN I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ PHẦN II : PHÂN TÍCH VÀ QUY LUẬT VẬN ĐỘNG CỦA CHỈ TIÊU “ HỆ SỐ TIỀN NÓNG” PHẦN III : ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ AN TOÀN CỦA CHỈ TIÊU “ HỆ SỐ TIỀN NÓNG” 2 Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ I. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TI ỀN TỆ 1. Khái niệm thị trường tiền tệ: “Thị trường tiền tệ là thị trường mua bán các loại giấy tờ có giá ngắn hạn có kỳ hạn dưới một năm, là nơi Đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn cho nền kinh tế” (Sử Đình Thành và Vũ Thị Minh Hằng, 2006: 488). Ở nước ta, thị trường tiền tệ mới hình thành, công cụ giao dịch trên thị trường tiền tệ còn ít nên luật pháp cho phép các giấy tờ có giá dài hạn Được phép giao dịch trên thị trường tiền tệ. Theo Điều 9, luật sửa Đổi một số Điều của Luật Ngân hàng Nhà nước (2003) Định nghĩa: “Thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn, nơi mua, bán ngắn hạn các giấy t ờ có giá, bao gồm tín phiếu kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác”. 2. Các loại thị trường tiền tệ: Thị trường tiền tệ được phân loại căn cứ vào cách thức tổ chức hoặc loại công cụ. 2.1. Phân loại theo cơ cấu tổ chức: Thị trường tiền tệ bao gồm: Thị trường tiền tệ cổ Điển: là thị trường vay vốn ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng (TCTD) Đặt dưới sự quản lý của ngân hàng trung ương (NHTW). Hàng ngày, tại đây hình thành lãi suất chỉ đạo thị trường tiền tệ, như: lãi suất LIBOR trên thị trường tiền tệ London (London Inter Banking Offered rate), lãi suất PIBOR trên thị trường tiền tệ Paris (Paris Inter Banking Offered rate), SIBOR (thị trường tiền tệ Singapore)… Thị trường tiền tệ mới: Đây là thị trường các trái phiếu ngắn hạn, cơ cấu của nó gồm 2 cấp: Thị trường tiền tệ sơ cấp: là thị trường tiền tệ chuyên phát hành các loại trái phiếu ngắn hạn lần đầu. 3 Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG Thị trường tiền tệ thứ cấp: là thị trường tiền tệ tổ chức mua bán lại các trái phiếu đã phát hành ở thị trường sơ cấp. Thị trường mở (Openmarket operation): là thị trường mua bán các loại chứng khoán nhà nước ngắn hạn như: tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ,... nhằm điều tiết cung cầu tiền tệ trong nền kinh tế. Tức thông qua thị trường mở, NHTW có thể làm cho “tiền dự trữ” của các ngân hàng thương mại (viết tắt NHTM) tăng lên hoặc giảm xuống, từ đó tác động đến khả năng cung cấp tín dụng của NHTM làm ảnh hưởng đến khối lượng tiền tệ của nền kinh tế. 2.2. Phân loại theo đối tượng tham gia: Thị trường tiền tệ bao gồm: Thị trường tín dụng ngắn hạn giữa các NHTM (hay thị trường liên ngân hàng – Interbank): Thị trường này dưới sự điều hành của NHTW nhằm mục đích điều tiết vốn trong hệ thống NHTM đồng thời tạo điều kiện cho NHTW thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng. Thị trường các công cụ nợ ngắn hạn như: tín phiếu kho bạc, thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi, các khế ước cho vay, … bao gồm cả thị trường phát hành và thị trường lưu thông, thị trường này biểu hiện cho sự phát triển thị trường tiền tệ. Thị trường hối đoái: là thị trường giao dịch các loại ngọai tệ và các phương tiện thanh tóan có giá trị ngoại tệ, là một bộ phận quan trọng trong kết cấu thị trường tiền tệ. Thị trường ngọai hối mang đặc trưng là tính quốc tế cao, hoạt động của nó đáp ứng những nhu cầu về thương mại, đầu tư ngắn hạn trên bình diện quốc tế, đặc biệt là tạo điều kiện can thiệp của NHTW nhằm đảm bảo sức mua đối ngoại của đồng tiền quốc gia. Công cụ hoạt Động thị trường hối đoái, gồm: hợp đồng g iao ngay (Spot), hợp đồng hoán đổi (Swap), hợp đồng kỳ hạn (Forward), hợp đồng quyền chọn (Option)…. nhờ đó đáp ứng được phần lớn nhu cầu ngoại tệ cho các đơn vị, tổ chức và làm cho thị trường ngoại hối trở nên nhộn nhịp hơn. 3. Các chủ thể tham gia thị trường tiền tệ: Trong quá trình phát triển của thị trường tiền tệ, thị trường liên ngân hàng là hình thức sơ khai của thị trường tiền tệ hoạt động với mục đích cân đối, 4 Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG điều hòa vốn giữa các NHTM với các TCTD nhằm khai thông khả năng thanh toán cho các TCTD. Vì vậy, nếu xét theo chiều ngang, thị trường tiền tệ biểu hiện quan hệ điều tiết vốn giữa các NHTM, các TCTD. Còn nếu xét theo chiều dọc, thị trường tiền tệ biểu hiện mối quan hệ giữa NHTW và NHT M qua con đường tái chiết khấu, trong đó lãi suất tái chiết khấu là một công cụ linh hoạt để NHTW điều tiết vĩ mô nền kinh t ế trong quá trình thực thi chính sách tiền tệ. Ngày nay, quy mô họat động của thị trường tiền tệ được mở rộng về phạm vi điều tiết vốn, theo đó các chủ thể tham gia trên thị trường đa dạng hơn. Các chủ thể tham gia trên thị trường tiền tệ bao gồm: Chủ thể cung ứng nguồn vốn như : NHTW, NHTM, các TCTD khác… Việc Đầu tư nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường này có độ rủi ro thấp, do trong thời gian ngắn giá cả chứng khoán biến động không đáng kể. Chủ thể có nhu cầu về vốn như: NHTM, các đơn vị kinh tế khác, kho bạc nhà nước... Thông qua thị trường tiền tệ, các chủ thể này có thể thu hút được nguồn vốn ngắn hạn dễ dàng và chi phí thấp. Chủ thể trung gian môi giới, vừa đi vay và vừa cho vay như: NHTM, Công ty chuyên môi giới. 4. Các nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ: 4.1. Nghiệp vụ vay và cho vay vốn ngắn hạn: Nghiệp vụ này diễn ra chủ yếu giữa các NHTM, xuất phát từ họat động kinh do anh tiền tệ, tại một thời điểm nhất định một số NHTM tạm th ời thừa vốn trong khi đó một số NHTM khác rơi vào tình trạng thiếu vốn tạm thời. Do đó để đảm bảo cho khả năng thanh toán, quan hệ điều tiết vốn giữa các NHTM diễn ra thông qua các hình thức sau: Cho vay bằng tiền mặt: Khi NHTM thiếu hụt vốn tạm thời, có thể đi vay tại một NHTM khác đang thừa vốn tạm thời tại thời điểm đó để đảm bảo khả năng thanh toán. Giao dịch liên ngân hàng chủ yếu dưới hình thức tín chấp hoặc đảm bảo bằng số dư tiền gửi đối ứng tại ngân hàng cho vay…; Thời hạn cho vay rất ngắn: hàng ngày (qua Đêm), Định kỳ 1 tuần, 2 tuần, tháng… 5 Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG Cho vay dưới hình thức cầm cố hoặc chiết khấu các chứng từ có giá: Khi có nhu cầu lớn về vốn, các NHTM đã vay các TCTD khác nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu thì NHTW có thể hỗ trợ bằng các nghiệp vụ sau: Tái chiết khấu chứng từ có giá: NHTW sẽ nhận chiết khấu lại những chứng từ có giá mà trước đây NHTM đã chiết khấu cho khách hàng. Tái chiết khấu: NHTW sẽ cho NHTM vay vốn trên cơ sở cầm cố các chứng từ có giá mà trước đây NHTM đã nhận cầm cố từ khách hàng. 4.2. Nghiệp vụ thị trường mở (mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn): Là hoạt động ngân hàng trung ương mua vào hoặc bán ra những giấy tờ có giá của chính phủ trên thị trường. Thông qua hoạt động mua bán giấy tờ có giá, ngân hàng trung ương tác động trực tiếp đến nguồn vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng, từ đó điều tiết lượng cung ứng tiền tệ và tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường. Công cụ chủ yếu của nghiệp vụ n ày là các loại trái ph iếu ngắn hạn được phát hành từ thị trường tiền tệ sơ cấp và bán lại ở thị trường thứ cấp. Nghiệp vụ này phát sinh trong trường hợp một số chủ thể kinh tế cần bổ sung vốn bằng tiền của mình nên phát hành một lượng trái ph iếu ngắn hạn ra thị trường, trong khi một số chủ thế khác đang muốn sinh lợi cho khoản vốn nhàn rỗi của mình bằng con đường kinh doanh trên thị trường tiền tệ, họ sẽ mua bán trái phiếu ngắn hạn. Ở nghiệp vụ này, ngoài trái ph iếu ngắn hạn thì còn có kỳ phiếu thương mại, khế ước nợ, kỳ phiếu ngân hàng, các lọai thư tín dụng…. Và đặc biệt là họat động của thị trường mở - thực hiện việc mua bán ngắn hạn dưới 1 năm các giấy tờ có giá trị như tín phiếu, trái ph iếu kho bạc. Thông qua nghiệp vụ này, NHTW điều tiết cung cầu về tiền tệ: tùy theo mục tiêu từng thời kỳ mà NHTW bơm tiền hay rút bớt tiền ra khỏi lưu thông. Nghiệp vụ thị trường mở của các ngân hàng trung ương chủ yếu có hai loại: mua bán giấy tờ có giá dài hạn và mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn. Ở Mỹ, nghiệp vụ thị trường mở chủ yếu được thực hiện đối với trái phiếu chính phủ dài hạn. Ở Việt nam, theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt nam, nghiệp vụ thị trường mở chỉ là việc mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác . 6 Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG II. MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ TẠI VIỆT NAM THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ Thị trường tín dụng Thị trường liên ngân hàng Thị trường nội tệ liên ngân hàng Thị trường giấy tờ có giá ngắn hạn Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng 1.PHƯƠNG THỨC GIAO DỊCH: Trên thị trường tín dụng: nghiệp vụ hoat động vốn thể hiện qua các hoạt động bên tài sản nợ tạo nên nguồn vốn của các ngân hàng mà chủ yếu là các loại tiền gửi. Bên cạnh nguồn vốn tiền gử i, các ngân hàng còn xúc tiến phát hành 1 số giấy tờ có gía như các loại kỳ ph iếu nội t ệ và ngoại tệ. Đây là công cụ có lãi suất cao hơn lãi suất t iết kiệm và được phép chuyển nhượng, vì vậy tạo sự linh hoạt cho công cụ và tăng tính hấp dẫn đối với khách hàng. Bên phía sử dụng vốn, hay còn gọi là các nghiệp vụ bên tài sản có bao gồm các hoạt động “đầu ra” của ngân hàng thương mại, nhưng chủ yếu là nghiệp vụ cho vay đem lại hơn 90% thu nhập cho các ngân hàng. Trên thị trường liên ngân hàng: hoạt động của thị trường diễn ra theo hình thức các ngân hàng trực tiếp vay mượn lẫn nhau không thực hiện thông qua NHNN. Các Ngân hàng thỏa thuận phương thức giao dịch, thời hạn, lãi suất cũng như điều kiện bảo đảm tiền vay dựa trên mức độ tín nhiệm và có sự tham gia tích cực của NHTM cổ phần, Ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Đến nay, phần lớn các giao dịch liên ngân hàng được thực hiện dưới các hình thức tín chấp, bảo đảm bằng số dư tiền gử i đối ứng tại ngân hàng cho vay; thậm chí một số ngân hàng đã thực hiện quan hệ vay mượn dưới hình thức gửi tiền lẫn nhau. 7 Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG Trên thị trường giấy tờ có g iá ngắn hạn: tín phiếu kho bạc có các loại kì hạn 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và 9 tháng do kho bạc phát hành thông qua ngân hàng làm đại lý đã được đưa ra đấu giá công khai. Lãi suất áp dụng tùy thuộc kết quả từng đợt phát hành. Hình thức phát hành có thể là tín phiếu loại ghi sổ, các chứng chỉ vô danh hoặc các chứng chỉ đích danh. Phương thức phát hành là chiết khấu, tức bán thấp hơn mệnh giá và thanh toán theo mệnh giá khi đến hạn. Hiện nay, Việt nam theo Đuổi mô hình thị trường tiền tệ mới- thị trường của các CTCG ngắn hạn 2. TÌNH HÌNH GIAO DỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG TI ỀN TỆ VI ỆT NAM 2.1. Thị trường các giao dịch của NHNN NHNN tham gia giao dịch với các TCTD thông qua các nghiệp vụ cơ bản sau: Bảng 1. Các nghiệp vụ TTTT Việt Nam Số TT Tên nghiệp vụ Năm thực hiện Đặc Mục Đích Điểm về giao dịch Đặc Điểm của lãi suất NHNN chủ Nghiệp vụ thị 1 trường mở (OMO) 7/2000 Là một công cụ được động Đề NHNN sử dụng xuất theo để thực thi CSTT quốc gia. 8 Do thị trường quyết yêu cầu điều định. hành CSTT. Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG NHNN làm Đại lý cho Bộ Tài chính trong việc phát Nghiệp vụ 2 đấu thầu TPCP 6/1994 hành và thanh toán trái phiếu (tín phiếu Kho bạc và NHNN chủ động đề Chỉ đạo hoặc do trái phiếu ngoại tệ) theo xuất theo thị phương thức bán buôn yêu cầu của trường với các thành viên trên thị trường sơ cấp Bộ Tài chính. quyết Định. (thông qua đấu thầu). Để khắc phục tình trạng các Nghiệp vụ TCTD gặp khó khăn về vốn hoán Đổi 3 ngoại tệ (SWAP) 7/2001 thấu chi và cho vay qua 10/2002 đêm cầm cố và chiết khấu GTCG Đề xuất khi khi nguồn vốn ngoại tệ dư thừa. có nhu cầu. trong ngày trong thanh toán Điện tử liên ngân hàng/Tất toán khoản thấu chi tại thời Điểm cuối ngày làm việc. Nghiệp vụ 5 khả dụng bằng nội tệ trong Do NHNN ấn Định. Bù Đắp thiếu hụt tạm thời Nghiệp vụ 4 TCTD 2003 TCTD/NHN Do N chủ Động NHNN thực hiện. Tái cấp vốn cho TCTD trên TCTD Đề cơ sở cầm cố hoặc chiết xuất khi có khấu GTCG. nhu cầu. Dưới Đây là 1 số nghiệp vụ thị trường cơ bản: a. Nghiệp vụ thị trường mở - Thành viên tham gia OMO 9 ấn Định. Do NHNN ấn định Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG OMO bắt đầu hoạt động vào tháng 7/2000, ban đầu có 21 TCTD tham gia. Số lượng thành viên OMO tăng dần qua các năm, nhưng với tốc độ chậm, chỉ 1-2 thành viên mỗi năm. Đến ngày 31/12/2005 ã có 30 TCTD được công nhận là thành viên tham gia OMO, năm 2006 và 2007, con số này tăng lên và duy trì ở mức 35 thành viên. Năm 2008, số lượng thành viên tham gia OMO là 56 thành viên, tăng thêm 21 thành viên và tăng 27,3% so với năm 2007, đến 31/3/2009 đã có 58 thành viên. Lí do có việc tăng mạnh như vậy là các TCTD đã nhận thức đầy đủ hơn về tầm quan trọng của kênh cung ứng vốn thông qua OMO của NHNN trong điều kiện CSTT được điều hành thắt chặt trong nửa đầu năm 2008. - Số lượng các phiên giao dịch trên thị trường mở Từ khi bắt đầu triển khai ngh iệp vụ này, tần suất các phiên giao dịch trên OMO được tổ chức 10 ngày/phiên và ngày giao dịch được tính theo ngày làm việc.Tuy nhiên, từ phiên thứ 14 ngày 29/11/2000, nghiệp vụ này được rút ngắn còn 1 tuần/phiên vào thứ 4 hàng tuần. Từ năm 2001, Ban Điều hành OMO đã tăng định kỳ tổ chức các phiên giao dịch 2 phiên/1 tuần và từ tháng 11/2004, giao dịch trên thị trường mở đã được thực hiện định kỳ 3 phiên/tuần. Trong năm 2005, NHNN đã tổ chức được 159 phiên thị trường mở, tăng 36 phiên và 28,5% so với năm 2004. Đến năm 2007, 355 phiên, tăng thêm 293 phiên so với năm trước, về số tương đối đã tăng gấp 2,19 lần. Năm 2008, đi kèm với CSTT thắt chặt, trạng thái vốn khả dụng của hệ thống TCTD luôn được đặt trong trạng thái vô cùng căng thẳng, OMO đã trở thành kênh hỗ trợ vốn tích cực giúp các TCTD thoát khỏi tình trạng mất thanh khoản tạm thời. Có những ngày đặc biệt trong 7 tháng đầu năm 2008, NHNN thường xuyên thực hiện can thiệp 2 phiên/ngày, thậm chí 3 phiên/ngày để đảm bảo thanh khoản của các ngân hàng, nâng tổng số ph iên giao dịch cả năm lên 394 phiên, tăng 39 phiên so với 2007 và những tháng đầu năm 2009 bình quân giao d ịch từ 5-12 phiên một tuần. - Giao dịch nghiệp vụ thị trường mở từ năm 2000 đến nay 3/2009 Bảng 2. Tần suất, khối lượng trúng thầu và phương thức giao dịch OMO Đơn vị: Tỷ Đồng 10 Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 Doanh số trúng thầu Mua Giao Giao số ngay ngay Kỳ hạn quân/phiên Tổng số Năm GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG Bán Kỳ hạn Doanh bình Tần suất giao dịch 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 1.904 480 3.934 60 9.146 0 21.184 0 61.936 0 102.479 0 125.935 0 415.861 0 1.024.179 0 874 3.254 7.246 9.844 60.986 100.67 36.833 59.011 947.20 550 570 1.900 11.340 0 1.100 89.102 356.85 76.972 0 50 0 0 950 700 0 0 0 112 82 108 198 504 649 777 1.171 2.600 7 bình 10 1 1 tuần/2 1 tuần/2 1 tuần/3 1 tuần/3 1 tuần/3 1 tuần/3 1tuần/5-12 phiên 3/2009 52.491 0 52.491 0 Tổng 1.849.049 540 1.278.4 538.38 Nguồn: NHNN (số liệu Đến 31/3/2009). 0 1.700 860 tuần/5-12 Qua số liệu Bảng 2 cho thấy, từ năm 2000 đến 2004, doanh số trúng thầu hàng năm bình quân tăng trưởng gấp khoảng 3 lần so với năm trước. Riêng năm 2005, mặc dù khối lượng trúng thầu tăng mạnh (102.479 tỷ), nhưng tính theo tỉ lệ thì chỉ tăng 165,5%. Năm 2006, tổng doanh số giao dịch 2 chiều mua/bán giấy tờ có giá lên tới khoảng 125.935 tỷ đồng, tăng khoảng 21% so với năm 2005 và tăng 101% so v ới năm 2004. Doanh số g iao d ịch bình quân một phiên khoảng 777 tỷ đồng, tăng 18% so với năm 2005 và 52% so với năm 2004. Năm 2007, doanh số giao dịch 415.861 tỷ đồng, giao dịch mua có kỳ hạn 59.011 tỷ Đồng, giao dịch bán hẳn là 356.850 tỷ đồng. Năm 2008, OMO là công cụ điều hành CSTT chủ yếu nhất và có khối lượng giao dịch chiếm phần lớn trên TTTT. Doanh số giao d ịch đạt 1.024.179 tỷ đồng, tăng 148% so với n ăm 2007, trong đó mua g iấy tờ có g iá chiếm đến 11 Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG 64,67% tổng số phiên giao dịch với doanh số trúng thầu chiếm 91,42% và gấp 15 lần so với năm 2007. Tính Đến thời điểm tháng 3/2009, cùng với chính sách kích cầu chung của Chính phủ, NHNN tiếp tục thực hiện CSTT nới lỏng cẩn trọng được thể hiện thông qua OMO bằng các phiên giao dịch mua các giấy tờ có giá để cung ứng thêm 52.491 tỷ Đồng cho các TCTD. - Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở Năm 2000 đến 2003, mức lãi suất này tương đối ổn định. Năm 2004, lãi suất trên OMO tăng nhẹ, xoay quanh mức 3,20%/năm đến 3,50%/năm; các phiên sau đó tăng lên 3,5%-4,0%/năm. Đây là năm mà NHNN thực hiện mua vào là chủ yếu. Năm 2005, lãi suất trúng thầu trên OMO dao động quanh mức 6,0%6,20%/năm tuỳ theo thời hạn còn lại và tuỳ theo loại giấy tờ có giá. Trong năm 2006, lãi suất trong các phiên chào mua dao động trong khoảng từ 6,08,5%/năm. Lãi suất trong các phiên chào bán có xu hướng giảm dần, từ 4,55%/năm từ đầu năm, đến đầu tháng 12/2006 có thời điểm xuống còn 0,80,95%/năm. Sang năm 2007, đứng trước những dấu hiệu gia tăng của tỷ lệ lạm phát, NHNN Đã thực hiện phiên bán hẳn với khối lượng giao dịch lớn. Trên OMO, diễn biến lãi suất đã có sự biến động tăng mạnh so với những năm trước đó. Lãi suất trúng thầu bình quân trong các phiên chào bán là 4,35%/năm. Năm 2008, do thiếu vốn, các TCTD đã tham gia OMO với mức lãi suất đặt thầu rất cao, cá biệt, trong một số phiên giao dịch mua kỳ hạn với thời hạn 07 ngày, lãi suất đăng ký đã lên tới khoảng 40%/năm và lãi suất trúng thầu khoảng 30%/năm. Trước tình hình như vậy, NHNN Đã áp dụng đấu thầu khối lượng, lãi suất thống nhất được sử dụng trong tuần đầu tiên là 15% nhằm tạo định hướng cho thị trường, trong các tuần tiếp theo lãi suất được điều chỉnh giảm xuống 14%, 13%, 10% và 9% cho phù hợp với lãi suất cơ bản do NHNN công bố. b. Nghiệp vụ Đấu thầu trái phiếu Chính phủ (TPCP) 12 Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG + Trong giai đoạn năm từ 1995 Đến 2000: Nghiệp vụ phát hành TPCP qua NHNN đã được hình thành và đi vào ổn định với số lượng phiên giao dịch khoảng 40 phiên một năm, cao nhất là năm 1998 với 46 phiên, khối lượng trúng thầu đạt 4.020,7 tỷ Đồng. Tổng số tiền Kho bạc Nhà nước huy động được để bù đắp thiếu hụt tạm thời cho Ngân sách Nhà nước đạt 15.457,8 tỷ Đồng. + Trong 5 năm từ 2001 đến 2005, nghiệp vụ phát hành TPCP qua NHNN không ngừng phát triển và đạt được kết quả rất khả quan với khối lượng phát hành không ngừng tăng (năm 2002 tăng 215%; năm 2003 tăng 189%… và trong năm 2005 tăng 14% so với năm 2004). Số lượng phiên giao dịch cũng tăng dần và đạt đỉnh vào năm 2005 với 60 phiên. Tính từ năm 2001 đến hết năm 2005, tổng số tiền TPCP huy động qua NHNN là 85.269,4 tỷ đồng và 14.500.000 USD. + Năm 2006, tiếp tục đóng vai trò là một trong các kênh huy động vốn quan trọng cho NSNN, khối lượng tín phiếu kho bạc (TPKB) trúng thầu đạt 22.070 tỷ đồng, bằng 102% khố i lượng trúng thầu của năm 2005, chiếm 66% tổng doanh số huy động vốn thường xuyên cho NSNN, đạt mức cao nhất trong 11 năm qua. Toàn bộ số tín phiếu bán ra năm 2006 có kỳ hạn 364 ngày. Lãi suất trúng thầu TPKB trong năm 2006 biến động tương đối phù hợp với lãi suất thị trường, lãi suất trúng thầu TPKB ít biến động và dao động trong khoảng 6,3- 6,15%/năm + Năm 2007 đạt kết quả thấp hơn nhiều so với năm 2006. Giá trị TPKB trúng thầu của năm 2007 là 10.620 tỷ đồng, chỉ đạt khoảng 54% khối lượng chào thầu và 48% giá trị trúng thầu của năm 2006. Lãi suất trúng thầu TPKB năm 2007 tăng từ 3,35% lên4,8%/năm. + Trong năm 2008, kinh tế thế giới biến động phức tạp và khó lường. Do đầu năm 2008, các TCTD thiếu hụt vốn khả dụng nên trong Quý I và Quý II năm 2008, mặc dù NHNN tổ chức được 03 phiên đầu thầu phát hành TPKB nhưng không có thành viên tham gia. Sang quý III và quý IV, một số TCTD dư thừa vốn khả dụng nên đã tham dự thầu với khối lượng TPKB trúng thầu đạt hơn 20.000 tỷ đồng, tăng hơn 100% so với năm 2007 và bằng 78,23% kế 13 Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG hoạch phát hành TPKB qua NHNN của Bộ Tài chính. Lãi suất trúng thầu đạt mức cao nhất là 15,70% và giảm dần xuống mức 8,38% vào cuối năm 2008. + Quý I năm 2009: Trong 3 tháng đầu năm 2009, chỉ có một phiên đấu thầu TPKB được tổ chức thành công vào ngày 19/01; còn tháng 2, tháng 3 không có phiên đấu thầu nào. Cùng với sự phát triển của thị trường liên ngân hàng, lãi suất trên TTTT liên ngân hàng ngày càng có quan hệ chặt chẽ với lãi suất huy động, cho vay trên thị trường 1 và phản ánh sát thực hơn cung cầu thanh khoản trên thị trường cũng như chuyển tải phần nào tín hiệu về chính sách của NHNN đến thị trường. Những số liệu thống k ê về thị trường đã cho thấy, kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997-1998, lãi suất cho vay, gửi tiền VNĐ bình quân trên TTTT liên ngân hàng Việt Nam tại hầu hết các kỳ hạn đều tương đối ổn định, đặc biệt là giai đoạn 2005 đến cuối năm 2007. Trong khoảng thời gian này, lãi suất bình quân VNĐ trên TTTT liên ngân hàng chỉ ở mức 6- 8%/năm và biên độ dao động hàng ngày chỉ ở mức thấp. Từ Đầu năm 2008 đến khoảng tháng 9/2008, lãi suất bình quân trên thị trường liên ngân hàng ở tất cả các kỳ hạn có sự biến động tăng đột biến và đứng ở mức cao, bình quân gần 18%/năm; cá biệt vào thời Điểm căng thẳng thanh khoản lên Đến Đỉnh Điểm, có TCTD phải chấp nhận giao dịch VNĐ tại kỳ hạn qua đêm với mức lãi suất lên đến 43%/năm. Để đối phó với tình trạng căng thẳng về vốn và ổn định TTTT, NHNN đã đẩy mạnh các giải pháp điều hành chính sách như liên tục điều chỉnh lãi suất và mức dự trữ bắt buộc, điều chỉnh giảm các loại lãi suất, đẩy mạnh hoạt động cung ứng vốn thông qua nghiệp vụ tái cấp vốn, OMO, Swaps ngoại tệ, cho phép thanh toán trước hạn tín phiếu bắt buộc... Do vậy, từ tháng 9/2008 đến những tháng đầu năm 2009, lãi suất các kỳ hạn trên TTTT liên ngân hàng đã giảm mạnh dưới tác động chính sách của NHNN và dần đi vào ổn định. Theo thống kê của NHNN, Đến cuối tháng 6/2009, lãi suất huy động USD tối đa là 1,5%/năm, cho vay là 3%- 5%/năm (giảm 2%- 3%/năm với cùng kỳ năm 2008); lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn của NHNN là 7%/năm. Mặt bằng lãi suất từ tháng 4 đến nay đã trở về thời kỳ ổn dịnh. 14 Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG Lãi suất trúng thầu là 7,49%, thấp hơn lãi suất trúng thầu của năm 2008 (lãi suất trúng thầu năm 2008 từ 8% trở lên, có tháng tới 15,7%). Biểu đồ 2 cho chúng ta thấy rõ hơn vấn đề này. Bảng 3. Số phiên và khối lượng trúng thầu TPCP Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 Tổng số Nguồn: NHNN Số phiên Khối lượng trúng Lãi suất trúng thầu thầu (tỷ Đồng) TPCP (%) 4 16 37 46 45 43 46 50 51 48 60 51 43 27 567 243,6 823,4 2.917,5 4.020,7 3.011,6 4.441,0 3.915,0 8.410,0 15.901,0 19.465,0 21.671,0 58.391,0 10.770,0 7.730,0 161.710,8 4,98 5,52 5,91 5,83 5,76 5,76 3,34 4,80 11,00 2.2. Thị trường tiền tệ liên ngân hàng Năm 1992, NHNN ban hành chỉ thị số 07/CT-NH1 ng ày 07/10/1992, đây là văn bản pháp lý đầu tiên quy định về quan hệ tín dụng giữa các TCTD. Tháng 6/1993, NHNN đứng ra tổ chức TTTT liên ngân hàng tập trung với nghiệp vụ chủ yếu là cho vay, gửi tiền. Tháng 10/1993, NHNN cho phép các TCTD giao d ịch trực tiếp với nhau. Đến năm 1995, NHNN tổ chức thị trường mua bán giấy tờ có giá giữa các TCTD và từ năm 2001 Đến nay, NHNN chủ trương đẩy mạnh việc phát triển TTTT, theo đó, ban hành đồng bộ hơn các văn 15 Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG bản thể chế đối với hoạt động TTTT, từng bước tiến gần hơn tới thông lệ quốc tế. Doanh số giao dịch trên TTTT liên ngân hàng: Từ khi hình thành TTTT Đến nay, doanh số giao dịch trên TTTT Việt Nam nhìn chung có sự tăng trưởng mạnh theo từng năm, đặc biệt là trong khoảng 10 năm trở lại đây. Chỉ tính riêng từ năm 2005 đến nay, doanh số giao dịch cho vay, gửi tiền Đều duy trì ở mức cao, phù hợp với khả năng cung ứng ngân quỹ của các TCTD dư thừa và nhu cầu bù đắp thiếu hụt thanh khoản của các TCTD còn thiếu trên thị trường. Bảng 4 cho thấy, tháng 12/2005 doanh số cho vay trên thị trường liên ngân hàng là 3.114,982 triệu Đồng và 1.097,279 ngàn USD; doanh số tiền gửi VNĐ là 52.016,579 triệu đồng và 5.412,309 ngàn USD. Tuy nhiên, vào thời điểm cuối năm 2007 và đầu năm 2008, trước những dấu hiệu ngày càng nghiêm trọng của khủng hoảng tài chính toàn cầu, giá dầu, giá vàng và các loại nguyên vật liệu tăng ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, lãi suất huy động từ dân cư tăng cao, NHNN đã thực hiện CSTT thắt chặt nhằm đối phó với lạm phát cao khiến cho lượng tiền cung ứng giảm. Sự điều chỉnh liên tục trong CSTT của NHNN (Điều chỉnh tăng lãi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng cường bán GTCG trên OMO, yêu cầu các TCTD thực hiện mua tín phiếu bắt buộc...) đã khiến cho nhu cầu vốn của các TCTD trở nên vô cùng cấp bách. Thời điểm này lãi suất trên TTTT tăng rất cao và vì vậy, doanh số cho vay, gửi tiền trên TTTT cũng có sự gia tăng đột biến, có thời điểm doanh số gửi tiền VNĐ trên TTTT liên ngân hàng đã lên đến gần 300.000 tỷ VNĐ (gần bằng ½ tổng mức đầu tư tín dụng của toàn nền kinh tế). Tại thời điểm 30/6/2008 doanh số cho vay và tiền gửi b ằng VNđ đã tăng lên 8.184,298 và 190.322,905 triệu đồng. Doanh số cho vay và gửi tiền bằng USD là 67.800,000 và 74.515,960 ngàn USD; có thể nói đây là thời kỳ giao dịch có doanh số cao nhất tính từ năm 2005- 2008. Từ quý VI/2008 đến những tháng đầu năm 2009, khó khăn về vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng về cơ bản được khắc phục, vì vậy doanh số giao dịch trên thị trường cũng dần đi vào ổn định. Bảng 4. Doanh số giao dịch trên TTTT liên ngân hàng 16 Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG Đơn vị: triệu VNĐ, ngàn USD Doanh số cho vay Doanh số gửi tiền VNĐ 5.666,996 3.607,946 2.226,001 3.114,982 4.355,734 5.064,782 5.433,203 2.113,922 4.708,105 5.315,113 4.141,573 9.081,304 6.512,323 8.184,298 4.157,700 4.208,455 13.825,80 VNĐ 173.040,654 54.270,735 36.168,561 52.016,579 66.923,788 73.365,203 79.982,433 101.414,707 160.785,478 182.096,691 157.073,562 288.894,953 222.503,712 190.322,905 168.191,372 129.085,297 239.478,368 Thời gian Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng Tháng USD 10,806 126,474 865,113 1.097,279 96,601 59,629 71,862 50,202 75,346 95,652 92,851 332,282 16.542,54 67.800,00 78.700,00 37.100,00 170.213,5 USD 1.122,36 9.581,73 5.873,41 5.412,30 6.227,70 6.985,97 4.244,08 5.802,17 3.938,40 7.014,13 9.748,16 9.064,49 9.831,01 74.515,9 15.429,3 15.061,2 10.520,5 Nguồn: NHNN (số liệu Đến 31/3/2009) Cùng với sự phát triển của thị trường liên ngân hàng, lãi suất trên TTTT liên ngân hàng ngày càng có quan hệ chặt chẽ với lãi suất huy động, cho vay trên thị trường 1 và phản ánh sát thực hơn cung cầu thanh khoản trên thị trường cũng như chuyển tải phần nào tín hiệu về chính sách của NHNN đến thị trường. Những số liệu thống kê về thị trường đã cho thấy, kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997-1998, lãi suất cho vay, gửi tiền VNđ bình quân trên TTTT liên ngân hàng Việt Nam tại hầu hết các kỳ hạn đều tương đối ổn định, đặc biệt là giai đoạn 2005 đến cuối năm 2007. Trong khoảng thời gian này, lãi suất bình quân VNđ trên TTTT liên ngân hàng chỉ ở mức 6- 8%/năm và biên độ dao động hàng ngày chỉ ở mức thấp. Từ đầu năm 2008 đến khoảng tháng 9/2008, lãi suất bình quân trên thị trường liên ngân hàng ở tất cả các kỳ hạn có sự biến động tăng đột biến và 17 Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG đứng ở mức cao, bình quân gần 18%/năm; cá biệt vào thời điểm căng thẳng thanh khoản lên đến đỉnh điểm, có TCTD phải chấp nhận giao dịch VNđ tại kỳ hạn qua đêm với mức lãi suất lên đến 43%/năm. Để đối phó với tình trạng căng thẳng về vốn và ổn định TTTT, NHNN đã đẩy mạnh các giải pháp đ iều hành chính sách như liên tục đ iều chỉnh lãi suất và mức dự trữ bắt buộc, điều chỉnh giảm các loại lãi suất, đẩy mạnh hoạt động cung ứng vốn thông qua nghiệp vụ tái cấp vốn, OMO, Swaps ngoại tệ, cho phép thanh toán trước hạn tín phiếu bắt buộc... Do vậy, từ tháng 9/2008 đến những tháng đầu năm 2009, lãi suất các kỳ hạn trên TTTT liên ngân hàng đã giảm mạnh dưới tác động chính sách của NHNN và dần đi vào ổn định. Theo thống kê của NHNN, đến cuối tháng 6/2009, lãi suất huy động USD tối đa là 1,5%/năm, cho vay là 3%- 5%/năm (giảm 2%- 3%/năm với cùng kỳ năm 2008); lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn của NHNN là 7%/năm. Mặt bằng lãi suất từ tháng 4 đến nay đã trở về thời kỳ ổn định. 18 Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG PHẦN II PHÂN TÍCH VÀ QUY LUẬT VẬN ĐỘNG CỦA CHỈ TIÊU : HỆ SỐ TIỀN NÓNG I - THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG THANH KHOẢN VÀ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG CÁC NHTMVN 1. Khái niệm về thanh khoản và rủi ro thanh khoản: Tính thanh khoản của ngân hàng thương mại được xem như khả năng tức thời (the short-run ability) để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết. Như vậy, rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi ngân hàng không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng với chi phí cao. Nói cách khác, đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán. 2. Nguyên nhân của rủi ro thanh khoản Thanh khoản có vấn đề của một ngân hàng có thể do các nguyên nhân cơ bản sau đây: Một là, ngân hàng vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn từ các cá nhân và định chế tài chính khác; sau đó chuyển hoá chúng thành những tài sản đầu tư dài hạn. Cho nên, đã xãy ra tình trạng mất cân đối về kỳ hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, mà thường gặp là dòng tiền thu về từ tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng tiền chi ra để trả các khoản tiền gửi đến hạn. Hai là, sự thay đổi của lãi suất có thể tác động đến cả người gửi tiền và người vay vốn. Khi lãi suất giảm, một số người gửi tiền rút vốn khỏi ngân hàng để đầu tư vào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn; còn những người đi vay tích cực tiếp cận các khoản tín dụng vì lãi suất đã thấp hơn trước. Như vậy, rốt cuộc lãi suất thay đổi sẽ ảnh hưởng trạng thái thanh khoản của ngân 19 Nhóm SV-Lớp TCNH VB2 GVHD: NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG hàng. Hơn nữa, những xu hướng của sự thay đổi lãi suất còn ảnh hưởng đến giá trị thị trường của các tài sản mà ngân hàng có thể đem bán để tăng thêm nguồn cung thanh khoản và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí vay mượn trên thị trường tiền tệ. Ba là, do ngân hàng có chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản không phù hợp và kém hiệu quả như: các chứng khoán đang sở hữu có tính thanh khoản thấp, dự trữ của ngân hàng không đủ cho nhu cầu chi trả... 3. Dự trữ thanh khoản - Dự trữ sơ cấp: là các dự trữ tài sản dưới dạng ngân quỹ nhằm đáp ứng các nhu cầu thường nhật của một ngân hàng thương mại . Ngân quỹ gồm : +Tiền mặt trong kho quỹ ngân hàng +Tiền gửi tại NHTW và tại các ngân hàng khác +Các khoản tiền đang chuyển Nhu cầu thường nhật của một ngân hàng: +Tiền cho các nhu cầu giao dịch của khách hàng (nhu cầu chi trả tiền gửi và giải ngân cho các khoản tín dụng) +Nhu cầu dự trữ bắt buộc +Nhu cầu thanh toán bù trừ +Nhu cầu mua, thanh toán tiền dịch vụ từ các ngân hàng khác - Dự trữ thứ cấp: không phải nằm dưới dạng ngân quỹ nhưng chúng thường là những tài sản có tính linh hoạt cao, có thể nhanh chóng chuyển đổi thành ngân quỹ với chi phí thấp. Các tài sản thường dùng làm dự trữ thứ cấp: +Trái phiếu chính phủ +Trái phiếu kho bạc +Tín phiếu ngân hàng, … 4. Đo lường rủi ro thanh khoản Cung và cầu thanh khoản -Trạng thái thanh khoản ròng – NLP 20
- Xem thêm -